Luận văn Tình hình biến động tỷ giá hối đoái VND/USD trong giai đoạn 2008 đến nay - Pdf 11

Luận văn
Tình hình biến động tỷ giá hối
đoái VND/USD trong giai đoạn
2008 đến nay
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ
HỐI ĐOÁI 6
1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 6
1.1. Sự hình thành tỷ giá hối đoái 6
1.2. Ngoại tệ và ngoại hối 7
1.2.1. Ngoại tệ 7
1.2.2. Ngoại hối 7
1.3. Khái niệm về tỷ giá hối đoái 8
1.4. Phân loại tỷ giá hối đoái 8
1.4.1. Căn cứ vào phương tiện di chuyển ngoại hối 8
1.4.2. Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối 8
1.4.3. Căn cứ vào thời điểm giao dịch ngoại hối 8
1.4.4. Căn cứ vào thời điểm giao nhận ngoại hối 9
1.4.5. Căn cứ vào mối quan hệ với lạm phát 9
1.4.6. Căn cứ vào chế độ quản lí tỷ giá 9
1.4.7. Căn cứ vào phương tiện thanh toán quốc tế 10
1.5. Cách xác định tỷ giá hối đoái 10
1.6. Các phương pháp niêm yết tỷ giá hối đoái 10
1.6.1. Phương pháp trực tiếp 10
1.6.2. Phương pháp gián tiếp 11
1.7. Vai trò của tỷ giá hối đoái 11
1.7.1. Tỷ giá hối đoái và lạm phát, tăng trưởng kinh tế và việc làm 12
1.7.2. Tỷ giá hối đoái và hoạt động thương mại quốc tế 12
1.7.3. Một số vai trò khác 12
1.8. Tầm quan trọng của tỷ giá hối đoái 13
2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 13

1.2. Năm 2009 35
2. Giai đoạn 2010 – 2011 40
2.1. Năm 2010 40
2.2. Năm 2011 40
3. Giai đoạn 2012 47
4. Một số chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đoái ở Việt Nam trong giai đoạn 2008 đến nay 53
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỔN ĐỊNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 2008 ĐẾN NAY 54
1. Một số định hướng ổn định tỷ giá hối đoái 54
2. Giải pháp cho cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái 56
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Diễn biến tỷ giá USD/VND năm 2008
Biểu đồ 2.2 Tăng trưởng kinh tế các quý năm 2008 so với cùng kỳ năm trước
Biểu đồ 2.3 Diễn biến các loại lãi suất trong năm 2008.
Biểu đồ 2.4 CPI qua 12 tháng năm 2008
Biểu đồ 2.5 Tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng quý của Mỹ từ 2007 đến 2008
Biểu đồ 2.6 Tăng trưởng nhập khẩu hàng quý của Mỹ 2007-2008
Biểu đồ 2.7 Dự trữ ngoại hối (tỷ USD) của Việt Nam 10 tháng đầu năm 2008
Biểu đồ 2.8 Tỷ lệ lạm phát hàng tháng của Mỹ năm 2008
Biểu đồ 2.9 Cán cân thương mại Việt Nam 10 tháng đầu năm 2008
Biểu đồ 2.10 Tiền đồng mất giá trong năm 2009
Biểu đồ 2.11 Diễn biến tỷ VND/USD giá trên thị trường chính thức và thị trường tự do
năm 2009
Biểu đồ 2.12 Cán cân xuất nhập khẩu 2009
Biểu đồ 2.13 Nguồn vốn FDI vào Việt Nam năm 2009 so với năm 2008
Biểu đồ 2.14 Giá vàng năm 2009
Biểu đồ 2.15 Biến động tỷ giá VND/USD từ tháng 10/2010 đến tháng 9/2011
Biểu đồ 2.16 Diễn biến TGHĐ nửa cuối tháng 4/2011
Biểu đồ 2.17 Diễn biến TGHĐ VND/USD năm 2011
Biểu đồ 2.18 Diễn biến lạm phát 9 tháng đầu năm 2011

TGHĐ phải liên tục được điều chỉnh và hoàn thiện nhằm thích ứng với môi trường trong
nước và quốc tế thường xuyên thay đổi.
Thấy rõ được tầm quan trọng của vấn đề TGHĐ trong xu thế phát triển của nền kinh tế thế
giới cũng như tính cấp thiết của vấn đề này đối với nền kinh tế của Việt Nam. Nhóm 2 đã tập
trung nghiên cứu đề tài: “Tình hình biến động tỷ giá hối đoái VND/USD trong giai đoạn 2008
đến nay”.
Đề tài nghiên cứu với mục đích là nhằm hiểu rõ hơn, nắm vững hơn về mặt lý thuyết và cơ
sở ứng dụng của TGHĐ, chính sách điều chỉnh TGHĐ. Đặc biệt là ứng dụng thực tiễn vào thực
trạng tình hình biến động TGHĐ ở Việt Nam giai đoạn 2008 đến nay. Đối tượng nghiên cứu của
đề tài là thực trạng TGHĐ cùng với chính sách điều chỉnh TGHĐ của Việt Nam. Phạm vi
nghiên cứu là vấn đề TGHĐ, chính sách điều chỉnh TGHĐ ở Việt Nam giai đoạn 2008 đến nay.
Nội dung đề tài chia làm 3 phần:
Chương 1: Tổng quan chung về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái
Chương 2: Thực trạng tỷ giá hối đoái và chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đoái ở Việt
Nam giai đoạn 2008 đến nay
Chương 3: Một số định hướng và giải pháp ổn định tỷ giá hối đoái Việt Nam giai đoạn
2008 đến nay
Với nguyện vọng hoàn thành đề tài thật tốt, song với thời gian nghiên cứu có hạn, cho nên
mặc dù đã tập trung nghiên cứu, tìm hiểu cùng với sự hiểu biết của mình nhưng chắc chắn đề tài
không thể tránh khỏi những sai sót nhất định, nhóm rất mong nhận được sự chỉ dạy của cô giáo
để đề tài được hoàn thiện hơn. Cuối cùng, nhóm 2 chúng em xin chân thành cảm ơn sự tận tình
quan tâm, giúp đỡ của cô giáo TS.Võ Thị Thúy Anh đã hướng dẫn chúng em hoàn thành đề tài
này.
Đà Nẵng, tháng 11 năm 2012
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH TỶ
GIÁ HỐI ĐOÁI
1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
1.1. Sự hình thành tỷ giá hối đoái
Toàn cầu hóa và ngoại thương ngày càng phát triển cho nên hoạt động trao đổi, buôn bán,
đầu tư không chỉ xảy ra trong một quốc gia, mà còn giữa các quốc gia với nhau. Khi một nước

- Ngoại tệ tiền mặt; kim loại quý, đá quý; vàng tiêu chuẩn quốc tế.
- Đồng tiền tập thể (SDR), đồng tiền chung (EUR)
- Các công cụ tín dụng có ghi bằng ngoại tệ dùng để thanh toán quốc tế, gồm thẻ tín dụng,
séc, giấy chuyển tiền, thương phiếu;
- Các công cụ tài chính ghi bằng ngoại tệ dùng để đầu tư quốc tế, gồm tín phiếu, trái phiếu,
cổ phiếu…
1.3. Khái niệm về tỷ giá hối đoái
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có đồng tiền riêng, thương mại đầu tư và các quan
hệ tài chính quốc tế đòi hỏi các quốc gia phải thanh toán với nhau. Thanh toán giữa các quốc
gia dẫn đến việc mua bán giữa các đồng tiền khác nhau, đồng tiền này lấy đồng tiền kia. Hai
đồng tiến được mua bán với nhau theo một tỷ lệ nhất định, tỷ lệ này được gọi là TGHĐ.
Có nhiều định nghĩa về TGHĐ:
- TGHĐ là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này biểu hiện bằng số lượng đơn vị
tiền tệ nước khác. Hay TGHĐ là quan hệ so sánh giá trị các đồng tiền với nhau.
- TGHĐ là hệ số quy đổi của một đồng tiền quốc gia này sang đồng tiền quốc gia
khác. Hay TGHĐ là giá cả đơn vị tiền tệ của một nước được biểu hiện bằng khối
lượng các đơn vị tiền tệ nước ngoài.
Ví dụ: 1 USD = (X) VND
1.4. Phân loại tỷ giá hối đoái
1.4.1. Căn cứ vào phương tiện di chuyển ngoại hối
TGHĐ được chia ra làm 2 loại:
- Tỷ giá điện hối là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện. Ngày nay do ngoại hối được chuyển
chủ yếu là bằng điện nên tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng là tỷ giá điện hối.
- Tỷ giá thư hối là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư ( không phổ biến, hiện nay hầu như
không dùng ).
1.4.2. Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối
TGHĐ được chia ra làm 2 loại:
- Tỷ giá mua vào (Bid rate) là tỷ giá tại đó ngân hàng niêm yết giá mua vào đồng tiền yết
giá.
- Tỷ giá bán ra (Offer rate) là tỷ giá mà tại đó ngân hàng niêm yết giá bán ra đồng tiền yết

- Tỷ giá chính thức (Official rate) là tỷ giá do nhà nước công bố (thường là NHTW),
đây là tỷ giá làm cơ sở để hình thành tỷ giá thị trường.
- Tỷ giá thị trường (Market rate) là tỷ giá được hình thành theo quan hệ cung cầu ngoại
hối. Tỷ giá này biến động thường xuyên tùy theo tình hình cung cầu ngoại tệ trên thị
trường ngoại hối.
Ngoài ra ta còn có một số loại tỷ giá khác được phân chia theo căn cứ chế độ quản lý
TGHĐ:
- Tỷ giá cố định (Fixed rate) là tỷ giá hình thành trong chế độ tiền tệ Bretton Woods.
Tỷ giá cố định chính là tỷ giá chính thức do nhà nước công bố. Dưới áp lực cung cầu của thị
trường, để duy trì được tỷ giá cố định buộc nhà nước phải thường xuyên can thiệp.
- Tỷ giá thả nổi hoàn toàn (Freely Floating rate) là tỷ giá hình thành tự phát ngoài hệ
thống ngân hàng và diễn biến theo quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Sau khi chế độ tiền
tệ Bretton Woods sụp đổ các nước tư bản không cam kết giữ vững tỷ giá cố định, đồng tiền các
nước tư bản tự do thả nổi nên tỷ giá thả nổi cũng chính là tỷ giá tự do.
- Tỷ giá thả nổi có điều tiết (Managed Floating rate) là tỷ giá được hình thành do quan
hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường dưới sự điều tiết quản lý của nhà nước nhằm ổn định tỷ giá
trên thị trường.
1.4.7. Căn cứ vào phương tiện thanh toán quốc tế
TGHĐ được chia làm 4 loại:
- Tỷ giá séc là tỷ giá mua bán các loại séc ghi bằng ngoại tệ.
- Tỷ giá hối phiếu là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu ghi bằng ngoại tệ. Nếu hối phiếu trả
tiền ngay thì gọi là tỷ giá hối phiếu trả tiền ngay, nếu hối phiếu có kì hạn thì gọi là tỷ giá hối
phiếu có kì hạn.
- Tỷ giá tiền mặt là tỷ giá áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại tệ là tiền kim loại, tiền
giấy, séc du lịch, thẻ tín dụng.
- Tỷ giá chuyển khoản là tỷ giá áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại tệ là các khoản
tiền gửi tại ngân hàng, giao dịch thanh toán qua ngân hàng.
Thông thường tỷ giá mua tiền mặt thấp hơn tỷ giá chuyển khoản và tỷ giá bán tiền mặt
cao hơn tỷ giá chuyển khoản
1.5. Cách xác định tỷ giá hối đoái

Do giá trị của VND thấp hơn USD nhiều lần nên Y là nhỏ hơn 1 gây khó khăn khi biểu
hiện giá cả.
Mối quan hệ giữa 2 phương pháp niêm yết này là E=
e
1
Ngày nay trên thị trường ngoại hối do vai trò nổi bật của USD và một số đồng tiền khác
trong quá khứ nên USD và GBP đều được sử dụng là đồng tiền yết giá trong các giao dịch ngoại
tệ. Bên cạnh đó đồng SDR cùng với đồng tiền các quốc gia có nền kinh tế lớn như Nhật Bản và
Liên minh Châu Âu… nên JPY, EUR… cũng trở thành đồng tiền yết giá trực tiếp trên các thị
trường tài chính quốc tế.
1.7. Vai trò của tỷ giá hối đoái
Hiện nay, hầu hết các nước điều quan tâm đến việc điều hành TGHĐ một cách linh hoạt vì
TGHĐ có một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế như là đối với hoạt động thương mại quốc
tế, trạng thái cân bằng thanh toán, tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát, việc làm… Tỷ giá giữ
vai trò quan trọng đối với mọi nền kinh tế. Sự vận động của TGHĐ có tác động sâu sắc, mạnh
mẽ đối với mục tiêu, chính sách kinh tế vĩ mô của quốc gia. Sau đây là những vai trò quan trọng
của TGHĐ:
1.7.1. Tỷ giá hối đoái và lạm phát, tăng trưởng kinh tế và việc làm
Ngoài việc tác động đến hoạt động thương mại thì TGHĐ tác động rất lớn đến trạng thái
của nền kinh tế trong nước đó là lạm phát, tăng trưởng kinh tế và việc làm. Ảnh hưởng nhiều
mặt đến nền kinh tế. Khi đồng nội tệ mất giá thì hàng nội địa sẽ rẻ hơn hàng xuất khẩu sẽ kích
thích tăng trưởng xuất khẩu. Khi xuất khẩu gia tăng sẽ làm cho sản xuất trong nền kinh tế tăng
trưởng theo tạo nhiều công ăn việc làm cho nền kinh tế, từ đó nền kinh tế cũng tăng trưởng. Tuy
nhiên bên cạnh đó do đồng nội tệ mất giá làm cho hàng hóa nhập về giá cả sẽ cao hơn như
nguyên liêu vật liệu, điều này cũng làm cho giá thành sản xuất cũng tăng theo. Tác động này gây
sức ép lên lạm phát làm cho lạm phát trong nước tăng lên. Khi đồng nội tệ lên giá làm cho hàng
hóa nhập về từ nước ngoài trở nên rẻ hơn, từ đó lạm phát trong nước sẽ giảm. Nhưng bên cạnh
đó khi dồng nội tệ giảm giá sẽ làm cho hoạt động xuất khẩu sẽ gặp khó khăn, từ đó thu hẹp sản
xuất, thất nghiệp tăng lên. Tác động xấu đối với nền kinh tế.
1.7.2. Tỷ giá hối đoái và hoạt động thương mại quốc tế

ngoài. Ngày nay khi sự luân chuyển vốn quốc tế ngày càng tự do thì các nước đặc biệt các nước
đang phát triển, các nước vay nợ nhiều càng cần phải thận trọng hơn trong chính sách tỷ giá để
đảm bảo được tăng trưởng và khả năng trả nợ nước ngoài của quốc gia mình.
1.8. Tầm quan trọng của tỷ giá hối đoái
Với những vai trò của TGHĐ đã được thể hiện ở trên thì TGHĐ có một tầm quan trọng đặc
biệt đối với nền kinh tế. Bất kỳ một quốc gia nào cũng luôn tìm cách đạt được mục tiêu là cân
bằng cán cân thanh toán, tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát, giảm thiểu thất nghiệp. TGHĐ
là một công cụ, là một nhân tố quan trọng của quốc gia để giúp cho nhà nước đạt được những
mục tiêu kinh tế vĩ mô. Kiểm soát được TGHĐ giúp cho CP có thể đạt được những mục tiêu
nhất định mà khó có một công cụ khác ngoài TGHĐ có thể làm được. Do vậy, TGHĐ quả thật
có một tầm quan trọng đặc biệt trong quản lý nền kinh tế một cách hợp lý và có hiệu quả.
2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
2.1. Quan hệ cung cầu
Tỷ giá thể hiện giá trị của đồng tiền các nước, mà tiền tệ cũng là một loại hàng hóa đặc
biệt cho nên TGHĐ cũng bị ảnh hưởng bởi quan hệ cung cầu trên thị trường. Đối với cung của
một loại hàng hoá bất kỳ nào thì sự thay đổi cung của hàng hoá đó luôn chịu giới hạn nhất định
nhưng cung của tiền có thể tăng đến vô hạn do NHTW có thể phát hành tiền với một số lượng
rất lớn. Ngược lại cầu hàng hoá phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng, tích trữ, đầu cơ nên chúng ta có
thể lượng ước được và tính toán được lượng cầu hàng hoá nhưng đối với tiền thì không, cầu tiền
là vô hạn do nhu cầu về tiền của người dân luôn lớn. Do vậy, cung và cầu của tiền luôn thay đổi
ảnh hưởng, tác động tới sự thay đổi của TGHĐ:
- Khi cung ngoại tệ nhỏ hơn cầu ngoại tệ thì sẽ dẫn tới giá ngoại tệ tăng  TGHĐ tăng.
- Khi cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ thì sẽ dẫn tới giá ngoại tệ giảm  TGHĐ giảm.
Mọi sự thay đổi về cung và cầu ngoại tệ trên thị trường đều dẫn đến sự thay dổi nhanh
chóng và tác động mạnh TGHĐ. Cung ngoại tệ trên thị trường được cung cấp bởi nhiều cách
thức như: nguồn vốn ODA, FDI, dự trữ ngoại hối của NHTW, kiều hối,… Cầu trên thị trường là
nhu cầu ngoại tệ sử dụng cho các hoạt động xuất khẩu, du lịch,… Bên cạnh đó sự tác động của
các hàng hóa thay thế trên thị trường như vàng với dầu mỏ cũng ảnh hưởng tới cung, cầu của
ngoại tệ do yếu tố đầu tư. Quan hệ cung cầu là một nhân tố chính và quan trọng nhất tác động
mạnh mẽ tới TGHĐ. Thông qua cung cầu TGHĐ có thể được xác định một cách rõ ràng và

đó dẫn đến đồng tiền của quốc gia đó lên giá.
2.4. Lãi suất tín dụng tương đối giữa các quốc gia
Lãi suất tín dụng giữa các quốc gia cũng là một nhân tố quan trọng tác động tới TGHĐ.
Lãi suất là giá cả vay vốn trên thị trường. Lãi suất tín dụng tác động lên việc luân chuyển
nguồn vốn giữa các nước từ đó ảnh hưởng tới cung ngoại tệ và thông qua đó gián tiếp tác
động tới TGHĐ.
- Nếu lãi suất tín dụng trong nước cao hơn lãi suất ngoại tệ hay lãi suất trên thị trường
quốc tế, thì sẽ thu hút những dòng vốn từ thị trường nước ngoài do lãi suất hấp dẫn hơn, điều
này làm cho cung ngoại tệ tăng lên sẽ dẫn đến TGHĐ giảm xuống (đồng nội tệ lên giá so với
đồng ngoại tệ).
- Nếu lãi suất tín dụng trong nước thấp hơn lãi suất ngoại tệ hay lãi suất trên thị trường
quốc tế, thì sẽ thu hút những dòng vốn đi ra thị trường nước ngoài do lãi suất hấp dẫn hơn,
điều này làm cho cung ngoại tệ giảm xuống sẽ dẫn đến TGHĐ tăng lên (đồng nội tệ giảm giá
so với đồng ngoại tệ).
Lãi suất tín dụng giữa các quốc gia cũng là một nhân tố tác động gián tiếp tới
TGHĐ thông qua việc tác động tới cung ngoại tệ trên thị trường.
2.5. Các nhân tố khác
2.5.1. Chính sách kinh tế vĩ mô của Chính Phủ
Khi CP thực hiện các thay đổi về chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách tài khóa hoặc
chính sách tiền tệ đều làm ảnh hưởng đến các chỉ số về tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát, bội
chi ngân sách, lãi suất tín dụng… và thông qua sự thay đổi các chỉ số đó làm ảnh hưởng, thay
đổi đến TGHĐ nhất định. Ví dụ: NHTW thực hiện chính sách tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát
thông qua các biện pháp hút tiền từ ngoài thị trường lưu thông bằng cách phát hành trái phiếu,
tăng lãi suất cơ bản… từ đó lạm phát sẽ giảm xuống, lên giá của hàng hóa sẽ chậm lại. Thông
qua lạm phát thì TGHĐ cũng biến động theo như đã trình bày ở mục 2.3.
2.5.2. Hàng rào thương mại
Hàng rào thương mại như thuế quan và hạn ngạch có thể tác động đến tỷ giá. Thông qua
thuế quan và hạn ngạch có thể tác động tới mức giá cả của hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa
trong nước, tác động tới hoạt động xuất nhập khẩu. Từ đó tác động tới cung và cầu ngoại tệ cần
cho hoạt động xuất nhập khẩu và làm thay đổi tỳ giá hối đoái.

tế, chính trị, tâm lý số đông, lợi tức kỳ vọng … từ những sự kiện này, người ta dự đoán chiều
hướng thay đổi của TGHĐ. Thông qua đó tiến hành thực hiện những hành động đầu tư, đầu cơ,
tích trữ về ngoại hối. Điều này làm cho tỷ giá có thể thay đổi tăng hoặc giảm trên thị trường
thông qua tác động đến cung và cầu ngoại tệ.
Ví dụ: Nếu như kỳ vọng của nhiều người là tỷ giá sẽ tăng cao trong tương lai thì sẽ xuất
hiện hiện tượng một số lượng lớn người dân tiến hành mua ngoại tệ để đầu cơ, tích trữ trong
ngắn hạn. Điều này làm cho cầu ngoại tệ trên thị trường tăng lên một cách nhanh chóng. Nếu
cung ngoại tệ không đáp ứng kịp thì sẽ khiến cho TGHĐ tăng lên. Và ngược lại sẽ làm cho
TGHĐ giảm xuống.
2.6. Nhận định chung về các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái
Nói tóm lại, tỷ giá ở tại một thời điểm là sự tồng hợp sự tác động của nhiều yếu tố như là sức
mua của các đồng tiền và tốc độ lạm phát ở các nước có liên quan; trạng thái cung cầu ngoại tệ ;
chênh lệch mức lãi suất giữa các nước có liên quan; thực trạng của hoạt động thị trường tài
chính; chính sách kinh tế vĩ mô của CP… Các nhân tố này vừa phụ thuộc lẫn nhau, vừa là kết
quả của nhiều tác động khác nhau. Từ các nhân tố tác động đến tỷ giá ở trên ta có thể thấy rằng
có rất nhiều nhân tố tác động, ảnh hưởng đến TGHĐ trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn.
Mỗi nhân tố đóng một vai trò quan trọng nhất định trong việc xác định TGHĐ trên thị trường.
Có nhân tố đóng vai trò chính yếu quyết định mạnh mẽ đến TGHĐ trong dài hạn, có nhân tố tác
động tới tỷ giá trong ngắn hạn
Các cơ quan nhà nước phải có những chính sách điều hành phù hợp để kiểm soát tỷ gia hối đoái
một cách tốt nhất để nền kinh tế đạt hiệu quả cao nhất, và có những biện pháp giảm tác động của
các nhân tố làm ảnh hưởng không tốt đến sự thay đổi của TGHĐ.
3. CHÍNH SÁCH ĐIỀU CHỈNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
3.1. Khái niệm về chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đoái
Chính sách tỷ giá là tổng thể các nguyên tắc công cụ biện pháp được nhà nước điều chỉnh tỷ giá
của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt mục tiêu cần thiết đã định trong chiến
lược phát triển của quốc gia đó. Về cơ bản chính sách điều chỉnh TGHĐ tập trung chú trọng vào
hai vấn đề lớn là: vấn đề lựa chọn hệ thống TGHĐ và vấn đề điều chỉnh TGHĐ. Nhưng vấn đề
quan tâm hàng đầu của chính sách điều chỉnh TGHĐ như tên gọi chính là vấn đề điều chỉnh
TGHĐ.

ứng tiền không quá nhanh cũng không quá chậm.
Mục tiêu cân bằng ngoại: là trạng thái cân bằng cán cân thanh toán quốc tế mà trong đó cân
bằng tài khoản vãng lai là một yếu tố quan trọng trong nền kinh tế. Không nên có một sự thâm
hụt hay thặng dư quá lớn trong tài khoản vãng lai: một sự thâm hụt tài khoản vãng lai cho thấy
răng nước đó đang vay nợ nước ngoài. Khoản nợ này, sẽ không đáng lo ngại khi nó được sử
dụng để đầu tư có hiệu quả bảo đảm trả nợ rong tương lai và có hiệu quả, nhưng nếu khoản thâm
hụt này kéo dài và không tạo ra được cơ hội đầu tư hiệu quả thì nó tạo ra nguy hiểm cho nền
kinh tế. Ngược lại khi tài khoản vãng lai thặng dư cho thấy rằng nước đó đang tích tụ tài sản của
mình ở nước ngoài. Sự dư thừa này kéo dài dẫn đến mất cân đối nghiêm trọng bên trong nền
kinh tế, có nhiều nguồn lực bị lãng phí không được sử dụng, sản xuất một sô ngành đình trệ,
tăng trưởng kinh tế giảm và thất nghiệp gia tăng. Tùy thuộc và điều kiện nền kinh tế mà cần có
chính sách điều chỉnh tỷ giá cho phù hợp, hiệu quả để ổn định cán cân thanh toán quốc tế, tác
động tích cực vào hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư xuyên quốc gia.
3.4. Một số công cụ trong chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đoái
3.4.1. Công cụ lãi suất chiêt khấu
Đây là công cụ gián tiếp thường sử dụng để điều chỉnh TGHĐ trên thị trường. Lãi suất
chiết khấu được đánh giá là công cụ hiệu quả nhất trong chính sách điều chỉnh TGHĐ. Cơ chế
tác động đến TGHĐ của lãi suất chiết khấu: khi TGHĐ đạt đến mức báo động cần phải can thiệp
thì NHTW tiến hành điều chỉnh lãi suất chiết khấu. Khi lãi suất chiết khấu thay đổi kéo theo sự
thay đổi cùng chiều của lãi suất trên thị trường. Từ đó làm dịch chuyển các dòng vốn quốc tế
làm thay đổi cán cân thanh toán quốc tế (tài khoản vốn, tài khoản vãng lai …) hoặc ít nhất làm
cho người sở hữu vốn trong nước chuyển đổi đồng vốn của mình sang đồng tiền có lãi suất cao
hơn để thu lợi và làm thay đổi TGHĐ. Cụ thể lãi suất tăng dẫn đến xu hướng là một dòng vốn
vay ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ đổ vào trong nước và người sở hữu vốn ngoại tệ trong
nước sẽ có xu hướng chuyển đồng ngoại tệ của mình sang nội tệ để thu lãi suất cao hơn do tác
động đó ảnh hưởng đến cung cầu nội – ngoại tệ làm cho tỷ giá sẽ giảm (nội tệ tăng) và ngược lại
muốn tăng tỷ giá, giảm giá trị đồng nội tệ sẽ tiến hành giảm lãi suất tái chiết khấu.
Tuy nhiên, lãi suất do cung cầu của vốn vay quyết định. Còn tỷ giá thì do quan hệ cung cầu
về ngoại tệ quyết định. Điều này có nghĩa là những yếu tố để hình thành tỷ giá và lãi suất là
không giống nhau, do vậy biến động của lãi suất không nhất thiết kéo theo biến động của tỷ giá.

i
0
D
0
S
0
S
1
i
1
D
1
Đồ thị 1.2: Ảnh hưởng ngoại hối đến TGHĐ
i
0
D
S
0
S
1
i
1
Đồ thị 1.3: Ảnh hưởng của chính sách tiền tệ mở rộng của NHTW đến lãi suất
Nếu như CP muốn duy trì TGHĐ cố định thì cần phải có một quỹ dự trữ ngoại hối đủ
mạnh để can thiệp mạnh mẽ vào cung cầu thị trường ngoại hối. Nếu có sự gia tăng về cầu ngoại
tệ thì NHTW tiến hành bán ngoại tệ, làm giảm quỹ dự trữ ngoại tệ để ổn định tỷ giá và ngược lại
cầu nội tệ tăng sẽ làm gia tăng quỹ dự trữ ngoại tệ. Tuy nhiên với chính sách TGHĐ cố định thì
chính sách tiền tệ của ngân hàng trug ương tỏ ra kém hiệu quả, nếu như thực hiện chính sách
tiền tệ mở rộng, làm cho cung tiền tăng (S
0

1


i
0
). Như vậy chính sách tài chính tỏ ra hiệu quả trong duy trì tỷ giá
ổn định.
- Trong trường hợp TGHĐ linh hoạt và sự di chuyển vốn hoàn hảo:
Trong chính sách TGHĐ linh hoạt, cung cầu ngoại tê trên thị trường ngoại hối sẽ định đoạt
giá trị của đồng nội tệ; cầu ngoaị tệ tăng, thì đồng nội tệ mất giá, ngược lại cung ngoại tệ tăng
(S
0
S
1
) thì đồng nội tệ lên giá. Nếu NHTW thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng thì cung tiền
tăng lên làm cho lãi suất giảm xuống (i
1


i
0
), cầu ngoại tệ tăng lên do có xu hướng chuyển dịch
vốn ra nước ngoài. Thay vì bán dự trữ ngoại tệ thì NHTW để nội tệ giảm giá. Điều này khiến
xuất khẩu tăng lên làm cầu ngoại tệ tăng, đường D tăng lên (D
0
D
1
) làm lãi suất đạt mức lãi
suất ban đầu. Do vậy làm giảm áp lực phá giá tiền tệ. Nếu CP thực hiện chính sách tài khóa mở
rộng thi lãi suất trên thị trường có xu hướng tăng lên (i

Tuy nhiên, phá giá tiên tệ thường gây tác động tiêu cực đối với thị trường ngoại hối. Kinh
nghiệm của các nước cho thấy, biện pháp này chỉ thành công khi mà nền kinh tế có tiềm
năng kinh tế vững chắc.
3.4.5. Nâng giá tiền tệ
Nâng giá tiền tệ là một công cụ ngược lại so với công cụ phá giá tiền tệ. Đây là Đây là việc
NHTW chính thức nâng giá đơn vị tiền tệ nước mình so với ngoại tệ, làm cho TGHĐ giảm
xuống. Nâng giá tiền tệ chỉ thực hiện khi giá hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu được đánh giá là có
giá thấp hơn giá của thị trường thế giới; hạn chế xuất khẩu nhằm cân bằng cán cân thương mại
quốc tế tránh được sức ép của các nước khác trong thương mại mậu dịch quốc tế hoặc tăng khả
năng nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu, kiềm chế lạm phát. Những quốc gia có nền kinh tế phát
triển quá “nóng” muốn làm giảm bớt sự phát triển “nóng” của nền kinh tế thì thường dùng biện
pháp nâng giá tiền tệ để giảm đầu tư trong nước và tăng cường chuyển nguồn vốn ra nước ngoài.
D
1
i
0
D
0
S
0
S
1
i
1
Đồ thị 1.5: Chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tiền tệ ảnh hưởng
đến lãi suất.
3.5. Tác động của chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đoái
3.5.1. Tác động tới hoạt động ngoại thương
Mỗi quốc gia khi tham gia vào thương mại quốc tế đều có thể thu được lợi, những lợi ích
cụ thể này lại phụ thuộc vào điều kiện và trình độ phát triển của từng quốc gia. Với bất kỳ quốc

lực, lợi thế so sánh ở nhiều ngành không bộc lộ rõ nữa, cho nên để tiếp tục duy trì thương mại
quốc tế lợi thế về qui mô thực hiện được coi là biện pháp chiếm lược. Một nước cùng một lúc có
thể giảm bớt số loại sản phẩm tự mình sản xuất và tăng thêm sự đa dạng của hàng hoá cho người
tiêu dùng trong nước. Do sản xuất ít chủng loại hơn, nước đó có thể sản xuất mỗi loại hàng hoá
ở qui mô lớn hơn, với năng xuất lao động cao hơn và chi phí thấp hơn. Vì vậy, người sản xuất sẽ
có lợi nhuận cao hơn và người tiêu dùng cũng được lợi hơn bởi chi phí rẻ hơn và có phạm vi lựa
chọn rộng hơn.
Dựa vào lợi thế so sánh và lợi thế quy mô mà chính sách điều chỉnh TGHĐ thông qua điều
chỉnh tỷ giá có tác dụng thúc đẩy hoạt động ngoại thương mà biểu hiện chính là hoạt động xuất
khẩu và hoạt động nhập khẩu hàng hóa giữa các quốc gia được đẩy mạnh hơn. Các quốc gia có
thể xuất khẩu những mặt hàng mà mình có lợi thế và nhập khẩu những mặt hàng mà lợi thế của
quốc gia ít hơn so với quốc gia khác. Từ đó hoạt động thương mại quốc tế được mở rộng và đẩy
mạnh hơn.
3.5.2. Tác động tới hoạt động thương mại trong nước
Chính sách điều chỉnh TGHĐ tạo nên những thay đổi của TGHĐ ảnh hưởng trực tiếp đến
mức giá cả hàng hoá dịch vụ xuất nhập khẩu của một nước. Khi tỷ giá thay đổi theo hướng làm
giảm sức mua đồng nội tệ, thì giá cả hàng hoá dịch vụ của nước đó sẽ tương đối rẻ hơn so với
hàng hoá dịch vụ nước khác ở cả thị trường trong nước và thị trường quốc tế. Dẫn đến cầu về
xuất khẩu hàng hoá dịch vụ của nước đó sẽ tăng, cầu về hàng hoá dịch vụ nước ngoài của nước
đó sẽ giảm tạo ra sự thặng dư của cán cân thương mại. Do cầu hàng hóa trong nước tăng lên
giúp thúc đẩy hoạt động sản xuất, trao đổi, buôn bán trong nước, thương mại trong nước dễ
dàng phát triển.Ví dụ: Trước đây 1USD = 14000VND. 1 chiếc máy tính giá 750USD được nhập
khẩu và tính ra đồng nội tệ của Việt Nam là 10.500.000VND. Đến nay, giả sử giá chiếc máy
tính không đổi, trong khi tỷ giá thay đổi 1USD = 15000VND thì cũng chiếc máy tính đó được
nhập khẩu và bán với giá 11.250.000VND. Giá đắt hơn, nhu cầu nhập máy tính sẽ giảm. Nhưng
đối với xuất khẩu thì ngược lại khi tỷ giá 1USD = l4000VND, giá xuất khẩu 1 tấn gạo với chi
phí sản xuất là 3,5 triệu VND là 250USD, nhưng với chi phí sản xuất không đổi thì giá bán chỉ
khoảng 233USD. Giá giảm nhu cầu xuất khẩu sẽ tăng.
Trong trường hợp ngược lại, khi tỷ giá biến đổi theo hướng làm tăng giá đồng nội tệ. Sự
tăng giá của đồng nội tệ có tác động hạn chế xuất khẩu vì cùng một lượng ngoại tệ thu được do

của đất nước.
3.6. Căn cứ lựa chọn chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đoái
Việc lựa chọn chính sách điều chỉnh TGHĐ xoay quanh hai vấn đề chính: mối quan hệ
giữa nền kinh tế trong nước với các nước khác và với toàn cầu và mức độ linh hoạt của các
chính sách kinh tế trong nước.
- Vấn đề mối quan hệ giữa các nền kinh tế chính là lựa chọn hệ thống mở cửa hay đóng
cửa. Các phương án đặt ra cho việc lựa chọn hệ thống tỷ giá hướng về tỷ giá cố định hoặc tỷ giá
linh hoạt hoặc kết hợp cả hai. Nếu quốc gia lựa chọn hệ thống tỷ giá cố định, là tương đương với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status