tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay, số liệu nghiên cứu chủ yếu trong giai đoạn 2000 đến nay. - Pdf 24

Đề tài: Lạm phát ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, đặc biệt là sau khi nước ta gia nhập vào tổ chức
thương mại thế giới WTO, tình hình kinh tế có nhiều điểm khởi sắc, thu lại được nhiều
thành tựu to lớn.
Tuy nhiên, nền kinh tế vĩ mô còn ẩn chứa nhiều bất ổn. Trong những năm gần
đây tình hình lạm phát đang diễn ra và khó kiểm soát, và đề tài lạm phát trở thành đề tài
nóng trên khắp các diễn đàn. Vậy tại sao cần bình luận về lạm phát khi đã có nhiều
người nói về nó. Có ba lý do:
Lý do thứ nhất, cực kỳ quan trọng là ảnh hưởng của lạm phát tới sự ổn định và
công bằng xã hội.
Lý do thứ hai là cần làm sáng tỏ thêm nguyên nhân gây ra lạm phát. Từ những
nguyên nhận gây nên lạm phát làm mất cân bằng xã hội chúng ta có thể tìm hiểu và hiểu
rõ hơn những ảnh hưởng của lạm phát gây ra cho xã hội cho nền kinh tế nước ta.
Cuối cùng, vì đây thực sự là một vấn đề rất cần thiết cho các doanh nghiệp hiện
nay, nắm bắt kịp thời những thông tin về lạm phát giúp doanh nghiệp có thể điều chỉnh
chiến lược kinh doanh của mình phù hợp, hạn chế được những rủi ro về lãi suất, tỷ
giá… Chính vì vậy, em quyết định chọn đề tài này để tìm hiểu, nghiên cứu cho chuyên
đề của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu.
• Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về kinh tế vĩ mô nói chung và lạm
phát nói riêng.
• Phân tích tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay.
• Căn cứ vào cơ sở lý luận và kết quả phân tích, đánh giá thực trạng lạm
phát, đề xuất giải pháp khắc phục
3. Đối tượng nghiên cứu.
Chuyên đề nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn về kinh tế vĩ mô trong đó
có vấn đề lạm phát.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay, số liệu nghiên cứu

gia (còn gọi là chu kỳ kinh tế)
• Nghiên cứu những yếu tố quyết định cho tăng trưởng kinh tế bền vững.
Các chuyên gia kinh tế vĩ mô phát triển các mô hình để giải thích mối quan hệ
giữa các yếu tố như thu nhập quốc gia, sản lượng, tiêu dùng, thất nghiệp, lạm phát, tiết
kiệm, đầu tư, buôn bán đa quốc gia và tài chính đa quốc gia. Các mô hình này và các dự
báo do chúng đưa ra được cả chính phủ lẫn các tập đoàn lớn sử dụng để giúp họ phát
triển và đánh giá các chính sách kinh tế và các chiến lược quản trị.
1.2. Các khái niệm về lạm phát.
1.2.1. Khái niệm.
Lạm phát được đề cập đến rất nhiều trong các công trình nghiêm cứu của các nhà
kinh tế. Mỗi người đều đưa ra khái niệm về lạm phát theo quan điểm, phương hướng
nghiên cứu của mình . Và một định nghĩa về lạm phát do các nhà kinh tế học hiện đại
đưa ra và nó được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường: “Lạm phát là
tình trạng mức giá chung của nền kinh tế tăng lên liên tục trong thời gian nhất định”.
[*]
1.
[*]
Trích: TS. Nguyễn Minh Tuấn, Ths. Trần Nguyễn Minh Ái, Kinh tế vĩ mô, NXB Lao động
xã hội, 2006, trang 70
1.2.2. Đo lường lạm phát
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Minh Tuấn 3 SVTH: Nguyễn Duy Kiên
Đề tài: Lạm phát ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
Lạm phát được đo bằng chỉ số giá cả :
+ Chỉ số giá cả được sử dụng rộng rãi nhất là chỉ số giá cả hàng tiêu dùng CPI
(Consumer Price Index). CPI tính chi phí của một giỏ hàng tiêu dùng và dịch vụ trên thị
trường. Để tính CPI, ta dựa vào tỷ trọng của phần chi cho từng mặt hàng trong tổng chi
tiêu cho tiêu dùng của thời kì có lạm phát .
+ Một chỉ số nữa thường được sử dụng là chỉ số giá cả sản xuất (PPI: Producer
Price Index), đây là chỉ số giá bán buôn. PPI dùng để tính giá cả trong lần bán đầu tiên
do người sản xuất ấn định

mất giá nhanh chóng, thông tin không còn chính xác, các yếu tố thị trường biến dạng và
hoạt động sản xuất khin doanh lâm vào tình trạng rối loạn, mất phương hướng. Tóm lại,
siêu lạm phát làm cho đời sống và nền kinh tế suy sụp một cách nhanh chóng.Tuy nhiên
siêu lạm phát rất ít xảy ra .
1.2.3.2. Căn cứ vào định tính
- Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng:
* Lạm phát cân bằng: Tăng tương ứng với thu nhập thực tế của người lao
động, tăng phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Do
đó không gây ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của người lao động và dến nền
kinh tế nói chung.
* Lạm phát không cân bằng: Tăng không tương ứng với thu nhập của
người lao động. Trên thực tế loại lạm phát này cũng thường hay xảy ra .
-Lạm phát dự đoán trước được và lạm phát bất thường
* Lạm phát dự đoán trước: là loại lạm phát xảy ra hàng năm trong một
thời kì tương đối dài và tỷ lệ lạm phát ổn định đều đặn. Loại lạm phát này có thể
dự đoán trước được tỷ lệ của nó trong các năm tiếp theo. Về mặt tâm lý, người
dân đã quen với tình trạng lạm phát đó và đã có sự chuẩn bị trước. Do đó không
gây ảnh hưởng đến đời sống, đến kinh tế .
* Lạm phát bất thường: xảy ra đột biến mà có thể từ trước chưa xuất hiện.
Loại lạm phát này ảnh hưởng đến tâm lý, đời sống người dân vì họ chưa kịp
thích nghi. Từ đó mà loại lạm phát này sẽ gây ra biến động đối với nền kinh tế và
niềm tin của nhân dân vào chính quyền có phần giảm sút.
Trong thực tế lịch sử của lạm phát cho thấy lạm phát ở nước ta đang phát triển
thường diễn ra trong thời gian dài, vì vậy hậu quả của nó phức tạp và trầm trọng hơn.
Và các nhà kinh tế đã chia lạm phát thành 3 loại với tỷ lệ khác nhau: lạm phát kinh niên
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Minh Tuấn 5 SVTH: Nguyễn Duy Kiên
Đề tài: Lạm phát ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát dưới 50% một năm, lạm phát nghiêm trọng thường
kéo dài hơn 3 năm với tỷ lệ lạm phát trên 50% và siêu lạm phát kéo dài trên một năm
với tỷ lệ lạm phát trên 200% một năm .

người gửi tiền vào ngân hàng giảm đi rất nhiều do giá trị đồng tiền bị giảm xuống. Về
phía hệ thống ngân hàng, do lượng tiền gửi vào ngân hàng giảm mạnh nên không đáp
ứng được nhu cầu của người đi vay, cộng với việc sụt giá quá nhanh của đồng tiền, sự
điều chỉnh lãi suất tiền gưỉ không làm an tâm những cá nhân, doanh nghiệp hiện đang có
lượng tiền mặt nhàn rỗi trong tay. Như vậy ngân hàng gặp khó khăn trong việc huy
động vốn ,hệ thống ngân hàng phải luôn cố gắng duy trì mức lãi suất ổn định. Mà lãi
suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát, khi tỷ lệ lạm phát tăng cao,muốn lãi
suất thực ổn định thì lãi suất danh nghĩa phải tăng lên cùng với tỷ lệ lạm phát .
Trong khi đó người đi vay là những người có lợi lớn nhờ sự mất giá đồng tiền
nhanh chóng. Do vậy hoạt động của hệ thống Ngân hàng không còn bình thường nữa.
Chức năng kinh doanh tiền tệ bị hạn chế, không còn nguyên vẹn bởi khi có lạm phát thì
chẳng có ai tích trữ tiền mặt dưới hình thức tiền mặt.
1.2.4.4. Tác động đến cán cân ngân sách – chính sách tài chính của
nhà nước
Lạm phát gây ra sự biến động lớn trong giá cả và sản lượng hàng hoá, khi lạm
phát xảy ra thì những thông tin trong xã hội bị phá huỷ do biến động của giá cả và làm
cho thị trường bị rối loạn. Khi đó người ta khó phân biệt được những doanh nghiệp làm
ăn tốt và kém. Đồng thời làm cho nhà nước thiếu vốn, các khoản thu cho ngân sách nhà
nước không tăng. Do đó, nhà nước không còn đủ sức cung cấp tiền cho các khoản dành
cho phúc lợi xã hội, các nghành, các lĩnh vực dự định được chính phủ đầu tư hỗ trợ vốn
bị thu hẹp lại hoặc không có gì. Một khi ngân sách nhà nước bị thâm hụt thì các mục
tiêu cải thiện và nâng cao đời sống kinh tế xã hội sẽ không có điều kiện để thực hiện.
1.2.5. Nguyên nhân gây ra lạm phát
1.2.5.1. Lạm phát do cầu kéo
Đây chính là sự mất cân đối trong quan hệ cung – cầu. Nguyên nhân chính là do
tổng cầu tăng quá nhanh trong khi tổng cung không tăng hoặc tăng không kịp.
Việc tăng cung ứng tiền tệ là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc tăng cầu về hàng
hoá và dịch vụ. Nhưng đây không phải là nguyên nhân duy nhất làm tăng cầu. Áp lực
lạm phát sẽ tăng sau từ 1 đến 3 năm, nếu cầu về hàng hoá vượt quá mức cung, song sản
xuất vẫn không được mở rộng hoặc do sử dung máy móc với công suất giới hạn hoặc vì

thể chuyển việc tăng chi phí này cho người tiêu dùng thì giá bán sẽ tăng lên ,công nhân
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Minh Tuấn 8 SVTH: Nguyễn Duy Kiên
AS
3
AS
2
3
2'
AS
1
AD
3
AD
2
AD
1
Y
(Tổng sản phẩm)
Y
t
Y
n
1'
1
P
P
3
P
2
P

cung ứng trong lưu thông. Đây được gọi là biện pháp thắt chặt lượng cung tiền tệ hay
còn gọi là đóng bảng tiền tệ. Cụ thể là Ngân hàng trung ương ngừng thực hiện các
nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu đối với các tổ chức tín dụng ,dừng việc mua vào
các chứng khoán ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, không phát hành tiền đề bù đắp bội chi
ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, đểlàm giảm lượng tiền cung ứng thì ngân hàng trung
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Minh Tuấn 9 SVTH: Nguyễn Duy Kiên
Đề tài: Lạm phát ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
ương sẽ bán các chứng khoán ngắn hạn, bán ngoại tệ, phát hành các công cụ nợ của
chính phủ để vay tiền trong nền kinh tế.Và ngân hàng cũng có thể ấn định mức lãi xuất
cao, từ đó sẽ khuyến khích người dân gửi tiền vào ngân hàng, doanh nghiệp gửi tiền
không kì hạn, dẫn đến lượng tiền trong lưu thông giảm.
Tiếp đến, để khắc phục lạm phát chính phủ có thể sử dụng biện pháp thắt chặt
chi tiêu của mình như giảm cầu tiêu dùng của chính phủ, làm giảm sự tăng nhanh của
tổng cầu. Nhà nước cũng có thể hạn chế tăng tiền lương làm giảm lượng cầu chi tiêu
của dân cư.Ngoài ra chính phủ có thể đi vay và xin viện trợ từ nước ngoài… Một biện
pháp nữa được áp dụng là cải cách tiền tệ khi tỷ lệ lạm phát tăng quá cao trong khi các
biện pháp nêu trên chưa đạt được hiệu quả.
- Cùng với những biện pháp tình thế, các nước còn sử dụng các biện pháp chiến
lược nhằm tác động đến sự phát triển lâu dài của nền kinh tế và làm cho cơ số tiền tệ ổn
định bền vững. Đó là các biện pháp:
Đẩy mạnh quá trình sản xuất hàng hoá, mở rộng lưu thông hàng hoá. Hàng hoá
trong nước ngày càng nhiều, quỹ hang tăng lên với số lượng, chủng loại đa dạng phong
phú. Ngoài ra chính phủ còn nhập hàng hoá về để bổ xung cho hàng hoá thiếu hụt trong
nước. Xuất kho dự trữ vàng và ngoại tệ để bán cho dân chúng , phát triển các ngành sản
xuất hàng hoá xuất khẩu và ngành du lịch .
Các doanh nghiệp thực hiện chiến lược cạnh tranh hoàn hảo: Sản phẩm để người
tiêu dùng chấp nhận được là yếu tố quan trọng. Như vậy cần phải cạnh tranh giá cả bằng
việc tìm mọi cách giảm chi phí .
Biện pháp chiến lược khác là kiện toàn bộ máy hành chính ,cắt giảm biên chế
quản lý hành chính. Điều này sẽ làm giảm mức chi tiêu thường xuyên của Ngân sách

với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới lại cao hơn khá nhiều.
Năm 2010, chính phủ đặt mục tiêu kiểm soát CPI cuối kỳ khoảng 7%. Mục tiêu
này có thể không được hoàn thành khi 2 tháng đầu năm CPI đã tăng 3.35%. Ngoài ra,
nền kinh tế hiện nay vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố có thể dẫn đến lạm phát cao trong
những tháng sắp tới.
Biểu đồ 2.2. CPI cuối kỳ và trung bình giai đoạn 1992 - 2010
Biểu đồ 2.3. Lạm phát các quốc gia trên thế giới (xem thêm phụ lục)
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Minh Tuấn 12 SVTH: Nguyễn Duy Kiên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status