Môn: Tài chính quốc tế Gv: TS. Võ Thị Thúy Anh
Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng
Khoa Tài chính-Ngân Hàng
TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TẠI VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN 2008-2012
GVHD: TS.Võ Thị Thúy Anh
SVTH: Nhóm 02-TCQT01
• Nguyễn Thị Ly Na
• Nguyễn Duy Thanh
• Nguyễn Thanh Phương Tuấn
• Nguyễn Thành Khoa
Nhóm 02-TCQT01 Trang 1
Đà Nẵng, tháng 7/ 2012
Môn: Tài chính quốc tế Gv: TS. Võ Thị Thúy Anh
MỤC LỤC
1.1. Tỷ giá hối đoái 6
1.1.1. Khái niệm tỷ giá hối đoái: 6
1.1.2. Phân loại tỷ giá 6
1.2. Chính sách tỷ giá 8
1.2.1. Khái niệm và hệ thống chính sách tỷ giá 8
1.2.2. Các công cụ của Chính sách tỷ giá 8
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến TGHD 10
1.3.1. Sức mua của mỗi đồng tiền trong một cặp tiền tệ 10
1.3.2. Cán cân thanh toán quốc tế 10
1.3.3. Yếu tố tâm lý 11
1.3.4. Vai trò quản lý của Ngân hàng trung ương 11
1.3.5. Năng suất lao động 11
2.1. Tình hình biến động tỷ giá trong năm 2008 12
3. Nguyễn Thanh Phương Tuấn 35K14 Chương 2: Hai quý đầu năm
2012 và Chương 3
4. Nguyễn Thành Khoa 36K18 Chương 2: Năm 2009
Nhóm 02-TCQT01 Trang 3
Môn: Tài chính quốc tế Gv: TS. Võ Thị Thúy Anh
BẢNG CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
CPI Chỉ số giá tiêu dùng
DN Doanh nghiệp
DTBB Dự trữ bắt buộc
ĐTNN Đầu tư nước ngoài
EU Liên minh Châu Âu
FDI Đầu tư nước ngoài trực tiếp
FII Vốn đầu tư gián tiếp
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
PMI Chỉ số Nhà Quản trị Mua hàng
LNH Liên ngân hàng
MSCI Chỉ số đo lường chứng khoán
NK Nhập khẩu
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
TTCK Thị trường chứng khoáng
TGHĐ Tỷ giá hối đoái
USD Đô la Mỹ
XK Xuất khẩu
VND Đồng Việt Nam
Nhóm 02-TCQT01 Trang 4
Môn: Tài chính quốc tế Gv: TS. Võ Thị Thúy Anh
LỜI NÓI ĐẦU
Trong một nền kinh tế mở, thương mại quốc tế trở nên phổ biến, việc thanh toán giữa
các quốc gia với nhau phải sử dụng tiền tệ nước này hay nước khác. Cùng với sự phát triển
tìm kiếm tài liệu nên bài báo cáo không thể tránh được có nhiều thiếu sót. Nhóm chúng em
rất mong nhận được ý kiến đánh giá góp ý của cô để hoàn thiện hơn bài báo cáo này.
Nhóm 02-TCQT01 Trang 5
Môn: Tài chính quốc tế Gv: TS. Võ Thị Thúy Anh
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
1.1. Tỷ giá hối đoái
1.1.1. Khái niệm tỷ giá hối đoái:
Tỷ giá hối đoái là giá chuyển đổi từ một đơn vị tiền tệ nước nay sang thành những đơn
vị tiền tệ nước khác.
Ví dụ: Trên thị trường ngoại tệ Việt nam, giá của 1 USD là 20.828 VND, đây là TGHĐ
giữa USD và VND ( ngày 27/07/2011).
Đồng tiền định giá là VND (term currency)
Đồng tiền yết giá là USD (Commodity currency
1.1.2. Phân loại tỷ giá
1.1.2.1. Theo phương tiện chuyển hối:
• Tỷ giá điện hối (Telegraphic Transfer Rate): là tỷ giá mua bán ngoại tệ cũng như
các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ được chuyển bằng điện. Tỷ giá điện hối là tỷ giá cơ sở
để xác định ra các loại tỷ giá khác.
• Tỷ giá thư hối (Mail Transfer Rate): là tỷ giá mua bán ngoại tệ và các giấy tờ có
giá bằng ngoại tệ được chuyển bằng thư. Tỷ giá thư hối nhỏ hơn tỷ giá điện hối do chi
phí chuyển bằng thư rẻ hơn chuyển bằng điện. Ngoài ra, việc chuyển ngoại hối bằng thư
chậm hơn do đó mà người ta phải tính lãi suất phát sinh trong thời gian đó và được khấu
trừ vào tỷ giá.
1.1.2.2. Theo phương tiện thanh toán quốc tế:
• Tỷ giá séc: là tỷ giá mua bán các loại séc ghi bằng ngoại tệ.
• Tỷ giá hối phiếu là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu ghi bằng ngoại tệ.
1.1.2.3. Theo thời điểm mua bán ngoại tệ:
• Tỷ giá mở cửa (open exchange rate): là tỷ giá áp dụng cho việc mua bán bán các
món ngoại tệ đầu tiên trong ngày làm việc tại các trung tâm hối đoái. Nó có thể là tỷ giá
chào hàng vào đầu giờ giao dịch hay tỷ giá mua bán ngoại hối của phiên giao dịch đầu
diễn biến theo quan hệ cung cầu về ngoại tệ trên thị trường.
1.1.2.8. Theo phương pháp xác định tỷ giá:
• Tỷ giá danh nghĩa (nominal exchange rate): là tỷ giá phổ biến được sử dụng
hằng ngày trong giao dịch trên thị trường ngoại hối.
Nhóm 02-TCQT01 Trang 7
Môn: Tài chính quốc tế Gv: TS. Võ Thị Thúy Anh
• Tỷ giá thực(real exchange rate): bằng tỷ giá danh nghĩa được điều chỉnh bởi thay
đổi trong tương quan sức mua của đồng tiền trong nước và nước ngoài. Tương quan
giữa tỷ giá thực (E
R
) và tỷ giá danh nghĩa (E) được biểu diễn như sau:
E
R
= E x P
*
/P
Trong đó: P
*
: mức giá cả ở nước có đồng tiền yết giá.
P: mức giá cả ở nước có đồng tiền định giá.
1.2. Chính sách tỷ giá.
1.2.1. Khái niệm và hệ thống chính sách tỷ giá
* Khái niệm chính sách tỷ giá hối đoái:
Chính sách tỷ giá là tổng thể các nguyên tắc công cụ biện pháp được dung để tác động
lên cung cầu ngoại tệ trên thị trường của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt
mục tiêu đã định trong chiến lược phát triển của quốc gia đó.
Để quản lý và điều hành tỷ giá NHTW thường sử dụng các chính sách chủ yếu sau:
• Chính sách chiết khấu: khi NHTW nâng cao lãi suất chiết khấu làm lãi suất trên
thị trường tăng, làm các nguồn vốn ngắn hạn trên thị trường quốc tế chạy vào nước
mình để thu lợi tức cao làm dịu sự căng thẳng của cầu vượt cung ngoại hối do đó làm tỷ
Là việc chính phủ quy định với các thể nhân và pháp nhân có nguồn thu ngoại tệ phải bán
một tỷ lệ nhất định trong một thời hạn nhất định cho các tổ chức được phép kinh doanh ngoại
hối.
Biện pháp này được áp dụng trong thời kỳ khan hiếm ngoại tệ giao dịch trên thị trường
ngoại hối.
Mục đích chính của biện pháp này là tăng cung ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho
thị trường, hạn chế hành vi đầu cơ và giảm áp lực phá giá đồng nội tệ.
• Ngoài ra Chính phủ còn sử dụng các Quy định hạn chế đối tượng được mua
ngoại tệ, quy định hạn chế mục đích sử dụng ngoại tệ, quy định hạn chế số lượng người
mua ngoại tệ, quy định hạn chế thời điểm mua ngoại tệ. Tất cả các biện pháp này để
giảm áp lực thiếu hụt ngoại tệ, tránh đầu cơ và giữ cho tỷ giá cố định.
Tuy nhiên các biện pháp này có tính chất hành chính không phù hợp với xu thế tự do hóa
và thương mại hóa nền kinh tế.
1.2.2.2. Các công cụ gián tiếp
• Lãi suất tái chiết khấu là công cụ hiệu quả nhất.
Khái niệm: Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất mà NHNN đánh vào các khoản tiền cho các
NHTM vay để đáp ứng nhu cầu tiền mặt ngắn hạn hoặc bất thường của các ngân hàng này. Lãi
suất tái chiết khâu là một công cụ của chính sách tiền tệ để điều chỉnh lượng cung tiền và nó có
tác động đến TGHĐ
Cơ chế tác động đến tỷ giá hối đoái của nó như sau: Khi lãi suất chiết khấu thay đổi kéo
theo sự thay đổi cùng chiều của lãi suất trên thị trường. Từ đó tác động đến xu hướng dịch
chuyển của dòng vốn quốc tế làm thay đổi tài khoản vốn hoặc ít nhất làm cho người sở hữu vốn
trong nước chuyển đổi đồng vốn của mình sang đồng tiền có lãi suất cao hơn để thu lợi và làm
Nhóm 02-TCQT01 Trang 9
Môn: Tài chính quốc tế Gv: TS. Võ Thị Thúy Anh
thay đổi vốn của mình sang đồng tiền có lãi suất cao hơn để thu lợi và làm thay đổi tỷ giá hối
đoái. Cụ thể lãi suất tăng dẫn đến xu hướng là một dòng vốn vay ngắn hạn trên thị trường thế
giới sẽ đổ vào trong nước và người sở hữu vốn ngoại tệ trong nước sẽ có xu hướng chuyển
đồng ngoại tệ của mình sang nội tệ để thu lãi suất cao hơn do đó tỷ giá sẽ giảm (nội tệ tăng) và
ngược lại muốn tăng tỷ giá sẽ giảm lãi suất tái chiết khấu.
Tình trạng của cán cân thanh toán tác động đến cung cầu về ngoại hối do vậy, tác động
trực tiếp đến TGHĐ.
1.3.3. Yếu tố tâm lý.
Dựa vào sự phán đoán từ các sự kiện kinh tế, chính trị của một nước và tình hình thế
giới, cả chính trị và kin tế có liên quan các nhà kinh doanh ngoại hối bao gồm các ngân hàng
thương mại, các doanh nghiệp và kể cả người đầu cơ tùy theo sự phán đoán đó mà hành
động.
Yếu tố tâm lý ảnh hưởng một cách hết sức nhạy cảm đối với thị trường tài chính, trong
đó có thị trường hối đoái. Tuy nhiên những biến động này bao giờ cũng mang tính chất ngắn
hạn, xác lập một vị thế ngắn hạn.
1.3.4. Vai trò quản lý của Ngân hàng trung ương.
Chế độ tỷ giá mà phần đông các nước vận hành là thả nổi có quản lý do đó vai trò can
thiệp của nhà nước giữ vị trí quan trọng. NHTW tự biến mình thành một bộ phận của thị
trường, quyện chặt với thị trường, lúc với tư cách người mua lúc khác là tư cách người bán,
nhằm tác động về phía cung hay cầu của quỹ ngoại hối thị trường nhằm cho ra một tỷ giá
phù hợp như ý đồ của chính sách tiền tệ. Tuy nhiên điều kiện vật chất để có thể can thiệp là
thực lực về tiềm năng quốc gia biểu hiện bằng quỹ ngoại tệ bình ổn giá, bao gồm ngoại tệ dự
trữ quốc gia.
1.3.5. Năng suất lao động.
Nếu năng suất lao động trong nước có sự gia tăng, khi đó nền kinh tế của một nước phát
triển mạnh, nhu cầu đồng tiền của nước này sẽ gia tăng và giá trị đồng tiền nước này cũng sẽ
mạnh hơn,nghĩa là sẽ làm cho mức giá tương đối có xu hướng sụt giảm làm đồng ngoại tệ có
xu hướng giảm hay đồng nội tệ lên giá làm tỷ giá giảm xuống. Ngược lại, một nền kinh tế yếu
kém sẽ làm suy yếu đồng tiền của một nước.
Nhóm 02-TCQT01 Trang 11
Môn: Tài chính quốc tế Gv: TS. Võ Thị Thúy Anh
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI USD/VND
TẠI VIỆT NAM THỜI KÌ 2008-2012
2.1. Tình hình biến động tỷ giá trong năm 2008
Nền kinh tế thế giới trong năm 2008 đã chứng kiến sự suy thoái sâu rộng trên quy mô
Trong giai đoạn Từ 01/01/2008 đến 25/03/2008 (tỷ giá liên tục giảm dưới mức sàn),
tỷ giá USD/VND trên thị liên ngân hàng giảm mạnh từ 16.112 đồng xuống còn 15.960
đồng. Tỷ giá trên thị trường tự do có lúc rớt xuống thấp hơn tỷ giá liên ngân hàng, dao
động từ mức 15.500-16.000 đồng/USD. Sự sụt giảm này bắt nguồn từ các biện pháp của
Chính phủ trong việc kiềm chế lạm phát.
Bên cạnh các nguyên nhân như lượng kiều hối (5,5 tỷ USD) chuyển về tăng mạnh trong
dịp Tết dương lịch, lượng vốn FDI và vốn FII vào Việt Nam tiếp tục đà tăng mạnh từ năm
2007, các nhà đầu tư dự kiến VND sẽ tăng giá so với USD, cộng thêm chênh lệch lãi suất
lớn giữa USD và VND nên cácn nhà đầu tư đẩy mạnh việc bán USD chuyển qua mua VND
rồi đi gửi tiết kiệm sẽ thu được lợi nhuận cao hơn là gửi tiết kiệm trong nước, VND lên giá
chủ yếu do USD đã mất giá quá mạnh trên thị trường thế giới trong giai đoạn đầu năm 2008.
Trong thời gian này, để giữ cho hệ thống ngân hàng không rơi vào tình trạng mất thanh
khoản, nhưng vẫn theo chủ trương tăng giá VND, kiềm chế lạm phát,Chính phủ đã sử dụng
biện pháp thắt chặt tiền tệ, tăng lãi suất cơ bản từ 8,25%/năm (12/2007) lên 8,75%(2/2008).
NHNN quyết định mở rộng biên độ mua,bán ngoại tệ của NHTM so với tỷ giá giao dịch bình
quân trên thị trường liên ngân hàng từ +/- 0,75% lên mức 1% vào ngày 10/3/2008. Khác với
các lần điều chỉnh tỷ giá khác, tỷ giá USD/VND đã về mức sàn ngay sau khi có quyết định
tăng biên độ của NHNN.
Trong giai đoạn Từ 26/03/2008 đến ngày 16/07/2008 (tăng với tốc độ chóng mặt
tạo cơn sốt USD trên thị trường liên ngân hàng lẫn thị trường tự do)
, tỷ giá diễn biến trái chiều với giai đoạn một với sự mất giá của VND so với USD, tỷ giá
LNH công bố từ 15.960 đ- 15.946 đồng. Tỷ giá USD/VND vẫn tiếp tục tăng khiến lãi suất
USD bước vào cuộc đua mới. Ở các NHTM, giá USD tăng kịch trần, hết biên độ cho
phép,trên thị trường tự do, giá bán dao động xung quanh 17.100-17.500 VND/USD.Tính
toán của tổng cục Thống kê cho thấy, trong tháng 5, giá USD tính theo VND đã tăng mạnh
với 1,02% so với tháng trước đó, đặc biệt trong tháng 6/2008 khi tỷ giá trên thị trường LNH
có lúc lên tới 19.400 đồng và cao hơn 2.600 đồng so với tỷ giá trần quy định. Còn trên thị
Nhóm 02-TCQT01 Trang 13
Môn: Tài chính quốc tế Gv: TS. Võ Thị Thúy Anh
trường tự do cao hơn khoảng 100-150 đồng.
• Tính từ khi cuộc khủng hoảng tài chính thế giới lan rộng (giữa tháng 9/2008) đến
cuối năm, nhà ĐTNN liên tục bán ròng trên thị trường trái phiếu (~ ~26.000 tỷ VND)
và thị trường cổ phiếu (~1800 tỷ VND), một phần số vốn thu được đã được chuyển đổi
sang USD dẫn tới cầu USD cao tại các ngân hàng nước ngoài. Vào cuối giai đoạn này,
biên độ tỷ giá được điều chỉnh vào ngày 7/11/2008 từ +/-2% lên mức +/- 3%.
Nhóm 02-TCQT01 Trang 14
Môn: Tài chính quốc tế Gv: TS. Võ Thị Thúy Anh
Và trong giai đoạn từ 16/10/2008 đến 31/12/2008 (tỷ giá USD tăng trở lại). Sau khi
NHNN tăng biên độ tỷ giá, mặc dù tỷ giá USD/VND LNH công bố vẫn duy trì ở mức
~16.500 đồng, tỷ giá tại các ngân hàng thường xuyên được duy trì ở mức trần ~17.000
đồng. Tỷ giá giao dịch trên thị trường không chính thức ở mức 17.200 đồng -17.450
đồng (NHNN tăng biên độ tỷ giá từ 2% lên 3% trong ngày 7/11/2008). Tỷ giá giao dịch
tạm ổn định ở mức trần, được trợ giúp bởi thâm hụt thương mại được cải thiện, chênh
lệch lãi suất giữa VND và USD giảm, và việc USD có xu hướng đứng giá và giảm nhẹ so
với các ngoại tệ khác sau quyết định cắt giảm lãi suất cơ bản của vào ngày 17/12/2008
từ 1% xuống 0-0,25%.
Trong khoảng thời gian từ tháng 10-tháng 11, nhà đầu tư nước ngoài đẩy manhk
việc bán ra chứng khoán trong đó bán trái phiếu (700 triệu USD), cổ phiếu (100 triệu USD).
Nhu cầu mua ngoại tệ của khối nhà đầu tư nước ngoài tăng cao khi muốn đảm bảo thanh
khoản của tổ chức. Nhu cầu mua USD của các ngân hàng nước ngoài cũng tăng mạnh
(khoảng 40 triệu USD/ngày).
Vào ngày 24/12/2008, Bộ Kế hoạch - Đầu tư công bố GDP cho năm 2008 ở mức
6,23%, thấp hơn rất nhiều so với mức dự tính trước đó là ~ 6,5%. Thông tin thống kê xuất
khẩu tháng 11 giảm 4,8% so với tháng 10 (trong khi cùng kỳ năm trước xuất khẩu tăng 6%).
Trước những thông tin lo ngại trên về tình hình kinh tế và xuất khẩu, cùng ngày 24/12,
NHNN đã công bố việc điều chỉnh tỷ giá USD/VND LNH tăng 3% (hay VND trượt giá 3%)
từ mức 16.494 đồng (24/12/08) lên 16.989 đồng (25/12/2008). Tỷ giá USD/VND của
Vietcombank cũng biến động ngay sau công bố của NHNN lên mức 17.180-17.350 đồng.
Trên thực tế, các ngân hàng dường như đã dự tính trước về khả năng này khi ngay
từ đầu tháng 12/2008, nhiều ngân hàng đã tích cực thu mua ngoại tệ nhưng không cho vay,
đầu năm, đặc biệt sau khi NHNN thực hiện nới rộng biên độ tỷ giá lên +/-5% khiến cho tỷ giá
ngoại tệ liên NH đã có đợt tăng đột biến và giao dịch trên TTTD tiến sát mức 18000đồng/USD.
Trong bối cảnh nguồn ngoại tệ ròng vào VN là + trong 4 tháng đầu năm thì dường như yếu tố
chính khiến cho tỷ giá USD/VNĐ tăng mạnh lại là do sự găm giữ ngoại tệ.
Diễn biến tỷ giá VNĐ/USD năm 2008-2009
Diễn biến tỷ giá Nguyên nhân
Nhóm 02-TCQT01 Trang 16
Môn: Tài chính quốc tế Gv: TS. Võ Thị Thúy Anh
Giai
đoạn 1
(từ 01/01
–
24/11/20
09): tỷ
giá liên
tục tăng.
Tỷ giá biến động mạnh
trên cả thị trường liên ngân
hàng và thị trường tự do.Cụ
thể:
-Từ tháng 1 đến tháng 3:
tỷ giá LNH dao động trong
khoảng 17.450 - 17.700
đồng/USD, cách giá trần
khoảng từ 0 – 200đồng,còn
TTTD cao hơn tỷ giá LNH
khoảng 100 đồng
-Từ tháng 4 đến tháng
9 :tỷ giá trên 2 thị trường
dao động trong khoảng
đoạn 2
(từ 25/11
đến hết
năm
2009)
Tỷ giá bắt đầu giảm về
quanh mức 18.500 đồng
/USD
Nguyên nhân là do NHNN thực hiện các
biện pháp bình ổn tỷ giá, đặc biệt có sự chung
góp sức của các NHTM đã làm giảm tỷ giá
sau 1 giai đoạn đầy biến động.
Càng về cuối năm thì tỷ giá càng biến động và mất giá mạnh, thị trường ngoại hối luôn có
biển hiện căng thẳng, đồng thời USD tín dụng thì thừa, USD thương mại thì thiếu. Các ngân
hàng không có ngoại tệ để bán cho các doanh nghiệp và nếu có bán thì mức tỷ giá cũng cao
Nhóm 02-TCQT01 Trang 17
Môn: Tài chính quốc tế Gv: TS. Võ Thị Thúy Anh
hơn mức giá trần do NHNN quy định. Những bất ổn trên thị trường ngoại hối và tỷ giá hối đoái
đã tiếp tục gây ra những khó khăn cho hoạt động xuất nhập khẩu. Hơn nữa đồng tiên mất giá
còn ảnh hưởng đến lạm phát trong nước do giá hàng nhập khẩu tăng mạnh.
Xu hướng chung của năm 2009 là sự mất giá danh nghĩa của VND so với USD. Cho đến
cuối năm 2009, tỷ giá chính thức VND/USD đã tăng 5,6% so với cuối năm 2008. Trong khi
trong năm 2008, tỷ giá niêm yết tại các NHTM biến động liên tục, đầu năm còn có giai đoạn
thấp hơn tỷ giá chính thức, thì năm 2009 lại là một năm mà tỷ giá NHTM luôn ở mức trần của
biên độ giao động mà NHNN công bố.
Tình hình thị trường ngoại hối trong năm 2009 có thể đã trầm trọng hơn nếu không có: sự
sụt giảm nhu cầu ngoại tệ do thu nhập từ đầu tư do các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài
chuyển ra khỏi Việt Nam giảm (trong năm 2009 ước đạt -3 tỷ USD, so với -4,4 tỷ USD năm
2008) và sự gia tăng cung ngoại tệ do lượng kiều hối vẫn đứng vững ở con số khá tích cực hơn
6 tỷ USD. FDI giải ngân ước đạt 10 tỷ USD. Đầu tư gián tiếp nước ngoài chảy ra khỏi Việt
nay các NHTM bắt đầu tự cân đối được cung cầu ngoại tệ và thậm chí bán ngoại tệ cho NHNN
(từ đầu tháng 4 đến giữa tháng 5, NHNN đã mua được từ các TCTD hơn 1 tỷ USD bổ sung vào
nguồn dự trữ). Tính thanh khoản của thị trường được cải thiện rõ rệt, nhu cầu mua ngoại tệ
được đáp ứng đầy đủ. Do đó mà giá USD trên thị trường tự do liên tục giảm. Lượng cung USD
tăng mạnh do các chính sách và biện pháp hành chính liên quan đến quản lý thị trường ngoại
hối NHNN trong quý I (như kết hối ngoại tệ, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại
tệ, mở rộng đối tượng được vay ngoại tệ,…). Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng khá hiếm
hoi này này bắt nguồn từ tăng trưởng tín dụng ngoại tệ đầu năm rất cao, 7 tháng tăng hơn 30%.
Điều này dẫn đến sự ổn định tạm thời của tỷ giá với lượng “cung ảo” khá dồi dào. Tuy nhiên,
khi các khoản vay này đến hạn, tình trạng đảo ngược chiều cuối năm đã xảy ra.
Sau một thời gian ổn định trong suốt 7 tháng đầu năm, tỷ giá có dấu hiệu tăng trở lại.
NHNN bất ngờ có quyết định nâng tỷ giá giữa USD/VND thêm 2,1%, từ 18.544 lên 18.932, với
biên độ được giữ nguyên ở mức
±
3%, áp dụng từ ngày 18/08/2010.
Sau lần tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng lần thứ 2 vào ngày 18/08, tỷ giá trên thị
trường tự do tăng lên mức 19.400-19.500 VND/USD; tỷ giá giao dịch của các ngân hàng
thương mại cũng tiếp tục tăng lên sát mức kịch trần khoảng 19.450-19.500 VND/USD. Mốc
này được giữ tương đối ổn định đến cuối quý III.
Việc điều chỉnh này của NHNN là khá bất ngờ. Mục đích chủ yếu là nhằm giải quyết sự
mất cân đối cung cầu ngoại tệ tại thời điểm quý III trên thị trường ngoại hối, điều này dẫn đến
sự tăng giá mạnh của USD trên thị trường tự do trong tháng 7 và 8; khơi thông ngồn cung
ngoại tệ tại hệ thống ngân hàng, từ đó góp phần giảm căng thẳng trên thị trường ngoại hối,
tránh áp lực cho nguồn dự trữ ngoại hối hiện đang khá mỏng.
Đến cuối quý III, đầu quý IV tỷ giá USD tự do có xu hướng phá trần 19.500VND/USD,
tăng mạnh và liên tục lên mức 20.000 VND/USD vào cuối tháng 10. Tuy nhiên, quá trình đi lên
của tỷ giá USD tự do vẫn chưa dừng lại ở đây, tháng 11 đánh dấu sự tăng đột biến của tỷ giá,
tăng vọt từ mức 20.000 VND/USD lên tới trên 21.000 VND/USD. Sang tháng 12 mặc dù tỷ giá
có dấu hiệu hạ nhiệt nhưng vấn duy trì ở mức trên 21.000 VND.USD đến cuối năm 2010. Lý
giải cho sự tăng lên đột biến của tỷ giá trong giai đoạn 2 và 3, có thể liệt kê ra 3 nguyên nhân
sốc giá vàng thế giới rồi từ đó tạo lập 1 vòng xoáy giá vàng – tỷ giá đẩy giá của cả 2 mặt
hàng này lên rất cao.
• Thứ ba, nguyên nhân này cũng rất quan trọng, đó là yếu tố tâm lý lo sợ mất giá
đồng nội tệ của người dân và doanh nghiệp. Hai đợt điều chỉnh tỷ giá bình quân liên
ngân hàng trước đó khiến nảy sinh kỳ vọng sẽ tiếp tục có những đợt phá giá nữa trong
tương lai, cộng với lạm phát tăng cao vào những tháng cuối năm (lạm phát từ tháng 9
đến tháng 12 luôn ở mức cao trên 1%) đã khiến người dân và doanh nghiệp giảm sự tin
tưởng vào giá trị đồng nội tệ, tâm lý gom giữ đô la Mỹ do đó càng tăng mạnh và
khuyếch đại mức độ căng thẳng của tỷ giá trong giai đoạn này.
Kết luận:
Như vậy sự biến động mạnh với nhiều trạng thái khác nhau của USD trong năm 2010 đã
gây nên bất ổn cho nền kinh tế đồng thời khiến cho mất cân đối vĩ mô như tình trạng nhập siêu,
lạm phát… ngày càng trở nên trầm trọng và khó kiểm soát hơn. Cụ thể lạm phát không thể đạt
mục tiểu khi lên tới 2 con số, còn thâm hụt thương mại trong tháng 11 (nếu loại bỏ xuất khẩu
vàng ước tính khoảng 2,8 tỷ USD) cũng lên tới 13,6 tỷ (tương đương với 21,2% tổng kim
ngạch nhập khẩu) vượt mục tiêu 13,5 tỷ USD nhập siêu cho cả năm 2010.
Nhóm 02-TCQT01 Trang 21
Môn: Tài chính quốc tế Gv: TS. Võ Thị Thúy Anh
NH khá chủ động trong việc điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng nhằm ứng phó với
sự biến động của tỷ giá USD. Cả 2 lần điều chỉnh tỷ giá đều là lúc thị trường ngoại hối tự do
không quá căng thẳng, chênh lệch tỷ giá tự do và chính thức chỉ khoảng 300. tuy nhiên NHNN
khá nhỏ giọt khi mỗi lần chỉ điều chỉnh từ 2%-3%. Gây e ngại cho các nhà đảu tư và doanh
nghiệp, tạo tâm lý “trông chờ” khiến cho sự mất cân đối trên thị trường ngoại tệ càng khó giải
quyết.
2.4. Tình hình biến động tỷ giá năm 2011
Vào những tháng cuối năm 2010 thị trường ngoại hối xuất hiện những dấu hiệu mất cân
đối làm căng cứng tỷ giá do đó mà việc điều chỉnh tỷ giá đã được đề xuất để giải quyết
những vấn đề trên
Ngày 11/2/2011, NHNN đã có quyết định số 230/QĐ-NHNN, theo đó nâng tỷ giá LNH từ
18.932 VND/USD lên 20.693 VND/USD (tăng 9,3% so với mức 18.932 VND/USD trước
lực tăng tỷ giá. Vào thời điểm này năm ngoái, tỷ giá USD/ VND bước vào giai đoạn bắt đầu
căng thẳng, mà một trong những áp lực chính là từ tín dụng ngoại tệ tăng mạnh trước đó.
Một số báo cáo phân tích của các tổ chức trong và ngoài nước đều nhấn mạnh ở áp lực cầu
ngoại tệ để trả nợ cuối năm. Bên cạnh đó, tỷ giá liên tiếp tăng trong những ngày qua phản
ánh một thực tế cầu ngoại tệ đang cao có thể còn có tác động từ hoạt động bán vàng bình ổn
của nhóm G5+1 (các tổ chức được mở tài khoản vàng với đối tác nước ngoài) với khối lượng
lớn những ngày qua, làm cho nhu cầu mua ngoại tệ để đối ứng với số lượng vàng đã thực
hiện.
Trong khoảng thời gian từ tháng 11 tới cuối năm 2011, Tỷ giá bình quân liên ngân hàng
USD/VND tăng thêm 0,05% vào ngày 14/12, tuy nhiên mức tăng này cũng không phải là lớn
và vẫn nằm trong phạm vi cam kết của Thống đốc NHNN. Như vậy, tính đến 14/12, tỷ giá
bình quân liên ngân hàng đã tăng tổng cộng 0,9% tính từ ngày 7/9/2011.
Tuy nhiên những diễn biến về tỷ giá trong thời gian vừa qua cũng cho thấy các biện pháp
kiểm soát và điều hành của NHNN đã có những kết quả bước đầu. Sự can thiệp thị trường
vàng hai tháng trở lại đây cũng đã loại trừ giải pháp quen thuộc là chỉ cho
nhập vàng để bình ổn. Sau khi bán ra khoảng 1,5 - 1,8 tỷ USD hỗ trợ thị trường từ giữa
Nhóm 02-TCQT01 Trang 23
Môn: Tài chính quốc tế Gv: TS. Võ Thị Thúy Anh
tháng 8, chủ yếu cho nhập khẩu vàng, từ tháng 10 trở lại đây NHNN không còn phải dùng
đến giải pháp này và giá vàng vì thế ít nhiều cũng đã được kiểm soát và kéo theo đó, tỷ giá
USD/VND cũng đỡ căng thẳng hơn trước.
Diễn biến tỷ giá trong năm 2011 có một số đặc điểm đáng lưu ý.
• Một là: trong 12 tháng của năm 2011, có 5 tháng tỷ giá giảm, 7 tháng tăng.
Chính sự điều hành theo phương thức “giật cục” trước đó đã làm cho tỷ giá USD tăng
cao đột biến vào tháng 2, tháng 3 và kéo theo sự giảm xuống liên tục trong 4 tháng sau
đó, tăng thấp trong tháng 8; tháng 9 tăng cao cũng có một phần do các nhà đầu tư “đón
lõng” việc điều chỉnh tỷ giá vào cuối tháng 8, nhưng đã không xảy ra. Tuy nhiên, nếu
điều hành theo phương thức “trườn bò”, nhưng “trườn bò” nhanh, thì cũng làm cho tỷ
giá tăng cao trong tháng 11, để rồi lại tăng không đáng kể trong tháng 12/2011
• Hai là: tính chung lại, năm 2011, chỉ số đô la mỹ đã tăng 2,24%, thấp hơn nhiều
kết của NHNN thì doanh nghiệp có thể mạo hiểm trong một vài giao dịch nhưng cuối cùng
vẫn là hưởng lợi trên sự biến động nhỏ của tỷ giá.
Vào những ngày đầu năm, đặc biệt những ngày giáp Tết, thị trường ngoại hối không có
nhiều biến động, một sự khác thường so với thời điểm này năm trước. Tỷ giá trên thị trường
tự do sát với tỷ giá chính thức. Đây là tín hiệu tích cực mở đầu năm mới 2012.Từ giữa tháng
1-2012, tình hình mua bán đô la tại ngân hàng cũng như trên thị trường tự do có sự chững lại
rõ rệt. Điển hình ngày 18-1, giá USD bán ra tại các ngân hàng thương mại (NHTM) bất ngờ
giảm xuống 21.000 đồng/USD, giảm từ 106-116 đồng/USD so với mức giá của một ngày
trước đó. Giá đô la trên thị trường tự do của ngày này cũng ở mức dưới 21.000 đồng/USD.
Đáng chú ý, cùng ngày, Sở Giao dịch NHNN đã tăng mạnh mua vào USD với mức giá lên
tới 20.850 VND, tăng đến 230 VND so với nhiều ngày trước. Trước tình hình này, có thông
tin cho rằng Nhà nước đang tăng mua vào ngoại tệ để dự trữ. Hai ngày tiếp theo là 19 và 20-
Nhóm 02-TCQT01 Trang 25