Phân tích ảnh hưởng của sự biến động tỷ giá hối đoái đến hoạt động nhập khẩu thiết bị vệ sinh từ thị trường italia của công ty cổ phần d&t - Pdf 85

Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh
tế
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Tỷ giá hối đoái là một trong những vấn đề phức tạp và nhạy cảm không chỉ ở
riêng Việt Nam mà còn là sự tranh luận gay gắt giữa các quốc gia, điển hình là Hoa Kỳ
và Trung Quốc trong vấn đề định giá đồng nhân dân tệ. Việc Trung Quốc giữ mệnh giá
đồng CNY thấp đã khiến cho các doanh nghiệp Hoa Kỳ gặp rất nhiều khó khăn, thâm
hụt thương mại của Hoa Kỳ với Trung Quốc ngày càng gia tăng. Vì vậy, vấn đề tỷ giá
đang thu hút sự chú ý đặc biệt của các nhà nghiên cứu, các chính trị gia và nó đang trở
thành một chủ đề thảo luận sôi nổi và chưa có hồi kết trên toàn thế giới.
Toàn cầu hóa đang trở thành một xu thế chung trên toàn thế giới, dù muốn hay
không các quốc gia cũng không thể đứng ngoài xu thế này. Các quốc gia ngày càng bị
ràng buộc lẫn nhau về khía cạnh kinh tế, thương mại quốc tế làm cầu nối cho các quốc
gia. Cùng với sự mở rộng buôn bán và hội nhập kinh tế trên phạm vi thế giới, các doanh
nhân đã nhận thấy rằngng lợi nhuận mà họ thu được trong kinh doanh không chỉ chịu
ảnh hưởng của việc trao đổi hàng hóa thông thường mà lợi nhuận còn chịu ảnh hưởng
của việc trao đổi mua bán các đồng tiền với nhau, hay chính là chịu sự ảnh hưởng của
sự biến động tỷ giá trên thị trường. Trong thời gian qua chính sách tỷ giá đã có nhiều sự
thay đổi rõ rệt, đã đem lại nhiều kết quả khả quan, đóng góp cho sự ổn định và phát
triển kinh tế. Trong đợt khủng hoảng kinh tế thế giới vừa qua do sự biến động của tỷ giá
như đồng USD, EUR... đã ảnh hưởng đến toàn bộ các nước. Việt Nam là một nước đang
phát triển, đang dần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, do đó cuộc khủng hoảng đã
tác động rất lớn. Ngành xuất nhập khẩu chịu ảnh hưởng rất lớn từ sự biến động tỷ giá
VND/USD. Đối với các doanh nghiệp nhập khẩu nói chung và công ty cổ phần D&T
nói riêng việc biến động tỷ giá đã hạn chế việc kinh doanh và kéo theo đó là các cá
nhân tiêu dùng cũng bị hạn chế theo.
1.2. Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
Nghiên cứu sự vận động của tỷ giá hối đoái là một vấn đề phức tạp nhưng cũng
đầy hấp dẫn, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế phát triển và vận động không ngừng. Tỷ

- Tỷ giá bán: Là tỷ giá mà ngân hàng bán ngoại hối ra.
1.5.1.3. Các nhân tố tác động đến tỷ giá hối đoái
Có 4 nhân tố tác động đến tỷ giá hối đoái: Cán cân thương mại, dòng vận động
của vốn, tỷ lệ lạm phát tương đối, tâm lý đám đông và đầu cơ tích trữ ngoại tệ.
 Cán cân thương mại: Cán cân thương mại của một nước là chênh lệch
giữa kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu. Một nền kinh tế khi xuất khẩu hàng
hoá và dịch vụ sẽ thu được ngoại tệ. Để tiếp tục công việc kinh doanh, các nhà xuất
khẩu phải bán ngoại tệ lấy nội tệ, mua hàng hoá dịch vụ trong nước xuất khẩu ra nước
ngoài. Trên thị trường cung ngoại tệ sẽ tăng, làm tỷ giá hối đoái giảm. Ngược lại, khi
nhập khẩu hàng hoá dịch vụ, các nhà nhập khẩu cần ngoại tệ để thanh toán cho đối tác
và đi mua ngoại tệ trên thị trường. Hành động này làm cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái
Phan Xuân Hưng
Lớp K43F6
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh
tế
tăng. Tác động của hai hiện tượng trên là ngược chiều trong việc hình thành tỷ giá hối
đoái. Tỷ giá hối đoái cuối cùng sẽ tăng hay giảm phụ thuộc vào mức độ tác động mạnh
yếu của các nhân tố, đó chính là cán cân thương mại. Nếu một nước có thặng dư thương
mại, cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ, tỷ giá hối đoái sẽ giảm, đồng nội tệ lên giá. Khi
thâm hụt thương mại, tỷ giá hối đoái sẽ tăng, đồng nội tệ giảm giá.
 Dòng vận động của vốn: Cư dân trong nước dùng tiền mua tài sản ở nước
ngoài, có thể là đầu tư trực tiếp (xây dựng nhà máy, thành lập các doang nghiệp...) hay
đầu tư gián tiếp (mua cổ phiếu, trái phiếu...). Những nhà đầu tư này muốn thực hiện
hoạt động kinh doanh trên cần phải có ngoại tệ. Họ mua ngoại tệ trên thị trường, luồng
vốn ngoại tệ chảy ra nước ngoài, tỷ giá hối đoái sẽ tăng. Ngược lại một nước nhận đầu
tư từ nước ngoài, luồng vốn ngoại tệ chảy vào trong nước, làm cho cung ngoại tệ tăng,
tỷ giá hối đoái giảm. Đầu tư ra nước ngoài ròng là hiệu số giữa luồng vốn chảy ra và
luồng vốn chảy vào một nước. Khi đầu tư ra nước ngoài ròng dương, luồng vốn chảy
vào trong nước nhỏ hơn dòng vốn chảy ra nước ngoài, tỷ giá hối đoái tăng. Tỷ giá hối
đoái sẽ giảm trong trường hợp ngược lại, đầu tư ra nước ngoài ròng âm. Theo quy luật

trong tương lai, mọi người đổ xô đi mua ngoại tệ thì tỷ giá sẽ tăng ngay trong hiện tại.
Mặt khác, giá ngoại tệ rất nhạy cảm với thông tin cũng như các chính sách của chính
phủ. Nếu có tin đồn rằng chính phủ sẽ hỗ trợ xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu để giảm
thâm hụt thương mại, mọi người sẽ đồng loạt bán ngoại tệ và tỷ giá hối đoái sẽ giảm
nhanh chóng.
 Đầu cơ tích trữ ngoại tệ: Đầu cơ có thể gây ra những thay đổi lớn về tiền,
đặc biệt trong điều kiện thông tin liên lạc hiện đại và công nghệ máy tính hiện đại có thể
trao đổi hàng tỷ USD giá trị tiền tệ mỗi ngày.
Trong thực tế, tỷ giá hối đoái bị chi phối đồng thời bởi tất cả các yếu tố trên với
mức độ mạnh yếu khác nhau của từng nhân tố, tuỳ vào thời gian và hoàn cảnh nhất
định. Việc tách rời và lượng hoá ảnh hưởng của từng nhân tố là việc làm không thể. Các
nhân tố trên không tách rời mà tác động tổng hợp, có thể tăng cường hay át chế lẫn
nhau, đến tỷ giá hối đoái làm cho tỷ giá hối đoái luôn biến động không ngừng.
1.5.2. Thị trường ngoại hối
1.5.2.1. Khái niệm thị trường ngoại hối
Thị trường ngoại hối hay thị trường hối đoái ngoại tệ là thị trường tiền tệ quốc
tế diễn ra các hoạt động giao dịch các ngoại tệ và các phương tiện thanh toán có giá trị
như ngoại tệ.
1.5.2.2. Cân bằng trên thị trường ngoại hối
Tỷ giá hối đoái được xác định dựa vào cung – cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại
hối.
 Cầu về tiền trên thị trường ngoại hối
Cầu về tiền của quốc gia 1 hình thành trên thị trường ngoại hối khi người tiêu
dùng từ các quốc gia khác mua các sản phẩm được sản xuất ra tại quốc gia 1.
Đường cầu về một loại tiền là hàm tỷ giá hối đoái của nó, dốc xuống phía bên
phải, biểu hiện nếu tỷ giá hối đoái càng cao thì hàng hóa của quốc gia đó càng trở lên
đắt hơn đối với những người nước ngoài.
Phan Xuân Hưng
Lớp K43F6
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh

D
Q
e
0
Q
0
e
(USD/VND)
E
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh
tế
sẽ dùng các công cụ của mình can thiệp vào thị trường ngoại tệ để đảm bảo mức tỷ giá
hối đoái cố định đã công bố.
Để hiểu rõ hơn về chế độ tỷ giá này, chúng ta hãy cùng phân tích tác động của
chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế trong điều kiện tỷ giá hối đoái là cố định.
Hình 1.2: Tác động của chính sách tiền tệ trong điều kiện tỷ giá cố định
- Ban đầu nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng bên trong và bên ngoài tại E
1
- Khi chính phủ sử dụng chính sách tiền tệ lỏng (giảm lãi suất, tăng cung tiền vào
nền kinh tế) làm cho đường LM dịch chuyển sang phải, từ LM
1
sang LM
2
.
- Điểm cân bằng dịch chuyển từ E
1
sang E
2
, nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng
bên trong với lãi suất r

xác định trên cơ sở cung – cầu ngoại tệ của thị trường. NHNN không có bất kỳ can thiệp
nào vào thị trường.
Để hiểu rõ hơn về những tác động của chế độ tỷ giá này, chúng ta hãy cùng phân
tích tác động của chính sách tiền tệ trong điều kiện tỷ giá thả nổi.
Hình 1.3: Tác động của chính sác tế tổng hợp có liên quan đến các phạm trù kinh tế
khác và đóng vai trò như là một công cụ có hiệu lực, có hiệu quả trong việc tác động
đến quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi nước, đồng thời là yếu tố cực kỳ quan trọng đối
với chính sách tiền tệ quốc gia. Trong khoảng thời gian rất lâu, các nhà kinh tế đã và
đang tiếp tục đứng trước một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt này và cố gắng tiếp cận
nó, mong tìm ra một nhận thức đúng đắn để từ đó xác định và đưa vào vận hành trong
thực tế một tỷ giá hối đoái phù hợp, nhằm biến nó trở thành một công cụ tích cực trong
quản lý nền kinh tế ở mỗi quốc gia.
Tỷ giá hối đoái, như các nhà kinh tế thường gọi là một loại “giá của giá”, bị chi
phối bởi nhiều yếu tố và rất khó nhận thức, xuất phát từ tính trừu tượng vốn có của bản
thân nó. Tỷ giá hối đoái không phải là cái gì để ngắm mà trái lại, là cái mà chúng ta phải
tiếp cận hàng ngày, hàng giờ, sử dụng nó trong mọi quan hệ giao dịch quốc tế, trong
việc xử lý những vấn đề cụ thể liên quan đến các chính sách kinh tế trong nước và quốc
tế. Và do vậy, nhận thức một cách đúng đắn và xử lý một cách tỷ giá hối đoái là một
nghệ thuật.
Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế phức tạp và rất nhạy cảm. Sự biến động
của nó đã khiến cho nhiều quốc gia gặp khó khăn, mâu thuẫn chẳng hạn như Hoa Kỳ và
Trung Quốc hiện nay. Do đó, đã thu hút được nhiều sự chú ý của các nhà nghiên cứu,
các chính trị gia, các học giả và đã có nhiều công trình nghiên cứu đã được đưa ra như:
- “Biến động tỷ giá ngoại tệ (đồng USD, EUR) và hoạt động xuất khẩu” của
PGS. TS. Nguyễn Thị Quy. Đây là một đề tài rất lớn nói lên được một cách cụ thể tỷ giá
hối đoái ảnh hưởng tới hoạt động ngoại thương mà nhà nước ta đang rất quan tâm và tạo
mọi điều kiện để phát triển.
- “Một số vấn đề về chính sách tỷ giá hối đoái cho mục tiêu phát triển kinh tế
Việt Nam” của giáo GS.TS. Lê Văn Tư và TS. Nguyễn Quốc Khánh. Nhà xuất bản
thống kê. Trong cuốn sách đã trình bày những vấn đề như: Tổng luận về tỷ giá hối đoái

Phan Xuân Hưng
Lớp K43F6
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh
tế
- Phương pháp phỏng vấn: Là phương pháp thu thập thông tin nhanh dựa trên
cách đưa ra những câu hỏi cho đối tượng được phỏng vấn để thu thập thông tin cần
thiết.
- Phương pháp sử dụng phiếu điều tra: Điều tra khảo sát qua phiếu điều tra là
phương pháp thu thập dữ liệu thông dụng nhất trong nghiên cứu kinh tế. Phương pháp
này dùng để lấy thông tin từ một số lượng lớn đối tượng trên một phạm vi rộng.
 Dữ liệu thứ cấp
Phương pháp thu thập dữ liệu qua các nguồn thứ cấp: Đó là việc thu thập dữ liệu
trên các nguồn thứ cấp. Loại này có nguồn gốc từ tài liệu sơ cấp được phân tích, giải
thích, thảo luận.
Dữ liệu được thu thập từ các nguồn: Dữ liệu từ phòng kế toán, phòng kinh doanh
công ty cổ phần D&T, báo chí, trên internet.
2.1.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
Phương pháp này tập trung phân tích, xử lý thông tin, dữ liệu thu thập được tùy
theo mục đích của người sử dụng.
- Bước 1: Xác định mục tiêu phân tích dữ liệu. Trong báo cáo chuyên đề này
phân tích dữ liệu nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng tác động của tỷ giá hối đoái đến
hoạt động nhập khẩu thiết bị vệ sinh từ thị trường Italia của Công ty cổ phần D&T.
- Bước 2: Lựa chọn tài liệu để phân tích
- Bước 3: Tiến hành lập báo cáo tổng hợp từ đó nêu ra những kết luận, đề xuất
hướng giải quyết.
2.2. Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng của nhân tố môi trường đến hoạt
động nhập khât thiết bị vệ sinh từ thị trường Italia của Công ty cổ phần D&T
2.2.1. Tổng quan tình hình chung
Trong vài năm trở lại đây thương mại quốc tế nước ta đã có nhiều thay đổi do
nước ta đã là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO, việc phải mở cửa thị

tế
Hình 2.2: Diễn biến tỷ giá VND/USD năm 2009
(Nguồn: Tổng hợp từ website của NHNN www.sbv.gov.vn)
Trong năm 2009 tỷ giá liên tục tăng, biến động mạnh trên cả thị trường liên ngân
hàng và thị trường tự do. Từ tháng 1 đến tháng 3 tỷ giá dao động trong khoảng 17.450 –
17.700 đồng/USD trên thị trường liên ngân hàng. Từ tháng 4 đến tháng 8 tỷ giá trên cả
hai thị trường dao động từ 18.180 – 18.500 đồng/USD. Tỷ giá biến động dữ dội trong 2
tháng 10 và 11 từ 18.545 – 19.300 đồng/USD có lúc đạt đỉnh 20.000 đồng/USD.
- Năm 2010: Trên đà tăng của giá vàng và lãi suất, tỷ giá tiếp tục biến động khiến
không chỉ các nhà quản lý mà cả ngân hàng, doanh nghiệp và người tiêu dùng nhiều
phen chóng mặt.
Hình 2.3: Diễn biến tỷ giá VND/USD trong năm 2010
(Nguồn: Tổng hợp từ website của NHNN www.sbv.gov.vn)
Phan Xuân Hưng
Lớp K43F6
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh
tế
- Năm 2011: Trong 4 tháng đầu năm 2011 tỷ giá hối đoái VND/USD đã biến
động mạnh với động thái điều chỉnh tỷ giá cặp tiền VND/USD tăng tới 9,3% vào ngày
11/2/2011.
Hình 2.4: Diễn biến tỷ giá VND/USD 4 tháng đầu năm 2011
(Nguồn: Tổng hợp từ website của NHNN www.sbv.gov.vn)
Bằng một loạt biện pháp kỹ thuật, NHNN đã đưa tỷ giá vào tầm kiểm soát, hạn
chế găm giữ ngoại tệ để doanh nghiệp và người dân nắm giữ VND. Nhưng đằng sau đó,
lãi suất vẫn tăng bất chấp giới hạn 14%/năm, nhiều ngân hàng đang rất mệt mỏi vì giữ
thanh khoản.
Hình 2.5: Biểu đồ biến động tỷ giá hối đoái VND/USD từ năm 2008 đến tháng
4/2011
Nhìn vào đồ thị trên ta thấy tỷ giá hối đoái VND/USD dao động rất lớn từ năm
2008 đến tháng 4/2011. Tỷ giá từ mức 15.560 đồng/USD lên 21.230 đồng/USD, mức

doanh nghiệp. Những thay đổi cơ bản trong quản lý quá trình xuất nhập khẩu của Nhà
nước cũng ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu.
- Ảnh hưởng của môi trường cạnh tranh ngành
Hiện nay trên thị trường thiết bị vệ sinh có rất nhiều thương hiệu, sự cạnh tranh
là rất khốc liệt, các nhãn hiệu đua nhau tung ra các chương trình khuyến mãi, chăm sóc
khách hàng hấp dẫn. Vì vậy để tồn tại trên thị trường, bản thân mỗi doanh nghiệp phải
tạo dựng được chỗ đứng cho mình, tạo được niềm tin từ người tiêu dùng, bằng việc đưa
Phan Xuân Hưng
Lớp K43F6
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh
tế
ra thị trường những sản phẩm có kiểu dáng thiết kế hiện đại, chất lượng phải được đảm
bảo.
 Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái là nhân tố quan trọng thực hiện
chiến lược hướng ngoại, đẩy mạnh xuất nhập khẩu. Một tỷ giá hối đoái chính thức được
điều chỉnh theo quá trình lạm phát có liên quan gọi là tỷ giá hối đoái được điều chỉnh
theo quá trình lạm phát có liên quan hay là tỷ giá hối đoái thực tế. Trong quan hệ buôn
bán ngoại thương, tỷ giá hối đoái có vai trò quan trọng, tác động lớn tới hiệu quả hoạt
động xuất nhập khẩu. Tỷ giá hối đoái tăng hay giảm sẽ làm thay đổi giá trị hàng hoá
xuất nhập khẩu, ảnh hưởng tới khả năng sinh lời của doanh nghiệp kinh doanh xuất
nhập khẩu. Có thể đưa ra ví dụ trong xuất khẩu như: Nếu tỷ giá hối đoái chính thức là
không đổi và tỷ giá hối đoái thực tế tăng lên thì các nhà xuất khẩu các sản phẩm sơ chế,
là người bán theo mức giá cả quốc tế nằm ngoài tầm kiểm soát của họ sẽ bị thiệt. Họ
phải chịu chi phí cao hơn do lạm phát trong nước. Hàng xuất khẩu trở nên kém sinh lợi
do ngoại tệ thu được phải bán với tỷ giá hối đoái chính thức cố định không được tăng
lên để bù lại chi phí sản xuất cao hơn. Các nhà xuât khẩu các sản phẩm chế tạo có thể
làm tăng giá cả xuất khẩu của họ để bù đắp lại chi phí nội địa cao hơn, nhưng kết quả
khả năng chiếm lĩnh thị trường sẽ giảm. Họ chỉ có thể giữ nguyên mức giá tính theo
ngoại hối và lợi nhuận thấp. Nếu tình trạng ngược lại là tỷ giá hối đoái thực tế giảm so

ty phải cần một lượng vốn khá lớn, vì vậy công ty phải có kế hoạch huy động các nguồn
vốn một cách hiệu quả. Lý do là vì, điều này không chỉ làm gián đoạn quá trình kinh
doanh của công ty mà còn có khả năng ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu của công ty
do không giao hàng đúng hẹn.
- Nhân tố bộ máy quản lý hay tổ chức hành chính. Là sự tác động trực tiếp của
các cấp lãnh đạo xuống cán bộ công nhân viên nhằm mục đích buộc phải thực hiện một
hoạt động. Để quản lý tập trung thống nhất phải sử dụng phương pháp hành chính. Việc
thiết lập cơ cấu tổ chức của bộ máy doanh nghiệp cũng như cách thức điều hành của các
cấp lãnh đạo là nhân tố quyết định tính hiệu quả trong kinh doanh. Nếu một doanh
nghiệp có cơ cấu tổ chức hợp lý, cách điều hành sáng suốt sẽ góp phần thúc đẩy hiệu
quả hoạt động kinh doanh, ngược lại nếu cơ cấu tổ chức xệch xoạc, cách điều hành kém
cỏi sẽ dẫn đến hiệu quả thấp trong hoạt động kinh doanh.
- Mạng lưới kinh doanh của doanh nghiệp. Kết quả kinh doanh của các doanh
nghiệp ngoại thương phụ thuộc rất lớn vào hệ thống mạng lươí kinh doanh của nó. Một
mạng lưới kinh doanh rộng lớn, với các điểm kinh doanh được bố trí hợp lý là điều kiện
để doanh nghiệp thực hiện các hoạt động kinh doanh như tạo nguồn hàng, vận chuyển,
làm đại lý xuất nhập khẩu ... một cách thuận tiện hơn và do đó góp phần nâng cao hơn
hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu. Nếu mạng lưới kinh doanh là quá thiếu, hoặc bố trí
ở các điểm không hợp lý sẽ gây cản trở cho hoạt động kinh doanh làm triệt tiêu tính
năng động và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường.
- Khả năng cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp. Cơ sở vật chất kỹ thuật của
doanh nghiệp như vốn cố định bao gồm các máy móc, thiết bị chế biến, hệ thống kho
hàng, hệ thống phương tiện vận tải, các điểm thu mua hàng, các đại lý, chi nhánh và
Phan Xuân Hưng
Lớp K43F6
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh
tế
trang thiết bị của nó cùng với vốn lưu động là cơ sở cho hoạt động kinh doanh. Các khả
năng này quy định quy mô, tính chất của lĩnh vực hoạt động xuất nhập khẩu, và vì vậy
cũng góp phần quyết định đến hiệu quả kinh doanh.

Phan Xuân Hưng
Lớp K43F6
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh
tế
Tỷ giá hối đoái ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động nào của doanh nghiệp Việt Nam nói chung
và các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu nói riêng
Frequency Percent Valid Percent
Cumulative
Percent
Valid Doanh thu, lợi nhuận 5 16.7 16.7 16.7
Huy động vốn 4 13.3 13.3 30.0
Chi phí sản xuất 5 16.7 16.7 46.7
Hoạt động xuất nhập khẩu 16 53.3 53.3 100.0
Total
30 100.0 100.0
(Nguồn: Kết quả xử lý phiếu điều tra từ 30 người bằng phần mềm SPSS)
Trong 30 người được điều tra thì có tới 16 người cho rằng tỷ giá hối đoái ảnh
hưởng lớn nhất đến hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp, chiếm 53,3%; tiếp
theo là đến doanh thu lợi nhuận và chi phí sản xuất với cùng số người chọn là 5.
Theo Ông/Bà thì các biện pháp phòng ngừa rủi ro của sự biến động tỷ giá hối đoái của
các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay như thế nào
Frequency Percent Valid Percent
Cumulative
Percent
Valid Rất tốt 1 3.3 8.3 8.3
Tốt 5 16.7 41.7 50.0
Trung bình 3 10.0 25.0 75.0
Kém 3 10.0 25.0 100.0
Total
12 40.0 100.0

không hiệu quả.
 Kết quả phỏng vấn
Sau khi tiến hành phiếu phỏng vấn các chuyên gia, tác giả đã tổng hợp lại như
sau:
- Tất cả những người tham gia điều tra, phỏng vấn đều cho rằng tỷ giá hối đoái
ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nhất là những doanh
nghiệp trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.
- Có 40% số người được hỏi trả lời rằng các doanh nghiệp Việt Nam có những
biện pháp nhằm hạn chế rủi ro của biến động tỷ giá hối đoái. Và 60% những người
được hỏi còn lại trả lời là không cùng câu hỏi trên. Như vậy chúng ta có thể thấy một
thực tế rằng hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa nhận thức đúng những rủi ro
rất lớn của sự biến động tỷ giá hối đoái.
- Trong 40% số người cho rằng các doanh nghiệp Việt Nam có các biện pháp
phòng ngừa rủi ro tỷ giá thì có tới 80% số người được hỏi cho rằng những biện pháp
này không mang lại hiệu quả, 10% cho rằng mang lại ít hiệu quả và 10% cho rằng có
hiệu quả. Điều này chứng tỏ, các doanh nghiệp Việt Nam chưa có kinh nghiệm trong
việc đưa ra các biện pháp phòng ngừa biến động tỷ giá hối đoái.
- Với câu hỏi “Theo Ông/Bà trong thời gian qua, các chính sách mà Chính phủ và
Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện đối với thị trường ngoại hối có hiệu quả như thế
Phan Xuân Hưng
Lớp K43F6
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh
tế
nào?” thì có 70% số người được hỏi cho rằng các chính sách đó là hiệu quả, 20% cho
rằng ít hiệu quả và 10% cho rằng không có hiệu quả.
2.3.2. Dữ liệu thứ cấp
2.3.2.1. Tình hình kinh doanh của Công ty cổ phần D&T từ năm 2008 đến năm
2010
Bảng 2.1: Số liệu về tình hình kinh doanh của Công ty cổ phần D&T trong 3 năm
2008, 2009, 2010

kinh tế nhằm làm tăng doanh thu, đồng thời cũng thể hiện chất lượng sản phẩm của
doanh nghiệp ngày càng được thừa nhận, tạo dựng được uy tín trên thị trường.
Cũng qua bảng phân tích trên ta nhận thấy, tổng chi phí kinh doanh của công ty
tăng tương đối nhanh, năm 2008 là 18,027 tỷ đồng chiếm 82,5% trong tổng doanh thu,
biến động 2008 – 2009 là 19,17%, sang đến năm 2009 đã là 21,483 tỷ đồng chiếm
81,9% trong tổng doanh thu, và đến năm 2010 là 37,783 tỷ đồng chiếm 84.7% trong
tổng doanh thu, biến động 2009 – 2010 là 49,05%.
Ta thấy, chi phí của công ty tăng mạnh trong năm 2010, vượt năm 2009 đến
49,05% , lý giải điều này là do trong năm 2010 nhu cầu về thiết bị vệ sinh tăng, công ty
đã đẩy mạnh nhập khẩu hàng hóa đáp ứng thị trường cộng thêm việc đồng USD lên giá
mạnh đã đẩy tổng chi phí tăng lên như vậy.
Theo dõi bảng trên ta thấy lợi nhuận của Công ty cổ phần D&T tăng đều qua các
năm, năm sau cao hơn năm trước khoảng 22%. Cụ thể lợi nhuận năm 2008 của công ty
là 3,81414 tỷ đồng, năm 2009 là 4,72626 tỷ đồng, tăng 23,9% so với năm 2008 và năm
2010 là 5,76378 tỷ đồng, tăng 21,9% so với năm 2009.
Hình 2.6: Biểu đồ tình hình lợi nhuận các năm 2008, 2009, 2010 của Công ty cổ
phần D&T
(Nguồn: Phòng kế toán Công ty cổ phần D&T)
Quan sát biểu đồ trên ta thấy, lợi nhuận quý IV/2008, quý II/2009, quý I/2010
giảm rõ rệt so với các quý còn lại và đặc biệt là ở quý I/2010 lợi nhuận của công ty chỉ
là 63,82 triệu đồng. Lý giải điều này là do trong thời điểm IV/2008, quý II/2009, quý
I/2010 tỷ giá đồng USD đã có sự biến động mạnh theo chiều hướng tăng giá. Các đơn
hàng nhập khẩu đã ký trước đó nay gặp cú sốc về tỷ giá đã khiến cho công ty phải bù
thêm một khoản không nhỏ chi phí mua ngoại tệ để thanh toán đơn hàng. Trong khi đó
Phan Xuân Hưng
Lớp K43F6
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh
tế
các hợp đồng đã ký kết với các doanh nghiệp trong nước thì không được thanh toán
bằng USD, vì vậy công ty đã phải chịu rủi ro tỷ giá, khiến lợi nhuận giảm mạnh.

31.7
0.267
23.71
0.354
23.41
Quý III 0.189
19.2
0.298
26.46
0.346
22.88
Quý IV 0.179
18.21
0.2106
17.91
0.5961
39.43
Tổng 0.984 100 1.126 100 1.512
100
(Nguồn: Phòng kế toán Công ty cổ phần D&T)
Hình 2.7: Biểu đồ kim ngạch nhập khẩu thiết bị vệ sinh theo quý từ thị trường
Italia của Công ty cổ phần D&T
(Nguồn: Phòng kinh doanh Công ty cổ phần D&T)
Từ bảng số liệu và biểu đồ trên ta thấy:
Phan Xuân Hưng
Lớp K43F6
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh
tế
Thứ nhất, kim ngạch nhập khẩu tăng qua từng năm từ mức 0,984 triệu USD
năm 2008 lên 1,126 triệu USD năm 2009, tăng 14,4%; và 1,512 triệu USD năm 2010,

Phiếu phỏng vấn được các lãnh đạo hàng đầu công ty trả lời đã cho thấy tầm
quan trọng của tỷ giá hối đoái trong một doanh nghiệp chuyên về nhập khẩu như Công
ty cổ phần D&T.
Phiếu điều tra trắc nghiệm được phát ngẫu nhiên với nhiều đối tượng khác nhau
sẽ giúp có cái nhìn tổng quát hơn về tỷ giá hối đoái cũng như các chính sách điều hành
tỷ giá của NHNN.
3.1.1.2. Dữ liệu thứ cấp
- Các dữ liệu về sự biến động của tỷ giá hối đoái trong các năm 2008, 2009, 2010
và 4 tháng đầu năm 2011 được thu thập trên website của NHNN www.sbv.gov.vn là
chính xác, từ các số liệu đó đã giúp phân tích sự biến động của tỷ giá hối đoái một cách
khách quan, qua đó đưa ra các dự báo về biến động của tỷ giá trong tương lai.
- Các số liệu về kim ngạch nhập khẩu thiết bị vệ sinh, tình hình kinh doanh donh
thu, chi phí, lợi nhuận của Công ty cổ phần D&T được thu thập từ phòng kế toán, phòng
kinh doanh của công ty là xác thực, phản ánh đúng tình hình nhập khẩu, kinh doanh của
công ty.
3.1.2. Những thuận lợi và khó khăn trong ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đến hoạt
động nhập khẩu thiết bị vệ sinh từ thị trường Italia của Công ty cổ phần D&T
3.1.2.1. Thuận lợi
- Chính sách tỷ giá hối đoái phù hợp với cung – cầu ngoại tệ trên trên thị trường
với sự can thiệp của Nhà nước đã tạo điều kiện cho sản xuất phát triển. Hoạt động kinh
danh xuất nhập khẩu ngày càng phát triển, cán cân thương mại được cải thiện đồng thời
Phan Xuân Hưng
Lớp K43F6
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh
tế
tăng trưởng kinh tế cao, thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh, tạo công ăn việc làm
và giảm lạm phát.
- Việc ổn định giá trị đồng tiền cùng với những thay đổi hợp lý trong các văn bản
pháp quy, điều chỉnh các văn bản liên quan đến ngoại hối và luật đầu tư nước ngoài ở
Việt Nam đã tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài khá nhanh trong thời gian qua.

Lớp K43F6
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kinh
tế
một mức giá cố định. Nhưng khi điều chỉnh tỷ giá, dẫn đến tiền tính thuế và chi phí
nhập khẩu gia tăng, khi trả hàng, doanh nghiệp bị lỗ rất nhiều.
3.1.2.3. Nguyên nhân của những khó khăn
- Thị trường ngoại hối Việt Nam chưa thực sự phát triển, khối lượng giao dịch
ngoại tệ chưa cao. Các giao dịch kỳ hạn để phòng chống rủi ro tỷ giá chưa phát triển.
Chính vì vậy hoạt động dự báo tỷ giá chưa được chú trọng đúng mức.
- Do các ngân hàng chủ yếu chú trọng tỷ giá giữa USD vàVND nên khi xảy ra
biến động khó đối phó. Cụ thể trong năm 2008 biên độ dao động của USD ở Việt Nam
lớn nên NHNN đã không mua USD, cùng với các doanh nghiệp xuất khẩu không chịu
bán USD dẫn đến hiện tượng cầu lớn hơn cung làm cho USD khan hiếm đã đẩy giá
đồng USD lên cao, trong khi đồng USD đang mất giá nhưng đồng VND cũng bị đe dọa
mất giá theo, hiện tượng này kéo dài hết năm 2009 sang đầu năm 2010, đến tháng 4
đồng USD trở về trạng thái bình thường. Nếu trên thị trường ngoại hối của chúng ta có
nhiều loại như EUR, JPY..thì sẽ tránh được hiện tượng này.
- Tình trạng đầu cơ, găm giữ ngoại tệ còn khá phổ biến. Khối lượng ngoại tệ trôi
nổi ngoài hệ thống ngân hàng chưa được kiểm soát còn rất lớn, NHNN chưa có cơ sở
xác định được chính xác số ngoại tệ này. Những điều này gây khó khăn cho Nhà nước
trong việc quản lý ngoại tệ, làm lãng phí nguồn ngoại tệ quý giá của quốc gia.
- Việc đánh giá tình hình cung- cầu ngoại tệ là rất khó khăn trong khi khả năng
can thiệp và phân phối các công cụ chính sách còn rất hạn chế. Bên cạnh đó, các hệ
thống văn bản hướng dẫn còn chồng chéo, gây khó khăn trong việc cân đối cung- cầu
ngoại tệ của nền kinh tế làm cơ sở hoạch định chính sách tỷ giá.
- Hệ thống thanh toán chưa phát triển dẫn đến hiện tượng sử dụng USD trong
thanh toán còn phổ biến, nhiều cửa hàng kinh doanh còn niêm yết giá bán bằng đồng
USD, điều này dễ dẫn tới hiện tượng đôla hóa nền kinh tế.
3.2. Các kiến nghị đối với vấn đề nghiên cứu
3.2.1. Kiến nghị đối với NHNN và các cơ quan quản lý vĩ mô


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status