Hoạt động tạo nguồn hàng cho xuất khẩu tại công ty xuất nhập khẩu Thanh Hà. - Pdf 23

LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước của Đảng ta. Đặc biệt là
từ đại hội lần thứ VI của Đảng được ghi nhận như một bước ngoặt trong quá
trình phát triển của đất nước. Với sự chuyển đổi cơ chế đó thì việc phát triển
giao lưu thương mại giữa các nước như là một điêù tất yếu. Từ khi nước ta
chuyển đổi cơ chế thì vai trò của hoạt đông xuất nhập khẩu đóng một vai trò
to lớn trong việc phát triển đất nước. Cùng với những thuận lợi khi đất nước
mở cửa thì các doanh nghiệp trong nước nói chung và các doanh nghiệp xuất
khẩu nói riêng đang gặp một áp lực rất lớn từ các doanh nghiệp nước ngoài và
doanh nghiệp liên doanh, sự suy kém về vốn, kinh nghiệm, công nhân viên
cũng như trang thiết bị cơ sở đã tạo nên một khó khăn không nhỏ cho các
doanh nghiệp xuất khẩu.
Trong hoàn cảnh nước ta hiện nay, đẩy mạnh xuất khẩu như là một xu
hướng tất yếu để thúc đẩy đất nước phát triển. Để hoạt đông xuất khẩu đạt
hiệu quả cao thì một bước rất quan trọng và đầu tiên đó là công tác tạo nguồn
hàng phải được thực hiện tốt.
Trong quá trình thực tập tại công ty xuất nhập khẩu Thanh Hà
(HAFOREXIM), qua một thời gian tìm hiểu, học hỏi cùng với sự giúp đỡ
nhiệt tình của cán bộ công nhân viên trong công ty, cùng với sự hướng dẫn
và định hướng của thầy giáo và tự bản thân thấy được sự quan trọng của công
tác tạo nguồn hàng nên tôi đã chọn đề tài: “ Nâng cao hiệu quả công tác tạo
nguồn hàng tại công ty xuất nhập khẩu Thanh Hà” làm luận văn của mình.
Nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về công tác tạo nguồn hàng .
Chương II: Thực trạng hoạt động tạo nguông hàng cho xuất khẩu tại
công ty xuất nhập khẩu Thanh Hà.
1
Chương III: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tạo
nguồn hàng tại công ty xuất nhập khẩu Thanh Hà.
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC TẠO NGUỒN HÀNG.

-Từ hoạt động xuất nhập khẩu để học hỏi về kỹ thuật cũng như kinh
nghiệm từ nước ngoài.
-Thông qua hoạt hoạt động xuất nhập khẩu nhằm phát huy và sử dụng tốt
hơn nguồn lao động cũng như tăng nguồn thu cho nền kinh tế.
-Mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại để nâng cao uy tín nước ta trên
trường quốc tế. Góp phần vào thực hiện đường lối đối ngoại của nhà nước.
2.Vai trò của công tác tạo nguồn hàng trong xuất khẩu .
2.1.Khái niệm về nguồn hàng cho xuất khẩu .
Nguồn hàng cho xuất khẩu là toàn bộ hàng hoá của một công ty hoặc một
địa phương, một vùng hoặc toàn bộ đất nước có khả năng và đảm bảo điều
kiện cho xuất khẩu
Như vậy nguồn hàng cho xuất khẩu không thể là nguồn hàng chung chung
mà phải gắn với một địa danh cụ thể.
2
Mặt khác nguồn hàng cho xuất khẩu phải đảm bảo những yêu cầu chất
lượng quốc tế. Do vậy không phải toàn bộ khối lượng hàng hoá của một đơn
vị, một địa phương, một vùng đều là nguồn hàng cho xuất khẩu mà chỉ có
1
GS-TS. Trần Chí Th nh, Nh xuà à ất bản thống kê,2000, Trang222
2
GS-TS. Trần Chí Th nh, Nh xuà à ất bản thống kê,2000, Trang220
3
phần hàng hoá đạt tiêu chuẩn chất lượng xuất khẩu mới là nguồn hàng cho
xuất khẩu.
2.2.Tạo nguồn hàng cho xuất khẩu .
Là toàn bộ những hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh cho tới nghiệp vụ
nghiên cứu thị trường, ký kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng, vận chuyển bảo
quản, sơ chế, phân loại nhằm tạo ra hàng hoá có đầy đủ tiêu chuẩn cần thiết
cho xuất khẩu, có thể chia ra làm hai hoạt động chính:
Loại những hoạt động sản xuất và tiếp tục quá trình sản xuất hàng hoá cho

2 2.4.Vai trò của công tác tạo nguồn hàng trong kinh doanh.
2.4.1.Vị trí của công tác tạo nguồn:
Trong kinh doanh, tạo nguồn hàng là khâu hoạt động nghiệp vụ kinh
doanh đầu tiên, mở đầu cho hoạt động lưu thông hàng hoá (T-H). Mua hàng
là hoạt động nghiệp vụ cơ bản của của doanh nghiệp xuất khẩu. Nếu không
mua được hàng hoá hoặc mua không đáp ứng được yêu cầu kinh doanh thì
doanh nghiệp không có hàng hoá để bán. Nếu doanh nghiệp mua phải hàng
xấu, hàng giả, chất lượng kém hoặc không mua đúng số lượng, thời gian yêu
cầu, doanh nghiệp sẽ bị ứ đọng hàng hoá, vốn lưu động không lưu chuyển
được, doanh nghiệp sẽ không bù đắp được chi phí, sẽ không có lãi,... Điều
này chỉ rõ vị trí quan trọng của công tác tạo nguồn hàng, mua hàng có ảnh
hưởng đến nghiệp vụ kinh doanh khác và kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp.
2.4.2.Tác dụng của công tác tạo nguồn hàng.
5
Thứ nhất: Trong nền kinh tế công tác thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu ,
tạo ra một nhu cầu mới về lao động, về vật tư, tiền vốn. Và như vậy tạo ra
nhiều công ăn, việc làm cho người lao động, thúc đẩy sản xuất kinh doanh
phát triển, góp phần thay đổi cơ cấu nền kinh tế theo hướng tham gia vào
phân công lao động quốc tế, tiết kiệm các nguồn lực trong nước trên cơ sở
kinh doanh có hiệu quả.
Thứ hai: Nguồn hàng là một điều kiện của hoạt động kinh doanh, nếu
không có nguồn hàng, không thể tiến hành kinh doanh được. Muốn vậy phải
đáp ứng được các yêu cầu: Phù hợp với yêu cầu của khách hàng về số lượng,
chất lượng, quy cách, cỡ loai, mầu sắc... và phù hợp về thời gian và đúng với
yêu cầu. Có như vậy nguồn hàng mới đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động
kinh doanh tiếp theo và có đủ hàng hoá đảm bảo cung ứng cho khách hàng
đầy đủ, kịp thời.
Thứ ba: Nguồn hàng và tạo nguồn hàng phù hợp với yêu cầu của khác
hàng giúp cho hoạt động kinh doanh tiến hành thuận lợi, kịp thời, thúc đẩy

1.1.Phân loại theo chế độ phân cấp quản lý:
1.1.1. Nguồn hàng thuộc chỉ tiêu kế hoạch nhà nước phân bổ.
Đây là nguồn hàng được nhà nước cam kết giao cho nước ngoài trên cơ sở
các hiệp định hoặc các nghị định thư hằng năm. Sau khi ký kết các các nghị
định thư hoặc các hiệp định với nước ngoài. Nhà nước phân bổ chỉ tiêu cho
3
PGS-PTS.Ho ng Minh à Đường-PTS. Nguyễn Thừa Lộc, Nh xuà ất bản giáo dục, 1999, Trang 110
7
các đơn vị sản xuất, để các đơn vị này giao hàng hoá cho các tổ chức kinh
doanh xuất nhập khẩu thực hiện.
Vì thế đối với các đơn vị ngoại thương nguồn hàng này khá đảm bảo về số
lượng và chất lượng cũng như thời gian giao hàng.
Ngày nay, chuyển sang cơ chế thị trường thì nguồn hàng thuộc chỉ tiêu kế
hoạch nhà nước giảm nhiều. Nhà nước chỉ giao những chỉ tiêu mang tính định
hướng với mục đích tăng cường quản lý xuất nhập khẩu. Còn các doanh
nghiệp tự quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thông qua
nghiên cứu thị trường và ký kết các hợp đồng kinh tế.
1.1.2.Nguồn hàng ngoài kế hoạch:
Nguồn hàng ngoài kế hoạch là nguồn hàng được trao đổi mua bán trên tất
cả các thị trường trong nước. Các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu căn cứ
vào hợp đồng đã ký kết với nước ngoài mà tiến hành sản xuất thu mua, chế
biến theo số lượng, chất lượng và thời gian giao hàng đã được thoả thuận với
khách hàng nước ngoài trong hợp đồng kinh tế.
Cùng vói việc giảm nguồn hàng trong chỉ tiêu kế hoạch nhà nước là việc
tăng nguồn hàng ngoài kế hoạch càng lớn phong phú, đa dạng về chủng loại
cũng như về giá trị. Việc giao dịch trao đổi nguồn hàng này phần lớn là mua
bán trao tay hoặc hợp đồng ngắn hạn. Trong tương lai cần tăng tỷ trọng giao
dịch thông qua hợp đồng dài hạn.
1.2.Phân loại nguồn hàng theo đơn vị giao hàng.
Các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu có thể thu mua huy động từ:

mối quan hệ giữa các doanh nghiệp ngoại thương với khách hàng, về trao đổi
mua bán hàng xuất khẩu. Sau đây là một số hình thức tạo nguồn hàng.
2.1.Thu mua tạo nguồn hàng thông qua đơn đặt hàng kết hợp với ký kết
hợp đồng.
Đơn đặt hàng là văn bản yêu cầu về mặt hàng, quy cách, cỡ loại, có ghi số
lượng, thời gian giao hàng.
Lập đơn đặt hàng phải đảm bảo chính xác về số lượng, thời gian giao
hàng. Muốn lập được đơn đặt hàng phải xác định được nhu cầu của khách
hàng, phải xác định được khả năng sản xuất của các đơn vị có nguồn hàng.
Đơn đặt hàng thường là căn cứ để ký kết họp đồng hoặc phụ lục hợp
đồng. Do vậy các doanh nghiệp thường kết hợp giữa hợp đồng với đơn hàng.
Đây là hình thức ưu việt, đảm bảo an toàn cho doanh nghiệp, trên cơ sở chế
độ trách nhiệm chặt chẽ cho cả đôi bên.
2.2.Thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu theo hợp đồng.
Đây là hình thức được áp dụng rộng rãi trong quan hệ mua bán trao đổi
hàng hoá. Sau khi các bên đạt được thoả thuận về mặt hàng, chất lượng, số
lượng và giá cả phương thức thanh toán, thời gian giao hàng,... thì các bên ký
kết hợp đồng kinh tế. Đây là cơ sở ràng buộc trách nhiệm của các bên và
được pháp luật bảo vệ.
Tuỳ theo đặc điểm của các quan hệ giao dịch và đối tượng giao dịch, mà
người ta áp dụng các loại hợp đồng thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu:
Hợp đồng mua đứt bán đoạn, là hợp đông người mua nhận hàng và trả
tiền còn người bán giao hàng và nhận tiền.
10
Hợp đồng gia công, là loại hợp đồng mà người gia công giao nguyên liệu,
bán thành phẩm, nhận sản phẩm và trả phí gia công, còn người nhận gia công
nhận nhiên liệu bán thành phẩm, gia công trả thành phẩm và nhận phí gia
công.
Hợp đồng đổi hàng: Đó là hai bên tiến hành trao đổi hàng hoá cho nhau.


-Tổng đại lý: Là người được toàn quyền làm một phần việc nhất định của
người uỷ thác.
-Đại lý thu uỷ: Là người được chỉ định để hành động thay thế cho người
uỷ thác, với danh nghĩa và chi phí của người uỷ thác.
-Đại lý kinh tiêu: Là người đại lý hoạt động với danh nghĩa và chi phí của
mình, thù lao cuả người nay là khoản chênh lệch giữa giá mua và giá bán.
-Đại lý hoa hồng: Là người được uỷ thác tiến hành hoạt động với danh
nghĩa của mình với chi phí của người uỷ thác.
2.6.Thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu thông qua đổi hàng.
Đây là hình thức thu mua tạo nguồn hàng rất phổ biến rất phổ biến trong
trường hợp các doanh nghiệp ngoại thương là người cung cấp nguyên liệu,
nhiên liệu, vật tư kỹ thuật, máy móc, phân bón cho người sản xuất hàng xuất
khẩu.
12
Hình thức này thường được áp dụng trong các trường hợp nguyên nhiên,
vật tư máy móc , thiết bị... là những mặt hàng quý hiếm cung không đủ cầu
trên thị trường hoặc những mặt hàng là phôi, nguyên vật liệu của hàng xuất
khẩu.
Nếu là phôi, nguyên vật liệu, bán thành phẩm của hàng xuất khẩu thì hình
thức này rất giống với hình thức gia công hàng xuất khẩu.
Hình thức thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu thông qua hàng đổi hàng là
một hình thức rất tốt khuyến khích các nhà sản xuất trong nước bán hàng xuất
khẩu cho các doanh nghiệp ngoại thương.
Tóm lại: Các hình thức mua hàng và tạo nguồn hàng xuất khẩu rất phong
phú và đa dạng. Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể của các doanh nghiệp, mặt
hàng, quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường mà lựa chọn áp dụng một
hoặc một số hình thức thu mua và tạo nguồn hàng xuất khẩu như đã nêu ở
trên.
III.NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC THU MUA TẠO NGUỒN HÀNG CHO XUẤT
KHẨU

doanh nghiệp là bao nhiêu. Chỉ tiêu lợi nhuận có ý nghĩa quyết định tới chiến
lược kinh doanh của từng doanh nghiệp ngoại thương.
Cuối cùng, việc nghiên cứu nguồn hàng phải nắm được chính sách của
Nhà nước về mặt háng đó. Mặt hàng đó có được phép xuất khẩu hay không
hay thuộc hạn ngạch xuất khẩu không? Trong thực tế chính sách quản lý của
Nhà nước đối với từng mặt hàng cụ thể luôn có những thay đổi do vậy việc
14
nghiên cứu để dự báo những thay đổi có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với
doanh nghiệp ngoại thương.
Một trong những bí quyết thành công trong kinh doanh là nghiên cứu và
tìm hiểu cặn kẽ thị trường, dự đoán những xu hướng biến động của hàng hoá
để hạn chế những rủi ro của thị trường. Tạo diều kiện cho doanh nghiệp khai
thác ổn định nguồn hàng xuất khẩu trong khoảng thời gian hợp lý, làm cơ sở
chắc chắn cho việc ký kết và thực hiện hợp đồng xuất khẩu .
2.Tổ chức hệ thống thu mua tạo nguồn hàng cho xuất khẩu.
Xây dựng một hệ thống thu mua hàng thông qua các đại lý chi nhánh của
mình, doanh nghiệp ngoại thương sẽ tiết kiện được chi phí thu mua, nâng cao
năng suất và hiệu quả thu mua.
Hệ thống thu mua bao gồm mạng lưới các hệ thống đại lý, hệ thống kho
tàng ở các địa phương, các khu vục có nguồn hàng xuất khẩu. Chi phí này khá
lớn, do vậy đòi hỏi các doanh nghiệp phải có sự lựa chọn cân nhắc trước khi
chọn đại lý và xây dựng kho tàng, nhất là các kho đòi hỏi trang bị những
phương tiện bảo quản đắt tiền.
Hệ thống thu mua phải gắn liền với các phương án vận chuyển hàng hoá,
với điều kiện giao thông của các địa phương. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa
thu mua và vận chuyển hàng hoá là cơ sở đảm bảo tiến độ cho thu mua và
chất lượng hàng hoá. Tuỳ theo từng loại hàng hoá để có phương án vận
chuyển hợp lý.
Tổ chức đầu tư hướng dẫn kỹ thuật thu mua, phân loại, bảo quản cho các
chân hàng là công tác cần thiết cho thu mua tạo nguồn hàng.

hợp đồng ngoại thương.
-Khả năng sản xuất hàng hoá của các nhà sản xuất trong nước.
3.2.Một số vấn đề cần lưu ý khi ký kết hợp đồng.
Doanh nghiệp ngoại thương bằng các hoạt động Marketing để tìm kiếm
các đối tác nước ngoài có nhu cầu về một mặt hàng nào đó trong nước có khả
năng sản xuất ra được. Doanh nghiệp ngoại thương có thể ký kết hợp đồng
bán hàng với khách hàng nước ngoài, sau đó giao dịch để ký kết hợp đồng tạo
nguồn hàng với các nhà sản xuất, các chân hàng để thực hiện hợp đồng ngoại
thương. Hai loại hợp đồng này có nhiều đặc điểm giống nhau: hợp đồng ngoại
thương là cơ sở cho hợp đồng thu mua tạo nguồn hàng. Doanh nghiệp ngoại
thương cần gặp trực tiếp những nhà sản xuất và cung cấp đầy đủ các thông tin
về sản phẩm, những yêu cầu về chủng loại, kích cỡ, công dụng, chất lượng
cho họ và cùng bàn bạc với nhà sản xuất để tìm ra các vướng mắc trở ngại
cho việc sản xuất và cung ứng hàng hoá. Nếu gặp phải những vứng mắc
không thể giải quyết được cần phải nhanh tróng thông báo cho người đặt hàng
và bạn hàng nước ngoài để họ biết để tìm cách giải quyết hoặc sửa đổi hợp
đồng ngoại thương nếu được phép.
Trong buôn bán ngoại thương quốc tế, không phải bao giờ các doanh
nghiệp ngoại thương cũng tìm được bạn hàng nước ngoài rồi mới tìm người
cung cấp hàng hoá trong nước. Doanh nghiệp ngoại thương có thể chủ động
thu mua tạo nguồn hàng theo kế hoạch của mình, kết hợp với việc tìm kiếm
bạn hàng nước ngoài để tiêu thụ hàng hoá. Nhóm hàng này thường là hàng
nông, lâm sản mang tính thời vụ cao, hàng nhiên liệu và một số sản phẩm
khác. Do vậy, khi ký kết hợp đồng với các chân hàng hoặc các đơn vị sản
xuất, doanh nghiệp ngoại thương có thể ký những hợp đồng dài hạn. Vấn đề ở
17
đây là quan tâm tới tiến độ giao hàng và vận chuyển. Do hàng hoá phải sản
xuất theo lô, theo chuyến, theo đợt và để có đủ hàng cho tàu, doanh nghiệp
ngoại thương phải chủ động xây dựng kế hoạch dự trữ hàng hoá, đồng thời
phải bàn bạc phối hợp với các nhà sản xuất, các chân hàng tăng cường cung

3.4.1. Các bên ký kết hợp đồng kinh tế .
3.4.2.Người ký kết hợp đồng kinh tế .
3.4.3.Việc thay đổi, thanh lý hợp đồng .
3.4.5.Trách nhiệm tài sản của các bên tham gia ký kết.
3.4.6. Giải quyết tranh chầp khi phát sinh.
3.5.Các loại hợp đồng kinh tế thường gặp trong công tác thu mua tạo
nguồn hàng xuất khẩu.
3.5.1.Hợp đồng mua bán hàng xuất khẩu
Hợp đồng mua bán hàng xuất khẩu có thể là: Hợp đồng một chiều hoặc
hợp đồng hai chiều.
Hợp đồng một chiều là hợp đồng mà doanh nghiệp ngoại thương chỉ mua
và trả tiền.
Hợp đồng hai chiều là hợp đồng mà doanh nghiệp ngoại thương vừa mua
vừa kèm theo bán hàng hay còn gọi là hợp đồng mua bán đối ứng.
19
Trong đàm phán ký kết hợp đồng, ngoài điều khoản tên hàng và số lượng
ra các bên thường chú trọng tới các điều khoản sau đây:
-Phẩm chất của hàng hoá: Cần được căn cứ vào yêu cầu của thị trường
nước ngoài, hoặc của đơn đặt hàng hoặc dựa vào kinh nghiệm tiêu thụ mặt
hàng đó.
-Giá cả của hàng hoá: Do các bên dựa trên cơ sở tham khảo tình hình thị
trường. Riêng trong mua bán đối ứng, giá còn phụ thuộc vào phương thức, tỷ
lệ đổi hàng và thoả thuận của hai bên, loại giá này ít biến động hơn.
-Thời gian giao hàng: được xác định phù hợp với thời gian cam kết giao
hàng cho khách hàng nước ngoài.
-Về bao bì đóng gói: Nguyên tắc chung là khuyến khích đóng gói hoàn
hoàn chỉnh tại nơi sản xuất, thu mua chế biến, chỉ với một số hàng hoá phải
thu gom trôi nổi trên thị trường, thì doanh nghiệp ngoại thương phải phân
loại, làm đồng bộ tái chế rồi đóng gói hoàn chỉnh.
-Thanh toán tiền hàng được thực hiện chủ yếu thông qua các phương thức

3.5.4. Hợp đồng uỷ thác xuất khẩu.
Theo hợp đồng này các đơn vị sản xuất, đơn vị chân hàng uỷ thác cho các
doanh nghiệp ngoại thương tiến hành xuất khẩu những hàng hoá nhất định,
với danh nghĩa của bên ngoại thương nhưng chi phí bên sản xuất hoặc chân
hàng chịu.
21
3.5.5.Hợp động liên doanh, liên kết xuất khẩu.
Theo hợp đồng này các doanh nghiệp ngoại thương cùng với các đơn vị sản
xuất cùng bỏ vốn và các nguồn lực khác, cùng chịu chung rủi ro để sản xuất
kinh doanh hàng xuất khẩu .
Hợp đồng liên doanh, liên kết có thể có hiệu lực trong một thời gian dài, có
thể là nhất thời hoặc cũng có thể chỉ trong phạm vi một lô hàng, chuyến hàng
xuất khẩu.
Hợp đồng liên doanh, liên kết thường có những nội dung như:
-Số vốn góp của mỗi bên, phương pháp, hình thức góp vốn.
-Trách nhiệm của các bên trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
-Cách hạch toán lỗ lãi, phân chia lợi nhuận
-Thời gian và phương thức quyết toán.
-Cách rút vốn, đình chỉ kinh doanh, huỷ bỏ hợp đồng ...
4.Xúc tiến khai thác nguồn hàng xuất khẩu .
Sau khi đã ký kết hợp đồng với các chân hàng và đơn vị sản xuất, doanh
nghiệp ngoại thương phải lập kế hoạch thu mua, tiến hành sắp xếp các phần
việc phải làm và chỉ đạo các bộ phận thực hiện kế hoạch. Cụ thể là:
-Đưa hệ thống kênh thu mua đã được thiết lập đi vào hoạt động. Có thể tố
chức chỉ đạo bộ máy thu mua từng mặt hàng, từng nhóm hàng.
-Chuẩn bị đầy đủ các thủ tục, các giấy tờ, chứng từ, hoá đơn các thủ tục về
giám định chất lượng hàng hoá, và các thủ tục khác để giao nhận theo hợp
đồng đã ký.
-Chuẩn bị hệ thống kho tàng tại các điểm, nút của các kênh, đảm bảo đủ
khả năng tiếp nhận và giải toả nhanh tróng “dòng hàng vào ra”

hàng hoá.
-Chuẩn bị những giấy tờ cần thiết khác.
5.1.2.Nhận hàng.
Về cơ bản giao nhận hàng phải dựa trên số lượng và chất lượng. Nhưng có
một số mặt hàng chỉ nhận theo số lượng là đủ, như hàng container.
-Nhận hàng theo số lượng là cân, đo, đếm hàng hoá đối chiếu với chứng từ
hoá đơn kèm theo. Nếu có thiếu hụt, mất mát phải lập biên bản và có xác
nhận của người giao hàng hoặc cơ quan có trách nhiệm.
-Nhận hàng theo chất lượng, là xác định cụ thể hàng hoá có đúng phẩm
chất, quy cách, kích cỡ... theo đúng quy định hay không. Nội dung của nhận
hàng theo chất lượng bao gồm :
+Tính chất cơ, lý,hoá của hàng hoá.
+Hình thái, màu sắc, kích cỡ của hàng hoá.
+Sự đồng bộ của hàng hoá.
+Số lượng hàng hoá hư hỏng và mức độ hàng hư hỏng.
+Ký hiệu của hàng hoá.
5.2.Bảo quản hàng hoá.
24
Bảo quản hàng hoá trong kho là một trong những nhiệm vụ quan trọng của
chủ kho hàng. Chủ kho hàng phải có trách nhiệm không để hàng hoá hư hỏng,
đổ vỡ, mất mát... trừ là do hành động bất khả kháng gây ra.
Bảo quản trong kho gồm các nhiệm vụ sau.
5.2.1.Sắp xếp, bố trí hợp lý hàng hoá trong kho, cụ thể là:
-Lựa chọn các loại kho có cấu trúc phù hợp với tính chất của từng loại
hàng hoá.
-Xác định vị trí cho từng nhóm hàng.
-Sắp xếp hàng hoá một cách hợp lý, khoa học theo tính chất của hàng hoá,
đảm bảo thông thoáng, dể thấy, dễ lấy...
5.2.2.Điều chỉnh nhiệt độ, độ ẩm... sao cho phù hợp với tính chất của từng
mặt hàng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status