Bộ môn: Chuyển giao công nghệ
Giảng viên: Đinh Hoàng Minh
Nhóm SV thực hiện: nhóm 7LUV _ Anh 3_CĐ_K2
Thành viên nhóm:
1. Trương Hồng Quân
2. Lê Văn Lộc
3. Nguyễn Thu Hằng (1988)
4. Lưu Hồng Phượng
5. Lê Đình Trọng
6. Nguyễn Vũ Việt Anh
7. Nguyễn Thị Ngọc Huyền
8. Hoàng Thị Ngọc
Đề tài : Tìm hiểu công nghệ sản xuất rau sạch ở Việt Nam
I. Mở đầu
Chúng ta ai cũng fải ăn rau, ông cha ta đã có câu : “Cơm không rau
như đau không thuốc”. Do đó, người Việt hay người nước ngoài luôn cần
được đáp ứng nguồn thực phẩm không thể thiếu này. Ngày nay, khi xã hội
ngày càng phát triển, đại đa số người ta không còn nghĩ đến việc có đủ rau
để ăn hay không mà mối quan tâm hàng đầu đó là rau có sạch hay không,
có đảm bảo vệ sinh hay không, có an toàn và bổ dưỡng đến sức khỏe của
mình hay không. Ngoài ra, còn một số yếu tố khi người ta chọn rau để ăn
là có hấp dẫn, có tính thẩm mỹ hay không khi ăn rau được chế biến ở tiệm.
Tuy nhiên vấn đề chúng ta đặt ra ở đây đó chính là rau chưa qua chế biến,
rau được trồng, mà đặc biệt chúng tôi tìm hiểu ở đây là công nghệ làm ra
rau đảm bảo an toàn hay còn gọi là rau sạch ở Việt Nam. Nen CN cua dat
nuoc dang ngay cang phat trien keo theo o nhiem moi truong, ngo doc thuc
pham dien ra ngay cang tang, doi hoi phai co nhung bua an an toan. Chúng
ta ăn để sống và như các cụ đã nói : “Có sức khỏe là có tất cả”, Việt Nam
đã nhận rất nhiều từ các bên chuyển giao công nghệ để có thể sản xuất ra
nhiều loại giống rau sạch nhằm đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, và hiện
nay việc chuyển giao công nghệ sản xuất rau sạch không những có giá trị
khác.
4. Dư lượng các kim loại nặng (chì, thủy ngân, asêníc, kẽm, đồng...) ->
Gây ung thư và một số bệnh khó chữa trị khác.
Hai tiêu chuẩn thứ 3 và thứ 4 là tác nhân chính dẫn đến bệnh ung thư, nó
không gây tác hại tức thời mà tích luỹ nhiễm độc theo thời gian. Nhưng khi
đã phát hiện được thì khó chữa trị.
Hai tiêu chuẩn 1 và 2, ta thường hay gặp do việc sử dụng thuốc trừ sâu,
thuốc bệnh không hợp lý, hoặc do sử dụng phân người, phân gia súc tươi
để bón cho rau
Các Nguyên tắc sản xuất rau sạch theo tiêu chuẩn GAP
Chọn đất: Đất để trồng rau phải là đất cao, thoát nước tốt, thích hợp
với quá trình sinh trưởng, phát triển của rau. Tốt nhất là chọn đất cát
pha, đất thịt nhẹ hoặc đất thịt trung bình có tầng canh tác dày 20-
30cm. Vùng trồng rau phải cách ly với khu vực có chất thải công
nghiệp nặng và bệnh viện ít nhất 2km, với chất thải sinh hoạt của
thành phố ít nhất 200m. Đất có thể chứa một lượng nhỏ kim loại
nhưng không được tồn dư hoá chất độc hại.
Nước tưới: Vì trong rau xanh nước chứa trên 90% nên việc tưới nước
có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. Nếu có điều kiện
nên sử dụng nước giếng khoan, nhất là đối với các vùng trồng rau xà
lách và các loại rau gia vị. Nếu không có nước giếng cần dùng nước
sông, ao, hồ không bị ô nhiễm. Nước sạch còn dùng để pha các loại
phân bón lá, thuốc BVTV.... Đối với các loại rau ăn quả giai đoạn
đầu có thể sử dụng nước từ mương, sông, hồ để tưới rãnh.
Giống: Chỉ gieo những hạt giống tốt và trồng cây con khoẻ mạnh,
không có mầm bệnh. Phải biết rõ lý lịch nơi sản xuất hạt giống. Hạt
giống nhập nội phải qua kiểm dịch thực vật. Trước khi gieo trồng hạt
giống phải được xử lý hoá chất hoặc nhiệt. Trước khi trồng cây con
xuống ruộng cần xử lý Sherpa 0,1% để phòng và trừ sâu hại sau này.
Phân bón: Mỗi loại cây có chế độ bón và lượng bón khác nhau.
100% vốn đầu tư nước ngoài trồng và sản xuất rau ở Lâm Đồng,các dự án
ở Đà Nẵng ,Tây Ninh…
Chi phí cho hình thức này là khá lớn nhưng nó giải quyết được vấn đề đó
là chất lượng rau sạch của Việt Nam không đạt các tiêu chuẩn xuất khẩu
sang các nước phát triển.Lượng rau này sản xuất ra chủ yếu để xuất khẩu.
Gián tiếp: bên CGCN không quản lý, bên nhận tự nghiên cứu,
đưa nguồn nhân lựuc ra nước ngoaì học tập và về nước thực
hiện, ví dụ như các cá nhân trong nước có thể nhận công nghệ
va đầu tư sử dụng công nghệ này sản xuất, hoặc một số pháp
nhân sủ dụng công nghệ để sản xuất.Ví dụ như :
"Sản xuất rau an toàn bằng công nghệ cao không dùng đất - do
PGS.TS Hồ Hữu An (Trường ĐH Nông nghiệp I HN) làm chủ
nhiệm, đã được nghiệm thu. "Chỉ với bọt biển, hộp xốp, nước
dung dịch, mùn cưa và trấu - những nguyên liệu rẻ tiền có thể tìm
thấy ở bất cứ đâu - chỉ trong vòng 1 tháng bạn đã có một vườn rau
sạch ;
Trung tâm Năng suất Xanh đã hỗ trợ dự án trong việc chuyển
giao công nghệ sản xuất rau sạch bằng phương pháp canh tác tự
nhiên tại Thôn Hoàng long nằm ở phía bắc huyện Gia lâm, cách
trung tâm Hà nội 15km…
II.1.2. Tình hình áp dụng công nghệ sản xuất rau sạch ở Việt Nam
hiện nay
Nhiều địa phương đã tích cực triển khai các dự án, đề tài phát triển c ông
ngh ệ s ản xu ất rau sạch: Hà Nội có 3.756 ha rau an toàn (RAT) chiếm
44% diện tích trồng rau đáp ứng được 20% nhu cầu tiêu dùng. Diện tích an
toàn ở Vĩnh Phúc là 1.500 ha, ở Hà Tây gần 600 ha, thành phố Hồ Chí
Minh hơn 3.000 ha, Bà Rịa - Vũng Tàu có hàng trăm mô hình trồng thành
công rau an toàn và sẽ phát triển đến 1.000 ha trong những năm sắp đến.
Rau sạch cũng đang phát triển ở Hải Phòng, Thái Nguyên, Quảng Ninh,
Quảng Nam, An Giang... Ðáng mừng là đã có những chủ trương, kế hoạch