TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆPCHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
“ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN HOẠT ĐỘNG
XUẤT NHẬP KHẨU TẠI VIỆT NAM”
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Lê Thị Phương Vy
Sinh viên thực hiện : Trần Thành Danh
Lớp-Khóa : VB2 TCDN – khóa 12
Niên khoá 2009 – 2011
SVTH Trần Thành Danh; Điện thoại: 0927.099.099
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS.Lê Thị Phương Vy
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆPCHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
“ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN HOẠT ĐỘNG
XUẤT NHẬP KHẨU TẠI VIỆT NAM”
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Lê Thị Phương Vy
Sinh viên thực hiện : Trần Thành Danh
Lớp-Khóa : VB2 TCDN – khóa 12
Niên khoá 2009 – 2011
5.1.1 Hợp đồng kỳ hạn 13
5.1.2 Ưu nhược điểm hợp đồng kỳ hạn 14
5.2. Hợp đồng hoán đổi 14
5.2.1 Hợp đồng hoán đổi 14
5.2.2 Ưu nhược điểm hợp đồng hoán đổi 14
SVTH Trần Thành Danh; Điện thoại: 0927.099.099 iii
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS.Lê Thị Phương Vy
5.3. Hợp đồng quyền chọn 15
5.3.1 Hợp đồng quyền chọn 15
5.3.2 Ưu nhược điểm hợp đồng quyền chọn 15
5.4 Hợp đồng giao sau 15
5.4.1 Hợp đồng giao sau 15
5.4.2 Ưu nhược điểm hợp đồng giao sau 16
6. Tổng quan về cơ chế điều hành tỷ giá và tỷ giá ở Việt Nam 16
6.1 Tổng qua về cơ chế điều hành tỷ giá 16
6.1.1 Tỷ giá thả nổi 16
6.1.2 Tỷ giá cố định 17
6.1.3 Tỷ giá thả nổi có điều tiết 18
6.2 Cơ chế điều hành tỷ giá ở Việt Nam 18
II. Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và hoạt động xuất nhập khẩu 18
1. Xuất nhập khẩu và tỷ giá hối đoái 18
1.1.Sự hình thành đường cung tiền tệ 19
1.2.Sự hình thành đường cầu tiền tệ 21
3.1 Khi tỷ giá biến động tăng, đồng nội tệ giảm giá 22
3.2 Khi tỷ giá biến động giảm, đồng nội tệ lên giá 24
Chương II: Tỷ giá hối đoái với hoạt động xuất nhập khẩu của việt nam trong thời
gian qua 25
I. Tổng quan về xuất nhập khẩu của việt nam từ 1986 tới nay 25
II. Tác động của biến động tỷ giá tới hoạt động xuất nhập khẩu trong thời gian
GVHD: ThS.Lê Thị Phương Vy
Mở đầu:
Phần I: Cơ sở lý luận
I. Tỷ giá hối đoái
1. Khái niệm
Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ của một nước tính bằng tiền tệ của một
nước khác.
Tỷ giá hối đoái giữa hai nước là mức giá tại đó đồng tiền của một nước có thể biểu
hiện qua đồng tiền của nước khác.
Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ. Tỷ giá hối
đoái một mặt nó phản ánh sức mua của đồng nội tệ, mặt khác nó thể hiện quan hệ cung
cầu ngoại hối.
2. Cơ chế tỷ giá:
2.1 Khái niệm:
Cơ chế tỷ giá hối đoái là cách thức một đất nước quản lý đồng tiền của mình liên quan
đến các đồng tiền nước ngoài và quản lý thị trường ngoại hối.
Cơ chế tỷ giá hối đoái: là tất cả những quy định pháp luật do chính phủ và ngân hàng
trung ương quy định để điều tiết, quản lý thị trường ngoại hối.
2.2 Phân loại cơ chế tỷ giá
2.2.1 Tỷ giá hối đoái cố định
Tỷ giá hối đoái cố định là một kiểu chế độ tỷ giá hối đoái trong đó giá trị của một
đồng tiền được gắn với giá trị của một đồng tiền khác hay với một rổ tiền tệ, hay với
một thước đo giá trị khác, như vàng chẳng hạn. Khi giá trị tham khảo tăng hoặc giảm,
thì giá trị của đồng tiền neo vào cũng tăng hoặc giảm. Đồng tiền sử dụng chế độ tỷ giá
hối đoái cố định gọi là đồng tiền cố định.
Trong cơ chế tỷ giá hối đoái cố định, chính phủ, bằng các chính sách tài chính tiền tệ
sẽ cố gắng neo tỷ giá lại ở một giá trị nhất định nhằm ổn định thị trường tránh những
SVTH Trần Thành Danh; Điện thoại: 0927.099.099 7
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS.Lê Thị Phương Vy
ổn tỷ giá, từ đó làm trì trệ sự phát triển và hoàn thiện của thị trường các sản phẩm
phòng ngừa rủi ro biến động giá trị tiền tệ.
Tỷ giá hối đoái cố định sẽ làm lây nhiễm lạm phát và thất nghiệp từ quốc gia này
sang các quốc gia khác.
Khi tỷ giá cố định, do lạm phát tăng cao đồng nội tệ bị định giá cao làm giá hàng hóa
trong nước tăng nên quốc gia có lạm phát cao hơn sẽ có xu hướng nhập khẩu hàng
hóa; ngược lại, quốc gia có lạm phát thấp sẽ giảm bớt nhập khẩu từ quốc gia lạm phát
cao. Theo lý thuyết cung cầu, cầu hàng hóa ở quốc gia lạm phát thấp (đồng nội tệ bị
định giá thấp) sẽ tăng vượt khả năng cung hàng hóa làm giá cả hàng hóa của quốc gia
này tăng kéo lạm phát tăng lên. Hay nói cách khác, nước có lạm phát cao đã lây nhiễm
sang nước có lạm phát thấp làm tăng lạm phát ở nước này.
Tuy chế độ tỷ giá hối đoái cố định tạo ra sự ổn định, song việc thực hiện các chính
sách nhằm giữ cho tỷ giá hối đoái cố định khá tốn nhiềm tiềm lực của chính phủ (phải
có đủ dự trự ngoại hối đủ mạnh để can thiệp vào thị trường khi cần thiết), cơ chế này
làm cho chính sách tiền tệ mất hiệu lực. Chính vì thế, chỉ một số ít đồng tiền trên thế
giới sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định. Hầu hết các đồng tiền trên thế giới sử
dụng chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý.
2.2.2 Cơ chế tỷ giá thả nổi
Cơ chế tỷ giá thả nổi hay còn gọi là cơ chế tỷ giá linh hoạt là một cơ chế trong đó tỷ
giá do các lực thị trường quyết định mà không có sự can thiệp của chính phủ. Theo cơ
chế này các Doanh Nghiệp phải dành thời gian và tiềm lực để quản lý rủi ro do giao
động tỷ giá.
Trong cơ chế tỷ giá thả nổi giá, tỷ giá tự do thay đổi theo cung cầu ngoại tệ, chính phủ
không can thiệp vào thị trường ngoại hối. Trong cơ chế này, khi tỷ giá hối đoái tăng thì
đồng nội tệ giảm giá và ngược lại. Đồng tiền của quốc gia có lạm phát thấp sẽ tăng giá
SVTH Trần Thành Danh; Điện thoại: 0927.099.099 9
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS.Lê Thị Phương Vy
và ngược lại, đồng tiền của nước có lạm phát cao hơn sẽ giảm giá. Điều này đã làm
cho cán cân thương mại giữa hai quốc gia cân bằng trở lại và đảm bảo có ngang giá
vào sự hình thành và quản lý tỷ giá này.
Tỷ giá cố định là tỷ giá không biến đổi trong thời gian nào đó.
3.3 Căn cứ vào phương tiện thanh toán quốc tế, tỷ giá được chia ra các loại:
Tỷ giá séc là tỷ giá mua bán các loại séc ngoại tệ
Tỷ giá hối phiếu trả tiền ngay là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu có kỳ hạn bằng
ngoại tệ.
Tỷ giá chuyển khoản là tỷ giá mua bán ngoại hối trong đó việc chuyển khoản ngoại
hối không phải bằng tiền mặt, bằng các chuyển khoản qua ngân hàng.
Tỷ giá tiền mặt là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc chuyển trả ngoại hối bằng tiền
mặt.
3.4 Căn cứ vào thời điểm mua bán ngoại hối
Tỷ giá mở cửa: là tỷ giá vào đẩu giờ giao dịch hay tỷ giá mua bán ngoại hối của
chuyến giao dịch đầu tiên trong ngày.
Tỷ giá đóng cửa: là tỷ giá vào cuối giờ giao dịch hay tỷ giá mua bán ngoại hối của
chuyến giao dịch cuối cùng trong ngày.
Tỷ giá giao nhận ngay: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc giao nhận ngoại hối sẽ
được thực hiện chậm nhất trong vòng hai ngày làm việc.
Tỷ giá giao nhận có kỳ hạn: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc giao nhận ngoại hối
sẽ được thực hiện theo thời hạn nhất định ghi trong hợp đồng ( có thể là 1,2,3 tháng
sau).
3.5 Căn cư vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối của ngân hàng tỷ giá được chia
làm hai loại
Tỷ giá mua: là tỷ giá mà ngân hàng mua ngoại hối vào
Tỷ giá bán: là tỷ giá mà ngân hàng bán ngoại hối ra
SVTH Trần Thành Danh; Điện thoại: 0927.099.099 11
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS.Lê Thị Phương Vy
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái
4.1 Cán cân thanh toán quốc tế
Cán cân thương mại của một nước là chênh lệch giữa kim ngạch xuất khẩu và
4.4 Sự tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế
Mức độ tăng giảm GDP thực tế sẽ làm tăng, giảm cung cầu về ngoại tệ từ đó làm cho
tỷ giá đồng nội tệ so với ngoại tệ giảm đi hoặc tăng lên (thực tế gần đây cho thấy kinh
tế cộng đồng EU tăng lên khi nền kinh tế Mỹ nguội lạnh thì đồng EURO luôn được giá
so với USD, hơn thế USD còn bị mất giá so với cả nhiều đồng tiền khác trên thế giới).
4.5 Hoạt động đầu cơ ngoại tệ
Hoạt động này trực tiếp tác động đến cung cầu về ngoại tệ từ đó làm cho tỷ giá
hối đoái biến động. Khi một nhà đầu cơ dự đoán giá của một ngoại tệ nào đó trong thời
gian tới sẽ tăng họ sẽ dùng nội tệ mua ồ ạt số lượng ngoại tệ trên thị trường làm cho
ngoại tệ này trở nên khan hiếm dẫn đến tỷ giá ngoại tệ sẽ tăng. Ngược lại, nếu anh ta
dự đoán ngoại tệ nào đó sẽ sụt giá thì sẽ bán mạnh số ngoại tệ đó ra thị trường làm
cung vượt cầu, do đó tỷ giá ngoại tệ sẽ giảm.
4.6 Các yếu tố khác
• Sự ưa thích hàng ngoại so với hàng nội: Khi dân chúng “sùng bái” hàng ngoại
thì nhu cầu ngoại tệ sẽ tăng, dẫn đến tỷ giá ngoại tệ tăng.
• Tình trạng buôn lậu và gian lận thương mại làm tăng nhu cầu chi ngoại tệ, làm
thất thoát ngoại tệ và vàng mà Nhà nước không kiểm soát được, do đó cũng có
tác động đến tỷ giá hối đoái.
• Sự tác động của các sự kiện bất thường về kinh tế xã hội như chiến tranh,
khủng bố, khủng hoảng chính trị, sự cố thiên tai, dịch bệnh cũng có những tác
động nhất định đến sự biến động của tỷ giá hối
5. Hợp đồng kỳ hạn và các công cụ phái sinh
5.1. Hợp đồng kỳ hạn
5.1.1 Hợp đồng kỳ hạn
Để tránh rủi ro tỷ giá phát sinh, các Doanh Nghiệp cần liên hệ với ngân hàng thương
mại để mua hay bán ngoại tệ theo hợp đồng kỳ hạn. Ngân hàng sẽ dựa vào tỷ giá giao
ngay ở thời điểm hiện tại, lãi suất ngắn hạn của ngoại tệ và nội tệ, và thời hạn hợp
đồng để xác định và chào tỷ giá mua ngoại tệ kỳ hạn cho công ty có khoản phải thu
trong tương lai; hay ngân hàng chào tỷ giá bán ngoại tệ kỳ hạn cho công ty có khoản
SVTH Trần Thành Danh; Điện thoại: 0927.099.099 13
như tỷ giá mua giao ngay ở thời điểm đáo hạn tăng cao hơn tỷ giá mua kỳ hạn hoặc tỷ
SVTH Trần Thành Danh; Điện thoại: 0927.099.099 14
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS.Lê Thị Phương Vy
giá bán giao ngay ở thời điểm đáo hạn thấp hơn tỷ giá bán kỳ hạn đã thỏa thuận với
ngân hàng.
5.3. Hợp đồng quyền chọn
5.3.1 Hợp đồng quyền chọn
Để phòng tránh tổn thất giao dịch do biến động tỷ giá ngoại tệ, Doanh Nghiệp có
khoảng phải trả hoặc phải thu trong tương lai có thể mau quyền chọn mua hoặc quyền
chọn bán ngoại tệ, có trị giá và thời hạn tương đương với trị giá và thời hạn thanh toán
của các khoản phải trả và phải thu đó, từ ngân hàng thương mại hoặc trên thị trường
quyền chọn. thong qua hợp đồng quyền chọn ngoại tệ đó, Doanh Nghiệp có thể biết
trước được doanh thu tối thiểu thu được khi bán ngoại tệ trong hợp đồng quyền chọn
bán hoặc chi phí tối đa phải bỏ ra để có được số ngoại tệ trong hợp đồng quyền chọn
mua bất chấp sự biến động của tỷ giá trên thị trường trong tương lai. Nhờ vậy, rủi ro tỷ
giá đã được kiểm soát
5.3.2 Ưu nhược điểm hợp đồng quyền chọn
Sử dụng hợp đồng quyền chọn như là phương pháp phòng ngừa rủi ro ngoại hối có ưu
điểm là giúp công ty tận dụng được cơ hội đầu cơ nếu như tỷ giá biến động thuận lợi.
Có thể nói hợp đồng quyền chọn, với tính chất linh hoạt của nó, là hợp đồng cho phép
cong ty đạt được cả hai mục tiêu: phòng ngừa rủi ro và đầu cơ. Tuy nhiên, nhược điểm
của nó là công ty phải bỏ chi phí ra mua quyền chọn, cho dù có thực hiện hay không
thực hiện quyền chọn. Cho nên, hợp đồng quyền chọn mau và quyền chọn mua và
quyền chọn bán có thể được lựa chọn sử dụng như là phương pháp phòng ngừa rủi ro
ngoại hối khi nào có một thị trường quyền chọn tập trung hoặc phi tập trung sẵn sang
cho loại giao dịch này. Mặc khác, nếu sự biến động tỷ giá của một loại ngoại tệ nào đó
so với nội tệ rất khó dự đoán thì công ty nên chọn hợp đồng quyền chọn như là giải
pháp phòng ngừa rủi ro ngoại hối.
5.4 Hợp đồng giao sau
6.1 Tổng qua về cơ chế điều hành tỷ giá
6.1.1 Tỷ giá thả nổi
Chế độ tỷ giá thả nổi hay còn gọi là chế độ tỷ giá linh hoạt là một chế độ trong đó giá
trị của một đồng tiền được phép dao động trên thị trường ngoại hối. Đồng tiền sử dụng
chế độ tỷ giá thả nổi được gọi là một đồng tiền thả nổi.
SVTH Trần Thành Danh; Điện thoại: 0927.099.099 16
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS.Lê Thị Phương Vy
Nói chung, các nhà kinh tế đều cho rằng, trong phần lớn trường hợp, chế độ tỷ giá thả
nổi tốt hơn chế độ tỷ giá cố định bởi vì tỷ giá thả nổi nhạy với thị trường ngoại hối.
Điều này cho phép làm dịu tác động của các cú sốc và chu kỳ kinh doanh nước ngoài.
Thêm vào đó, nó không bóp méo các hoạt động kinh tế.
6.1.2 Tỷ giá cố định
Tỷ giá hối đoái cố định, đôi khi còn được gọi là tỷ giá hối đoái neo, là một kiểu chế độ
tỷ giá hối đoái trong đó giá trị của một đồng tiền được gắn với giá trị của một đồng
tiền khác hay với một rổ các đồng tiền khác, hay với một thước đo giá trị khác, như
vàng chẳng hạn. Khi giá trị tham khảo tăng hoặc giảm, thì giá trị của đồng tiền neo
vào cũng tăng hoặc giảm. Đồng tiền sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định gọi là đồng
tiền cố định. Tỷ giá hối đoái cố định là một lựa chọn chế độ tỷ giá ngược hoàn toàn
với tỷ giá hối đoái thả nổi.
Mặc dù việc thực hiện chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi sẽ hạn chế khả năng của chính
phủ trong vận hành một chính sách tiền tệ nội địa độc lập nhằm duy trì ổn định kinh tế
trong nước, song trong thực tế, nhiều chính phủ vẫn thích chế độ tỷ giá hối đoái cố
định bởi nó tạo ra sự ổn định. Trong lịch sử, từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai đã
từng tồn tại hệ thống Bretton Woods cho phép Tây Âu và Nhật Bản có được tỷ giá cố
định so với dollar Mỹ cho đến tận năm 1970. Gần đây, Trung Quốc, Hong Kong và
Malaysia đã rất thành công trong việc duy trì tỷ giá hối đoái cố định để giữ ổn định
kinh tế trong nước. Đồng euro hiện nay cũng có thể được xem là một chế độ tỷ giá hối
đoái cố định giữa các quốc gia châu Âu tham gia.
Nhiều quan điểm cho rằng tỷ giá hối đoái cố định quá cứng nhắc nên che mất những
được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật
Nhập Khẩu:
Nhập khẩu, trong lý luận thương mại quốc tế, là việc quốc gia này mua hàng hóa và
dịch vụ từ quốc gia khác. Nói cách khác, đây chính là việc nhà sản xuất nước ngoài
cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người cư trú trong nước. Tuy nhiên, theo cách thức
biên soạn cán cân thanh toán quốc tế của IMF, chỉ có việc mua các hàng hóa hữu hình
mới được coi là nhập khẩu và đưa vào mục cán cân thương mại. Còn việc mua dịch vụ
được tính vào mục cán cân phi thương mại.
SVTH Trần Thành Danh; Điện thoại: 0927.099.099 18
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS.Lê Thị Phương Vy
Đơn vị tính khi thống kê về nhập khẩu thường là đơn vị tiền tệ (Dollar, triệu Dollar
hay tỷ Dollar) và thường tính trong một khoảng thời gian nhất định. Đôi khi, nếu chỉ
xét tới một mặt hàng cụ thể, đơn vị tính có thể là đơn vị số lượng hoặc trọng lượng
(cái, tấn, v.v )
Nhập khẩu phụ thuộc vào thu nhập của người cư trú trong nước, vào tỷ giá hối đoái.
Thu nhập của người dân trong nước càng cao, thì nhu cầu của hàng đối với hàng hóa
và dịch vụ nhập khẩu càng cao. Tỷ giá hối đoái tăng, thì giá hàng nhập khẩu tính bằng
nội tệ trở nên cao hơn; do đó, nhu cầu nhập khẩu giảm đi.
1.1.Sự hình thành đường cung tiền tệ
Để đáp ứng cho nhu cầu sử dụng tiền tệ trong nền kinh tế, một số tổ chức như NHTƯ,
các ngân hàng thương mại cung ứng tiền ra lưu thông.
Cung ứng tiền của Ngân hàng Trung ương
NHTƯ phát hành tiền mặt chủ yếu dưới hình thức giấy bạc ngân hàng. Quá trình này
được thực hiện khi NHTƯ cho vay đối với các tổ chức tín dụng, cho vay đối với kho
bạc Nhà nước, mua vàng, ngoại tệ trên thị trường ngoại hối hoặc mua chứng khoán
trong nghiệp vụ thị trường mở.
Khối lượng tiền phát hành của NHTƯ được gọi là tiền mạnh hay cơ số tiền (MB) bao
gồm hai bộ phận: Tiền mặt trong lưu hành (C) và tiền dự trữ của các ngân hàng kinh
doanh (R), trong đó chỉ có bộ phận tiền mặt ngoài ngân hàng mới được sử dụng đáp
hành theo công thức:
MS = MB x M
Trong đó:
MS: Mức cung tiền giao dịch
SVTH Trần Thành Danh; Điện thoại: 0927.099.099 20
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS.Lê Thị Phương Vy
MB: Cơ số tiền
m: hệ số tạo tiền.
Trong đó:
C/D: Tỷ lệ tiền mặt trong lưu hành so với tiền gửi không kỳ hạn.
r
D
: Tỷ lệ dự trữ buộc.
r
E
: Tỷ lệ dữ trữ dư thừa của các ngân hàng thương mại.
Mặc dù có rất nhiều chủ thể có tác động tới mức cung ứng tiền nhưng NHTƯ vẫn có
thể sử dụng các công cụ của mình để điều chỉnh mức cung tiền theo ý muốn chủ quan
để thực hiện chính sách tiền tệ.
1.2.Sự hình thành đường cầu tiền tệ
Giả thiết
Thị trường tiền tệ ở trạng thái cân bằng, nghĩa là lượng cầu tiền L bằng lượng cung
tiền M.
Lượng cung tiền M không thay đổi vì cơ quan quản lý tiền tệ (ngân hàng trung ương
hay các cơ quan tương đương) không tiến hành biện pháp gì làm ảnh hưởng tới lượng
cung tiền.
Lượng cầu tiền L bằng tổng của lượng cầu tiền vì mục đích giao dich và lượng cầu
tiền vì mục đích đầu cơ kiếm lợi.
Càng có nhiều thu nhập, cá nhân càng tiêu dùng nhiều, do đó càng cần nhiều tiền mặt
cung - cầu) thì chiều hướng ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của việc tăng tỷ giá đến
cùng Doanh Nghiệp (hoặc nhóm Doanh Nghiệp ) đó lại khác đi. Điều đó tùy thuộc vào
hai khả năng: một là liệu Doanh Nghiệp có thể điều chỉnh tăng giá bán được hay
không và hai là việc tăng giá bán có làm giảm khả năng tiêu thụ hàng hóa và thu hẹp
thị trường hay không.
Xin nêu một số ví dụ về Doanh Nghiệp hoặc nhóm Doanh Nghiệp trong nhóm được
cho là bị ảnh hưởng bất lợi nhất - nhóm nhập khẩu nguyên vật liệu hoặc bán thành
phẩm để sản xuất hàng tiêu dùng trong nước (nhóm 1) và nhóm được cho là được
hưởng lợi nhiều nhất - nhóm xuất khẩu hàng hóa được sản xuất từ nguồn nguyên liệu
trong nước (nhóm 2).
Ở nhóm 1, hãy nhìn các Doanh Nghiệp trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh dược
phẩm. Hoạt động sản xuất của những Doanh Nghiệp này hoàn toàn mang tính gia
công trên cơ sở nhập khẩu nguyên liệu và bán thành phẩm từ nước ngoài và hầu như
toàn bộ lợi nhuận của các Doanh Nghiệp dược phẩm được hình thành nên chính bởi
hoạt động gia công này. Tỷ giá tăng và lãi vay cao hiển nhiên sẽ dẫn đến chi phí tăng,
nhưng người gánh chịu cuối cùng lại là người tiêu dùng và Doanh Nghiệp vẫn có lãi
(thậm chí là lãi cao hơn so với trong môi trường lạm phát thấp). Đã bệnh thì phải dùng
thuốc và đã mua thuốc thì không có mặc cả. Nhu cầu dùng thuốc chỉ thay đổi theo mô
hình bệnh tật, theo cơ cấu dân số, chứ không phụ thuộc trực tiếp vào lạm phát hay tỷ
giá.
Với Doanh Nghiệp sản xuất và kinh doanh sữa: mặc dù cũng chủ yếu là gia công,
nhưng thực tế cho thấy trong bất kỳ hoàn cảnh nào ngành này cũng đều có lãi lớn
(nhưng Doanh Nghiệp thì không phải như vậy). Chi phí có tăng, nhưng giá sữa cũng
tăng không kém và lượng tiêu thụ vẫn rất lớn và không suy giảm. Sữa là mặt hàng
không thể thay thế đối với các bà mẹ luôn mong muốn con mình "thông minh hơn
người". Trong môi trường giá cao thì sự chuyển đổi có chăng là từ loại cao cấp sang
loại thấp cấp hơn mà thôi.
SVTH Trần Thành Danh; Điện thoại: 0927.099.099 23
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS.Lê Thị Phương Vy
SVTH Trần Thành Danh; Điện thoại: 0927.099.099 24
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: ThS.Lê Thị Phương Vy
Chương II: Tỷ giá hối đoái với hoạt động xuất nhập khẩu của việt nam trong thời
gian qua
I. Tổng quan về xuất nhập khẩu của việt nam từ 1986 tới nay
Từ năm 1986 đến nay chúng ta đã có nhiều chiến lược cải cách kinh tế, Đại hội VI
của Đảng (12-1986) đánh dấu một bước ngoặt rất cơ bản trong sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa ở nước ta, với việc đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước - từ đổi
mới tư duy đến đổi mới tổ chức, cán bộ, công tác hành chính; từ đổi mới kinh tế đến
đổi mới hệ thống chính trị và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Việc khởi
xướng công cuộc đổi mới vào năm 1986 đánh dấu bước chuyển đổi từ nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường và một loạt thay đổi khác về xã hội,
chính trị và kinh tế ở Việt Nam. Đổi mới tư duy "sản xuất kinh doanh cá thể” xem là
khâu đột phá tổng thể của cả giai đoạn từ 1986 đến nay. "Khoán 100", "khoán 10"
trong nông nghiệp, áp dụng "cơ chế giá thị trường" trong kinh tế hoặc "Việt Nam
muốn làm bạn với tất cả các quốc gia và dân tộc trên thế giới " trong chính sách
đối ngoại. Việt Nam đã từng bước thiết lập và mở rộng đáng kể thị trường xuất nhập
khẩu và đối tác thương mại theo phương châm đa phương hoá quan hệ kinh tế đối
ngoại. Những thành tựu đạt được của ngoại thương Việt Nam được thể hiện rất rõ
nét qua số liệu thống kê của 4 giai đoạn phát triển 5 năm từ 1986 đến 2005.
Tổng mức lưu chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu bình quân từ năm 1986 đến 2005 là
20,7 tỷ USD/1 năm (gấp 7 lần năm 1985). Tốc độ tăng trưởng của các thời kỳ rất cao,
thời kỳ 1996-2000 tăng gấp gần 3 lần 5 năm trước đó và đạt trên 100 tỷ đôla (tốc độ
tăng bình quân mỗi năm là 17,2%), thời kỳ 2001-2005 tăng hơn 2 lần giai đoạn trước,
đạt 241 tỷ đôla (tốc độ tăng bình quân mỗi năm là 18,2%). Trong đó, khu vực kinh tế
trong nước giai đoạn đầu 1986-1990 có vai trò chủ đạo chiếm tới 96,6% tổng trị giá
xuất nhập khẩu.
Tính từ năm 1986 tới 2005, tốc độ tăng bình quân của xuất khẩu là 21,2%/năm, kim
ngạch xuất khẩu tăng gần 40 lần từ 789 triệu đôla (năm 1986) lên mức 32,4 tỷ đôla