đề tài tình hình biến động tỷ giá hối đoái vnd usd giai đoạn 2008 - 2011 và ảnh hưởng của biến động này đến các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu việt nam - Pdf 13

LỜI NÓI ĐẦU
Tỷ giá hối đoái có vai trò quan trọng gắn liền với nền kinh tế của các nước trên thế giới
và các quan hệ kinh tế quốc tế. Cũng giống như vai trò của giá cả trong nền kinh tế thị
trường, tỷ giá hối đoái có tác động quan trọng tới những biến đối của nền kinh tế thế giới nói
chung và nền kinh tế của mỗi quốc gia nói riêng. Nó có thế thay đối vị thế và lợi ích của các
nước trong quan hệ kinh tế quốc tế. Tỷ giá hối đoái tác động đến sự thăng bằng trong cán cân
thanh toán của một quốc gia, sự biến động của tỷ giá hối đoái có thề kích thích hoặc hạn chế
xuất nhập khẩu. Và các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu sẽ là người chịu ảnh hưởng
trực tiếp từ những thay đối này. Đe rõ hơn về ảnh hưởng của sự biến động tỷ giá đến hoạt
động xuất nhập khẩu thì chúng ta sẽ đi sâu vào tìm hiểu “Tình hình biến động tỷ giá hối đoái
VND/USD giai đoạn 2008-2011 và ảnh hưởng của biến động này đến các doanh nghiệp kinh
doanh xuất nhập khẩu Việt Nam”. Qua đó ta có thể thấy được những biến động tỷ giá trong
thời gian qua và chính sách của nhà nước và những thuận lợi, khó khăn của các doanh nghiệp
khi tỷ giá tăng, giảm.
I.TỒNG QUAN VỀ TỶ GIÁ VÀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU
1. Tổng quan về tỷ giá:
1.1.Khái niệm:
Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đồng tiền này được biểu thị thông qua một đồng tiền
khác. Nói cách khác, tỷ giá là số đơn vị đồng tiền định giá trên một đồng tiền yết giá. Tại
Việt Nam sử dụng phương pháp yết giá trục tiếp, nghĩa là dồng ngoại tệ đóng vai trò là dồng
tiền yết giá(số đơn vị =1), còn đồng nội tệ đóng vai trò là đồng tiền định giá.
1.2.Các loại tỷ giá: có rất nhiều loại tỷ giá khác nhau tùy thuộc vào tùng tiêu thức
phân loại khác nhau;
a. Căn cứ vào chế độ quản lý ngoại hối, tỷ giá hối đoái bao gồm:
- Tỷ giá chính thức: là tỷ giá do NHTW của mỗi nước công bố. Tỷ giá hối đoái này
được công bố hàng ngày vào đầu giờ làm việc của NHTW. Dựa vào tỷ giá này các
NHTM và các TCTD sẽ ấn định tỳ giá mua bán ngoại tệ giao ngay, có kỳ hạn, hoán
đổi.
-Tỷ giá kinh doanh (bao gồm tỷ giá mua, tỷ giá bán): là tỷ giá dung để kinh doanh mua bán
do các NHTM haycác TCTD đưa ra. Cơ sở xác định tỷ giá này là tỷ giá chính thức do
NHTW công bố xem xét đến các yếu tố liên quan trực tiếp đến kinh doanh như: quan hệ

hàng.
- Tỳ giá tiền mặt: là tỷ giá mua bán ngoại hối được thanh toán bằng tiền mặt.
1. 3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá :
a. Tình hình cán cân thanh toán quốc tế: cán cân thanh toán quốc tế của một quốc gia có
thể rơi vào một trong ba trạng thái sau: cân bằng, thâm hụt hay thặng dư, ảnh hưởng
trực tiếp đến tỷ giá, Vì vậy, nếu cán cân thanh toán quốc tế dương thì tỷ giá hối đoái
có chiều hướng giảm hoặc giữ vững. Ngược lại nếu cán cân thanh toán quốc tế âm thì
tỷ giá hối đoái có xu hướng tăng.
b. Mức độ tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế:
Mức độ tăng, giảm của GDP thực tế của một nước so với nước khác, trong điều kiện các
nhân tố khác không đối, sẽ làm tăng hoặc giảm nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ nhập khấu, do
đó sẽ làm cho nhu cầu ngoại hối để thanh toán hàng nhập khấu sẽ tăng lên hay giảm xuống từ
đó tác động đến cung cầu ngoại tệ và làm cho tý gia hối đoái giảm đi hoặc tăng lên.
c. Sự chênh lệch lạm phát của đồng tiền quốc gia:
Khi tỳ lệ lạm phát của một quốc gia tăng lên hay giảm xuống sẽ làm giá trị của đồng tiền
nước đó thay đối dẫn đến tỷ giá hối đoái của đồng tiền nước đó so với nước ngoài bị biến
động. Neu mức lạm phát của nước này cao hơn mức lạm phát của nước khác thì sức mua của
nội tệ sẽ giảm so với ngoại tệ. Lạm phát cao càng kéo dài, đồng tiền càng mất giá, sức mua
càng giảm nhanh, sức mua của đồng tiền trong nước giảm thì sức mua đối ngoại của nó cũng
giảm làm cho tỷ giá hối đoái tăng.
d. Mức chênh lệch giữa lãi suất các nước:
Ớ thị trường nao có mức lãi suất ngắn hạn cao hơn thì những luồng vốn ngắn hạn có xu
hướng đố về thị trường đó làm cho cung cầu ngoại tệ tăng lên, cầu về ngoại tệ giảm do đó tỷ
giá hối đoái có xu hướng giảm.
e. Các nhân tố có khả năng tác động cung cầu ngoại tệ:
Một số nhân tố khác cũng tác động gián tiếp đến tỷ giá thông qua cung cầu ngoại tệ như:
yếu tố chính trị, kinh tế xã hội, thiên tai chiến tranh, hoạt động đầu
2. Tống quan về hoạt động xuất nhập khẩu:
2.1.Khái niệm:
Hoạt động xuất nhập khẩu là sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các nước thông qua hành

nhập khẩu. Khi lợi nhuận không đủ bù đắp chi phí, cầu nhập khẩu giảm xuống, do đó kim
ngạch nhập khẩu giảm .
b. Ảnh hưởng của biến động tỷ giá lên cơ cấu nhập khẩu:
Trên phương diện cơ cấu nhập khẩu, sự tăng tỷ giá hối đoái sẽ khiến các nhà quản lý cân
nhắc xem phải nhập khâu những mặt hàng gì. Những mặt hàng như nông sản có thể sẽ bị hạn
chế do sản xuất trong nước có thế đáp ứng nhu cầu, các mặt hàng như xăng, dầu, máy móc,
thiết bị có thể chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục nhập khẩu.
c. Ánh hưởng của biến động tỳ giá lên tính cạnh tranh của hàng nhập khấu:
Khi xét về tính cạnh tranh nhập khẩu, không một quốc gia nào muốn sản phẩm nhập khấu
lại có tính cạnh tranh cao hơn sản phấm trong nước. Khi tỷ giá tăng lên, sản phẩm nhập khẩu
có lợi thế trong khi sản phấm trong nước lại bất lợi về giá. Khi tỷ giá giảm, cạnh tranh về giá
của sản phẩm nhập khẩu không còn, việc tỷ giá giảm tương đương với việc đánh thuế lên
hàng nhập khẩu do đó hàng nhập khẩu trở nên đắt hơn. Neu tình trạng này kéo dài thì hàng
nhập khẩu từ thị trường này có thể được thay thế bằng hàng hóa thị trường khác hoặc sản
phẩm trong nước.
3.2.Tác động của biến động tỳ giá lên hoạt động xuất khấu:
a. Ảnh hưởng của biến động tỷ giá lên kim ngạch xuất khấu:
- Khi tỷ giá hối đoái giảm, giá đồng nội tệ tăng lên, lượng ngoại tệ thu về từ hoạt động
xuất khẩu giảm xuống, doanh thu từ hoạt động xuất khẩu tính ra đồng nội tệ bị thu
hẹp, xuất khẩu không được khuyến khích dẫn đến sự sụt giảm trong hoạt động xuất
khau
- Khi tỷ giá hối đoái tăng, giá đồng nội tệ giảm xuống , thuân lợi cho nhà xuất khẩu.
Lượng ngoại tệ thu về đổi ra dược nhiều nội tệ hơn, kim ngạch xuất khẩu tăng lên,
kích thích các hoạt động xuất khẩu tăng trưởng và phát triển với điều kiện các chi phí
đầu vào của sản xuất hàng xuất khấu khônh tăng lên tương ứng.
b. Ảnh hưởng của biến động tỷ giá lên cơ cấu hàng xuất khấu:
Đối với cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, các mặt hàng nông sản sơ chế dường như nhạy cảm
hơn đối với mọi biến động tăng giảm của tỷ giá hối đoái so với các mặt hàng như máy móc,
thiết bị toàn bộ, xăng dầu Vì độ co giãn của các mặt hàng nông sản sơ chế đối vơis giá xuất
khấu hoặc tỷ giá áp dụng là rất cao do đây là các mặt hàng có thể thay thế được. Trong khi đó

nhập khẩu của Việt Nam.
T-irsi H ưì IN o 00 ưí ^ H fN
rH fHrH o rH
—■Tỷ giá chinh thức —Trẩn biên độ
—Sàn biên độ —TỷgiáNHTM
Nguồn: NHNN và Vietcombank(2011).
Giai đoạn từ năm 2008-2011 tỷ giá đã có nhiều sự biến động. Đầu năm 2008, nền kinh tế vừa
kết thúc giai đoạn suy thoái và khủng hoảng bắt đi vào sự ốn định.
Giai đoạn2008-2009 đánh dấu sự phản ứng trong chính sách tỷgiá ở Việt Nam.
Dựa vào đồ thị và số liệu thống kê ta có the thấy tỷ giá đầu 2008 của ngân hàng
Hìnhl: TỶ GIÁ VND/USD THEO NGÀY VÀ BIÊN ĐỘ GIAI ĐOẠN 2008-2001
thương mại giảm xuống sàn biên độ và đồng Việt Nam lên giá trong giai đoạn này. Nguyên
nhân là do từ cuối năm 2007 sự gia tăng 0 ạt của các nguồn đầu tư gián tiếp vào Việt Nam
làm cho nguồn cung USD tăng mạnh do đó tỷ giá trong giai đoạn giảm xuống hay nói cách
khác là đồng Việt Nam tăng giá. Dựa vào hình 1 tacó thể thấy tỷ giá NHTM có nhiều biến
động mạnh do lạm phát tăng cao vào giai đoạn nửa đầu năm( tỳ lệ lạm phát năm 2008 rất cao
có lúc kên đến gần 20%) đồng thời cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã bắt đầu ảnh hưởng
và tác động đến nền kinh tế Việt Nam vào nửa cuối năm 2008. Và cũng bắt đầu từ nửa cuối
nàm 2008 cùng với sự suy thoái của nền kinh tế thì luồng đầu tư gián tiếp vào Việt Nam đã
bắt đầu giảm. Năm 2008 tỷ giá niêm yết tại các NHTM biến động liên tục, có lúc tỷ giá này
thấp hơn cả tỳ giá chính thức trong khi năm 2009 tỷ giá NHTM luôn luôn ở mức trần biên độ
mà NHNN công bố. Trước áp lực về quan hệ cung cầu ngoại hối trên thị trường mà tỷ giá
trên thị trường tự do tăng rất nhanh. Mặc dù NHNN đã mở rộng biên độ dao động tử +/-3%
lên +1-5% (biên độ dao động lớn nhất trong vòng 10 năm qua) nhưng các NHTM vẫn giao
dịch ở mức trần. Đen 26/11/2009 NHNN chính thức giảm biên độ dao động xuông lại còn +/-
3% tuy nhiên các NHTM vẫn dao dịch ở mức tỷ giá trần.
Hình 2: Tỷ giá giao dịch VND/USD 2008 của các ngân hàng thương mại.
Tỷ giá VND/USD có xu hướng giảm từ đầu năm 2008. Theo công bố của tổng cục thông
kê, giá tiêu dùng tháng 1/2008 tăng 2,38% so với cuối năm 2007. Để kiềm chế lạm phát thì
NHNN đã điều chỉnh lãi suất cơ bản từ 8,25%/năm lên 8,75%/năm, tăng 0,5%/năm, lãi suất

giao dịh của Việt Nam mà chủ yếu là để mua USD nên gây sức ép lên tỷ giá. Nguyên nhân
nữa là do các ngoại tệ mạnh trên thế giới đều mất giá so với USD nhất là chính phủ Mĩ can
thiệp vào thị trường tài chính ngăn chặn cuộc khủng hoảng làm cho USD tăng giá trở lại.
Cuộc khủng hoảng toàn cầu ảnh hưởng kinh tế Việt Nam. Rõ ràng nhất là trong cuối năm
2008 nhu cầu hàng xuất khẩu giảm, kim ngạch xuất khẩu giảm liên tục từ tháng 8 chủ yếu là
dầu thô. Các nhà đầu tư nước ngoài cũng giảm đầu tư, lượng khách du lịch vào Việt Nam
cũng giảm, lượng kiều hối cũng giảm mạnh đã làm cho nguồn cung USD giảm mạnh ảnh
hưởng rất lớn đến tỷ giá. Tuy nhiên chính phủ ta đã có biện pháp hợp lý và đã kiểm soát
được tỳ giá không biến động quá mạnh.
Năm 2009: Giá USD tháng 01/2009 so với tháng 12/2008 tăng 1,48%, so với tháng
01/2008 tăng 8,16%. Qua tháng 2 dưới sự tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới, nền
kinh tế nước ta chịu ảnh hưởng nhiều tuy nhiên nhà nước ta có nhiều biện pháp đế kiềm chế
sự ảnh hưởng và cải thiện kinh tế. Nhìn chung từ đẩu tháng 1/2009 đến giữa tháng 2/2009, tỷ
giá USD/VND không có biến động mạnh - tăng giảm trong khoảng 17.480 đến 17.490
VND/ƯSD - nguyên nhân phần lớn là do có sự can thiệp của nhà nước. Vào những ngày đầu
tháng 1/2009 nhu cầu vay vốn bằng ngoại tệ của doanh nghiệp đã giảm hẳn sau khi các NH
áp dụng chương trình vay vốn được bù 4% lãi suất. Cơ chế bù lãi suất chỉ áp dụng cho các
trường hợp vay vốn bằng VND, không áp dụng cho trường hợp vay vốn bằng USD. Các
doanh nghiệp đã tính toán, vay USD vừa phải lo lắng về biến động tỉ giá lại không được bù
lãi suất. Từ đó, doanh nghiệp đã dừng vay vốn bằng USD để chuyển sang vay VND, số đã
vay đến hạn trả nợ, không vay thêm làm số dư vốn vay USD giảm. Đầu ra của USD ở nước
ngoài bị thu hẹp dần. Như vậy, gói kích cầu đã làm cho cầu đồng nội tệ tăng vì các NHTM
cần VND để cho vay theo nên lãi suất huy động VND tăng, làm cho giá VND tăng. Đồng
thời, gói kích cầu cũng làm cho nhu cầu USD giảm, lãi suất huy động USD giảm, làm cho giá
USD giảm. Tuy nhiên tỷ giá USD/VNĐ lại tiếp tục tăng trong các tháng tiếp theo, tỷ giá niêm
yết tại các ngân hàng vẫn không đối, nhưng trên thị trường tự do tỷ giá USD/VND có nơi đã
lên đến 18.000đ. Trong hệ thống ngân hàng đã xảy ra tình trạng thiếu USD, khiến cho nhiều
người có nhu cầu không thể đối được ngoại tệ. Mặt khác do việc chênh lệch tỷ giá giao dịch
giữa ngân hàng và thị trường tự do đã khiến cho những người dân hay doanh nghiệp có USD
không bán cho các ngân hàng mà bán trên thị trường tự do điều đó buộc NHNN thực hiện nới

đặt giá trần hoặc gần với trần biên độ của tỷ giá chính thức.
Đâu năm 2010 tỷ gía giảm nhẹ và dao động quanh mức 18479 đồng/USD cho đến
2/2010. Nguyên nhân là do nguồn cung USD từu nước ngoài vào Việt Nam tăng kể cả nguồn
vốn đầu tư trực tiếp, vốn hỗ trợ phát trien chính thức do năm trước cam kết, đầu tư gián tiếp
thông qua thị trường chứng khoán cũng tăng, nguồn kiều hối và lượng khách quốc tế vào Việt
Nam cũng tăng lên đáng kề. Điều đó làm cung ngoại tệ tăng lên. Bên cạnh đó các tập đoàn và
các công ty nhà nước bán ngoại tệ cho ngân hàng, sức ép gim giữ ngoại tệ giảm và tỷ giá trên
thị trường tự do và thị trường chính thức giảm chênh lệch đáng kề. Từ giữa tháng 2/2010 đến
nay tỷ giá tăng và dao động quanh mức 19.000đồng/USD (18.900-19.100 đồng /USD) và
đang có xu hướng giảm do những chính sách tích cực từ phía NHNN. Ngày 11/02 Ngân hàng
Nhà nước điều chỉnh tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ mức 17.941 VNĐ/ƯSD lên mức
18.544 VND/ƯSD. Nguyên nhân do Ngân hàng Nhà nước có Quyếtđịnh số 74/QĐ-NHNN
giảm mạnh tỳ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với cáctố chức tín dụng. Việc giảm tỷ lệ
dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ từ 7% xuống 4%đối với kỳ hạn dưới 12 tháng, từ 3% xuống
2% đối với kỳ hạn trên 12 tháng đã làm tăng nguồn vốn khoảng 500 triệu USD (9.000 tỳ
đồng) cho các ngân hàng thương mại để cho vay trên thị trường, ngay sau đó NHNN tiếp tục
ban hành thông tư số 03/2010/TT-NHNN quy định mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của
tổ chứckinh tế tại tổ chức tín dụng là 1%/năm. Đây được xem là một “cú hích” mạnh khi ảnh
hưởng trực tiếp đến lợi ích của các tố chức kinh tế có tiền gửi bằng USD, khi lãi suất trước đó
được hưởng có từ 4% - 4,5%/năm. Quy định này được xem 1 à đặt các tổ chức vào thế tự
xử,phải tính toán lợi ích và xem xét bán lại ngoại tệ, chuyển sang VND để có lãi suất tiền gửi
cao hơn. Khớp với chính sáchnày, các ngân hàng thương mại đồng loạt tăng giá USD mua
vào để thu hút nguồnngoại tệ tiềm năng này. Chênh lệch lãi suất vay vốn bằng VND và USD
lớn khiến các doanh nghiệp cân nhắc và dịch chuyển sang vay USD. Đen các tháng cuối năm
2010 thì tỷ giá vẫn tiếp thục tăng mạnh đặc biệt từ tháng 8/2010, tỷ giá trên thị trường tự do
lại tăng cao so với tỳ giá chính thức tại các ngân hàng khiến NHNN phải tăng tỷ giá trên thị
trường liên ngân hàng từ 18544 VND lên 18932 VND (tăng 2.1%). Và các NHTM vẫn tiếp
tục áp dụng mức lãi suất kịch trần. Đen khoảng cuối tháng 9/2010 tỷ vào khoảng
19500đồng/ƯSD. Theo số liệu từ bài viết của TS. Võ Đại Lược và TS. Lê Xuân Nghĩa trình
bày tại hội thảo “ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng: Kinh tế Việt Nam năm 2010,

ra: nếu điều chỉnh tỷ giá USD/VND thì từ nay (tại ngày 7/9) đến cuối năm không quá 1%.
Với cam kết này NHNN sẽ khó thuyết phục niềm tin của thị trường về tỷ giá tuy nhiên đến
cuối 2011 NHNN vẫn giữ được cam kết. Các chính sách đưa ra đã từng bước phát huy được
hiệu quả, góp phần ốn định tỷ giá bình quân liên ngân hàng thời gian dài ở mức 20.803 trong
cả tháng 11, đến ngày 14/12 mới điều chỉnh tăng lên 20.813 rồi 20.828. Đối với tỷ giá ở thị
trường chính thức và phi chính thức tính đến giữa tháng 12, tỷ giá ở thị trường phi chính thức
giảm đáng kể so với cuối tháng 11, giao động phổ biến trong khoảng từ 21.150 đến 21.300; ở
thị trường chính thức tỷ giá giao động phổ biến từ 21.005 đến 21.036.
2. Sự ảnh hưởng của biến động tỷ giá đến các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu
Việt Nam giai đoạn 2008-2011:
2.1.Ảnh hưởng đến xuất, nhập khẩu giai đoạn 2008-2011:
Hình 2: Biểu đồ thể hiện kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu, nhập siêu các năm 2008-
2011.
Năm 2008, hoạt động xuất nhập khấu của các doanh nghiệp Việt Nam vượt qua nhiều biến
động về thị trường, giá cả, khó khăn của những rào cản thương mại, tác động của cuộc khủng
hoảng kinh tế toàn cầu Đi cùng với đó là nhiều thay đối trong cơ chế điều hành, hoạch định
chính sách. Theo số liệu ước tính của Bộ Công thương, kim ngạch xuất khẩu cả năm 2008
của Việt Nam ước đạt gần 63 tỷ USD, tăng trên 29,5% so với năm 2007. Đây là mức tăng
trưởng cao nhất trong nhiều năm trở lại đây. Những mặt hàng đã đạt kim ngạch xuất khẩu
trên 1 tỷ USD những năm trước tiếp tục duy trì ở mức cao như dầu thô (10,5 tỷ USD), dệt
may (9,1 tỷ, giày dép (4,7 tỷ USD), thủy sản (4,56 tỷ USD), gạo (2,9 tỷ USD), sản phẩm gồ
(2,78 tỷ USD), cà phê (2 tỷ USD), cao su (1,6 tỷ USD), than đá (1,44 tỷ USD). Đặc biệt trong
năm nay có thêm mặt hàng dây điện và cáp điện đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỳ USD (ước
đạt 1,04 tỷ).
• Năm 2008:
Kim ngạch nhập khẩu năm 2008 đạt 80,71 tỷ USD tăng tương đối 28,8% so với
2007 tương ứng với mức nhập siêu ở khoảng 18 tỷ USD đạt con số kỉ lục từ trước
đến nay tăng 27,7% so với con số 14.12 tỷ USD năm 2007. Trong 5 tháng đầu năm
2008 nhập siêu tăng mạnh lên đến 14,4 tỷ USD tuy nhiên trong 7 tháng cuối năm
nhập siêu được kiềm chế ở mức thấp. Một trong những nguyên nhân là do giá hàng

tăng lên đã góp phần bù đắp cho lượng hàng khoán sản, dầu thô giảm mạnh (dầu thô và than
đá giảm 3,8 tỷ USD). Giá xuất khẩu năm 2010 của nhiều mặt hàng cũng tăng mạnh, trong đó
nhiều mặt hàng được hưởng lợi từ tăng giá thế giới như gạo, cà phê, cao su, dầu thô,
than một số hàng hóa tăng giá khá do hàm lượng chế biến tăng lên như dệt may, thủy sản,
gồ, dây và cáp điện,
Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu có xu hướng tăng ở ngành công nghiệp chế tạo và hàng hóa có
hàm lượng chất xám cao. Tỷ trọng hàng hóa ngành công nghiệp chế biến so với 2009 tăng
mạnh từ 63,4% lên 67,9%, nhóm khoáng sản giảm từ 15,2% xuống 11,1%,
về nhập khẩu năm 2010, doanh nghiệp trong nước nhập khẩu 47,5 tỷ USD chiếm 56,6%
tống kim ngạch tăng 8,3% so với năm 2009, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
nhập khẩu 36,5 tỳ USD chiếm 43,4% tổng kim ngạch và tăng 39,9% so với năm 2009.
Một số hàng hóa cần nhập khẩu giảm khá mạnh năm qua là xăng dầu giảm 28,6%, khí đốt
hóa lỏng giảm 14%, phân bón giảm 22%, thép các loại giảm 10%, ô tô nguyên chiếc giảm
45%, chủ yếu do sản xuất trong nước phần nào đáp ứng được nhu cầu.
• Năm 2011:
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan công bố ngày 1-2-2012, năm 2011, tổng kim
ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu đạt 203,66 tỷ USD, tăng 29,7% so với cùng kỳ năm
trước.Trong đó, trị giá hàng hoá xuất khấu đạt 96,91 tỷ USD, tăng 34,2% trong khi đó, trị giá
hàng hóa nhập khẩu là 106,75 tỷ USD, tăng 25,8% .Với kết quả trên thì cán cân thương mại
hàng hoá của Việt Nam trong năm 2011 thâm hụt 9,84 tỷ USD, bằng 10,2% tổng kim ngạch
xuất khẩu của Việt Nam.
Tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) trong năm 2011 đạt 96,71 tỷ USD, tăng 36% so với kết quả thực hiện của
năm trước. Trong đó, trị giá xuất khẩu là 47,87 tỷ USD, tăng 40,3% và chiếm 49,4% tổng
kim ngạch xuất khấu của cả nước.
Trị giá nhập khấu của khu vực các doanh nghiệp này là 48,84 tỳ USD, tăng 32,1%, chiếm
45,7% tông kim ngạch nhập khâu của cả nước. Trong khi đó, khối doanh nghiệp trong nước
xuất khấu đạt 49,03 tỷ USD trong năm 2011, tăng 28,7% và nhập khẩu là 57,91 tỷ USD, tăng
21%.
2.2.Ảnh hưởng đến các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu:

15946-15960 đồng, đặc biệt trong tháng 6/2008 tỷ giá liên ngân hàng có thể tăng đến
19400 đồng cao hơn rất nhiều so với tỷ giá trần quy định của ngân hàng nhà nước.
Nguyên nhân chính của sự mất giá VND là do dấu hiệu cho thấy lạm phát đang có
dấu hiệu tăng, khủng hoảng kinh tế thế giới đã có ảnh hưởng mạnh đến Việt Nam,
đến hết tháng 6/2008 cán cân thương mại đã xấp xỉ 15 tỷ USD. Đồng thời, trong giai
đoạn này giá vàng trong nước và giá vàng thế giới chênh lệch mạnh nên các nhà đầu
tư có nhu cầu cần nhiều USD để nhập khẩu vàng làm cho cầu USD tăng mạnh. Bên
cạnh đó các nhà đầu tư nước ngoài cũng lo ngại về nền kinh tế Việt Nam do những
tin đồn về lạm phát, khủng hoảng làm giảm lượng lớn
USD. Điều đó đã làm cho VND trưọt giá so với USD và ngân hàng nhà nước đã quyết định
tăng biên độ tỷ giá lên +/- 2% vào cuối 6/2008. Việc mất giá của VND có nhiều thuận lợi cho
các doanh nghiệp xuất khấu hơn vì tỷ giá tăng giúp tỷ giá chính thức gần với tỷ giá trên thị
trường tự do và các doanh nghiệp sẽ dễ dàng mua USD để nhập khẩu nguyên vật liệu hơn,
giảm bót các giao dịch đường vòng, hạn chế được việc gim giữ USD.
Khi tỷ giá VND/USD tăng, doanh nghiệp xuất khẩu cũng có nhiều thuận lợi hơn do tỷ giá
tăng đồng nghĩa với lợi nhuận thu được quy ra VND sẽ được tăng lên. Tuy nhiên bên cạnh
những thuận lợi đó thì các doanh nghiệp xuất khẩu phải đối mặt với việc tăng chi phí cho
việc mua nguyên liệu vì các doanh nghiệp cung cấp nguyên liệu trong nước sẽ tăng giá
nguyên liệu theo tỷ giá và có thể tăng cao hơn tốc độ tăng tỷ giá. Điều này làm cho chi phí
đầu vào của sản phẩm tăng lên làm giá tăng gây giảm sức cạnh tranh của hàng hóa khi xuất
khấu. Tuy nhiên nếu giá cả của một số nguyên liệu tăng thì không ảnh hưởng gì nhiều nhưng
nếu giá cả các nguyên liệu đầu vào đồng loạt tăng sẽ ảnh hưởng rất lớn các doanh nghiệp
xuất khẩu.
Đối với các doanh nghiệp nhập khấu thì việc biến động tỷ giá tăng sẽ gây ra nhiều khó
khăn với họ vì giá cả hàng hóa nhập khấu khi đó sẽ tăng một cách tương đối do đó người tiêu
dùng lựa chọn sử dụng hàng háo trong nước hơn. Tuy nhiên Việt Nam vẫn là nước có nhu
cầu hàng hóa nhập khẩu nên kim ngạch nhập khẩu trong thời kì này vẫn còn cao. Một vấn đề
khó khăn cho các doanh nghiệp nhập khâu hàng hóa khi tỷ giá tăng nữa là các doanh nghiệp
nhập hàng hóa kí hợp đồng nhập khấu trước khi tỷ giá tăng và thời điểm thanh toán và nhận
hàng thì tỳ giá lại tăng làm cho các doanh nghiệp thật sự lo lắng vì họ phải trả số tiền nhiều

Nguồn: Số liệu thống kê của NHNN
XƯÁT KHẨU NHẬP KHẨU
CAN CAN THƯƠNG
MẠI
2008 62.9 80.71 17.81
2009 57.1 69.95 12.85
2010 72.19 84.8 12.61
2011 96.91 106.75 9.84
Nguồn: thống kê Hải quan.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status