Lời mở đầu 3
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về dịch vụ giao nhận hàng hoá bằng đường biển 4
1.1 Dịch vụ giao nhận và người giao nhận 4
1.1.1 Dịch vụ giao nhận 4
1.1.2 Người giao nhận 5
1.1.2.1 Khái niệm 5
1.1.2.2 Phạm vi dịch vụ cung cấp bởi người giao nhận 6
1.1.2.3 Địa vị pháp lý của người giao nhận 8
1.1.2.4 Quyền và nghĩa vụ của người giao nhận 10
1.1.2.5 Mối quan hệ của người giao nhận với các bên liên quan 11
1.1.2.6 Vai trò của người giao nhận trong thương mại quốc tế 13
1.2 Giao nhận ngoại thương đường biển 13
1.2.1 Cơ sở pháp lý 13
1.2.2 Qui trình giao nhận hàng xuất khẩu 15
1.2.3 Quy trình giao nhận hàng nhập khẩu 19
Chương 2: Thực trạng hoạt động giao nhận ngoại thương bằng đường biển tại công ty TNHH Quốc tế
Chiến Thắng 23
2.1.Giới thiệu khái quát về công ty 23
2.1.1.Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của công ty TNHH Quốc tế Chiến Thắng:
23
2.1.2.Chức năng và nhiệm vụ: 25
1.1.2.1.Chức năng: 25
1.1.2.2.Nhiệm vụ: 26
2.1.3 Bộ máy tổ chức, quản lí và nhân sự 27
2.1.3.1 Sơ đồ quản lí tại công ty: 27
2.1.3.2 Một số nhiệm vụ chủ yếu của các phòng ban, các bộ phận quản lí: 28
2.2 Quy trình nghiệp vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển tại công ty TNHH Quốc
tế Chiến Thắng 30
2.2.1 Một số đặc thù của hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển tại công ty
TNHH Quốc tế Chiến Thắng 30
3.2.1 Hoàn thiện hệ thống luật 42
3.2.2 Nhà nước cần tăng cường thu hút FDI vào ngành giao nhận vận tải 43
3.2.2.1 Cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường pháp lý thông thoáng 45
3.2.2.2 Tạo môi trường kinh tế - xã hội thuận lợi 45
3.2.3 Đổi mới cơ chế quản lý Nhà nước về giá trong giao nhận vận tải 45
3.2.4 Đề cao vai trò của hiệp hội giao nhận Việt Nam VIFFAS 46
3.3 Giải pháp 47
3.3.1 Giải pháp mở rộng thị trường 47
3.3.1.1 Nghiên cứu thị trường 47
3.3.1.2 Thâm nhập thị trường 49
3.3.2 Giải pháp đa dạng hóa loại hình dịch vụ 50
3.3.3 Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng 51
3.3.4 Giải pháp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 52
3.3.5 Giải pháp cho hệ thống thông tin phục vụ việc xử lí đơn hàng 54
3.3.6 Giải pháp cho nhu cầu vận tải 55
Lời mở đầu
Hoạt động ngoại thương đảm bảo sự giao lưu hàng hoá, thông thương giữa các nước, giúp
chúng ta khai thác có hiệu quả tiềm năng,thế mạnh của đất nước trên cơ sở chuyên môn hoá
quốc tế. Nhắc đến hoạt động ngoại thương chúng ta không thể không nói đến dịch vụ giao
nhận vận tải hàng hoá quốc tế vì đây là hai hoạt động không tách rời nhau, chúng có tác
động qua lại thống nhất với nhau. Qui mô của hoạt động xuất nhập khẩu tăng lên nhanh
chóng trong những năm gần đây là nguyên nhân trực tiếp khiến cho giao nhận vận tải nói
chung và giao nhận vận tải biển nói riêng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và bề sâu.
Với hơn 3000 km bờ biển cùng rất nhiều cảng lớn nhỏ rải khắp chiều dài đất nước, ngành
giao nhận vận tải biển Việt Nam có lợi thế hơn so với các phương thức giao nhận vận tải
khác. Lợi thế này thể hiện cụ thể qua khối lượng và giá trị giao nhận hàng hóa qua các cảng
biển luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị giao nhận hàng hóa quốc tế của Việt Nam.
Điều này có ý nghĩa rất lớn, nó không chỉ nối liền sản xuất với tiêu thụ, giúp đưa hàng hoá
Việt Nam đến với bạn bè quốc tế mà còn góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng
hoá nước ta trên thị trường thế giới.
trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng (người gửi hàng) đến
nơi nhận hàng (người nhận hàng)
1.1.2 Người giao nhận
1.1.2.1 Khái niệm
Chưa có một định nghĩa thống nhất nào về người giao nhận được chấp nhận. Thông thường
người kinh doanh dịch vụ giao nhận gọi là người giao nhận (Forwarder, Freight Forwarder,
Forwarding Agent). Theo FIATA, “người giao nhận là người lo toan để hàng hóa được
chuyên chở theo hợp đồng ủy thác và hành động vì lợi ích của người ủy thác. Người giao
nhận cũng đảm nhận thực hiện mọi công việc liên quan đến hợp đồng giao nhận như bảo
quản, lưu kho trung chuyển, làm thủ tục hải quan, kiểm hoá”
Người giao nhận có thể là chủ hàng (khi chủ hàng tự đứng ra đảm nhận công việc giao nhận
hàng hóa của mình), chủ tàu (khi chủ tàu thay mặt chủ hàng thực hiện dịch vụ giao nhận),
công ty xếp dỡ hay kho hàng, người giao nhận chuyên nghiệp hay bất kỳ người nào khác có
đăng ký kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa. Theo luật Thương mại Việt Nam thì người
làm dịch vụ giao nhận hàng hóa là thương nhân có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
dịch vụ giao nhận hàng hóa.
Từ các định nghĩa trên ta có thể rút ra nhận xét:
• Người giao nhận hoạt động theo hợp đồng ủy thác ký với chủ hàng, bảo vệ lợi ích
của chủ hàng.
• Người giao nhận lo liệu việc vận tải nhưng chưa hẳn là người vận tải. Anh ta có thể
sử dụng, thuê mướn người vận tải. Anh ta cũng có thể có phương tiện vận tải, có thể
tham gia vận tải, nhưng đối với chủ hàng ủy thác, anh ta là người giao nhận, ký hợp
đồng ủy thác giao nhận, không phải là người vận tải.
• Cùng với việc tổ chức vận tải, người giao nhận còn làm nhiều việc khác trong phạm
vi ủy thác của chủ hàng để đưa hàng từ nơi này đến nơi khác theo những điều khoản
đã cam kết.
Dù ở các nước khác nhau, tên gọi của người giao nhận có khác nhau, nhưng tất cả đều cùng
mang một tên chung trong giao dịch quốc tế là “international freight forwarder” (người giao
nhận hàng hóa quốc tế), và cùng làm một dịch vụ tương tự nhau, đó là dịch vụ giao nhận.
1.1.2.2 Phạm vi dịch vụ cung cấp bởi người giao nhận
hàng hóa thuộc về người nhận hàng.
• Nhận và kiểm tra tất cả những chứng từ liên quan đến việc vận chuyển hàng hóa,
quan trọng nhất là vận đơn.
• Nhận hàng của người chuyên chở và nếu cần thì thanh toán cước.
• Thu xếp việc khai báo hải quan và trả lệ phí, thuế và những phí khác cho hải quan và
những cơ quan liên quan.
• Thu xếp việc lưu kho quá cảnh nếu cần.
• Giao hàng đã làm thủ tục hải quan cho người nhận hàng.
• Giúp đỡ người nhận hàng tiến hành khiếu nại đối với người chuyên chở về tổn thất
hàng hóa nếu có.
• Giúp người nhận hàng trong việc lưu kho và phân phối hàng hóa nếu hai bên có hợp
đồng.
c. Dịch vụ khác
Giao nhận hàng hóa đặc biệt: đòi hỏi người giao nhận phải có thêm các thiết bị chuyên
dùng, đồng thời cũng yêu cầu người giao nhận phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững
chắc. Ví dụ giao nhận máy móc công trình, quần áo treo trên mắc, hàng tạm nhập tái xuất
hoặc tạm xuất tái nhập
Tuỳ thuộc vào yêu cầu của khách hàng, người giao nhận có thể làm những dịch vụ khác
phát sinh; Chẳng hạn thông báo cho khách hàng của mình về nhu cầu tiêu dùng, thị trường
mới, tình hình cạnh tranh, chiến lược xuất khẩu, những điều khoản cần đưa vào hợp đồng
mua bán ngoại thương. Tóm lại người giao nhận có thể là tư vấn cho khách hàng trong quá
trình xuất nhập khẩu hàng hóa. Đây cũng là điểm tạo sự khác biệt cho thương hiệu của một
công ty giao nhận
1.1.2.3 Địa vị pháp lý của người giao nhận
Theo tập tục ở một số nước (common law), chẳng hạn các nước thuộc khối liên hiệp Anh
thì địa vị pháp lý của người giao nhận dựa trên các qui định về đại lý. Người giao nhận lấy
danh nghĩa của người ủy thác (người gửi hàng hay người nhận hàng) để giao dịch cho công
việc của người ủy thác. Hoạt động của người giao nhận khi đó phụ thuộc vào những quy tắc
truyền thống về đại lý, như việc phải mẫn cán khi thực hiện nhiệm vụ của mình, phải trung
thực với người ủy thác, tuân theo những chỉ dẫn hợp lý của người ủy thác, mặt khác được
đến vận tải hàng hóa.
Khi đóng vai trò là đại lý, người giao nhận chịu trách nhiệm do lỗi lầm sai sót của bản thân
mình và những người dưới quyền (cán bộ nhân viên trong doanh nghiệp) như giao hàng trái
chỉ dẫn, lập chứng từ nhầm lẫn, quên thông báo khiến hàng phải lưu kho, lưu bãi tốn kém,
làm sai thủ tục hải quan… Người giao nhận không chịu trách nhiệm về tổn thất do lỗi lầm,
sai sót của bên thứ ba (người chuyên chở, người ký hợp đồng phụ, nhận lại dịch vụ…) miễn
là người giao nhận đã thể hiện sự cần mẫn thích đáng trong việc lựa chọn bên thứ ba đó.
Khi đóng vai trò là người ủy thác thì ngoài những trách nhiệm của đại lý nói trên, người
giao nhận còn chịu trách nhiệm về cả những hành vi và sơ suất của bên thứ ba mà người
giao nhận sử dụng để thực hiện hợp đồng. Trong vai trò này người giao nhận thường đưa ra
“giá trọn gói” chứ không phải chỉ nhận hoa hồng như đại lý. Người giao nhận thường đóng
vai trò người ủy thác khi thu gom hàng lẻ, khi kinh doanh vận tải đa phương thức, khi đảm
nhận tự vận chuyển hàng hóa hay nhận bảo quản hàng hóa trong kho của mình.
Theo Luật Thương mại Việt Nam 1997, điều 167 quy định người làm dịch vụ giao nhận có
những quyền và nghĩa vụ sau đây:
• Được hưởng tiền công và các khoản thu nhập hợp lý khác.
• Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng.
• Trong quá trình thực hiện hợp đồng, người giao nhận có thể thực hiện khác với chỉ
dẫn của khách hàng nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng nhưng phải
thông báo ngay cho khách hàng.
• Sau khi ký kết hợp đồng, nếu xảy ra trường hợp có thể dẫn đến việc không thực hiện
được toàn bộ hoặc một phần những chỉ dẫn của khách hàng thỉ phải thông báo ngay
cho khách hàng biết để xin chỉ dẫn thêm.
• Trong trường hợp hợp đồng không có sự thỏa thuận về thời hạn cụ thể thực hiện
nghĩa vụ với khách hàng thì phải thực hiện các nghĩa vụ của mình trong thời hạn hợp
lý.
Theo Luật Thương mại Việt Nam, người làm dịch vụ giao nhận không phải chịu trách
nhiệm về những mất mát, hư hỏng phát sinh trong những trường hợp:
• Do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷ quyền;
• Đã làm đúng theo những chỉ dẫn của khách hàng hoặc của người được khách hàng
Ngân hàng
Người chuyên chở
Người bảo hiểm Sơ đồ trên biểu thị mối quan hệ giữa người giao nhận với các bên liên quan nhưng không
phủ nhận mối quan hệ giữa các bên với nhau. Trước hết là quan hệ với khách hàng, có thể
là người gửi hàng hoặc người nhận hàng thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau, mang
nhiều quốc tịch khác nhau. Mối quan hệ này được điều chỉnh bằng hợp đồng ủy thác giao
nhận.
Quan hệ với Chính phủ và các cơ quan chức năng đại diện cho Chính phủ như: Bộ Thương
mại, Hải quan, Giám định, Cơ quan quản lý ngoại hối, kiểm dịch, y tế,…
Quan hệ với người chuyên chở và đại lý của người chuyên chở: đó có thể là chủ tàu, người
môi giới, hay bất kỳ người kinh doanh vận tải nào khác, mối quan hệ này được điều chỉnh
bằng hợp đồng cung cấp dịch vụ.
Ngoài ra, người giao nhận còn có mối quan hệ nghiệp vụ với ngân hàng, người bảo hiểm.
1.1.2.6 Vai trò của người giao nhận trong thương mại quốc tế
Từ trước đến nay các “Forwarders” được xem là người trung gian trong quá trình vận
chuyển và giao nhận hàng hoá. Có ý kiến cho rằng sự tồn tại của nghề này sẽ không còn
được bao lâu nữa bởi lẽ công nghệ thông tin và mạng toàn cầu đã phát triển mạnh mẽ và trở
nên phổ biến hơn bao giờ hết, cung cấp cho các chủ hàng khả năng giao dịch trực tiếp với
các nhà vận chuyển lớn. Tuy nhiên, nhận định như vậy đã phủ nhận tầm quan trọng của
người giao nhận - người điều phối quá trình vận chuyển hàng hóa thông suốt. Chúng ta biết
thương mại điện tử là bước tiến lớn, là xu hướng mới, nhưng vẫn phải cần một ai đó thực sự
giao nhận hàng! Các hãng tàu quan tâm đến việc hàng có được chất đầy trên boong và họ
sẵn sàng dành những ưu đãi nhất định về giá cước và những ưu đãi khác cho khách hàng
quen thuộc dù đó là một trung gian hay không phải trung gian. Ngoài ra nhà cung cấp có
thể chấp nhận vận chuyển chỉ một container đầy hàng của họ đến khách hàng; nhưng nếu
một container đó lại chứa hàng của rất nhiều người mua thì việc sử dụng trung gian giao
nhận sẽ kinh tế hơn việc tự tổ chức vận chuyển đến tận nơi từng khách hàng. Hiện
Luật thuế v.v…
Các loại hợp đồng làm cơ sở cho hoạt động giao nhận bao gồm hợp đồng mua bán ngoại
thương, hợp đồng thuê tàu, hợp đồng ủy thác giao nhận, hợp đồng bảo hiểm…
• Một số nguyên tắc tập tục trong giao nhận hàng hóa
• Việc bốc dỡ, giao nhận, bảo quản hàng hóa xuất nhập khẩu tại cảng là do cảng tiến
hành trên cơ sở hợp đồng giữa chủ hàng hoặc người được chủ hàng ủy thác với cảng.
Người được chủ hàng ủy thác thường là người giao nhận.
• Đối với hàng không lưu kho tại cảng thì chủ hàng hoặc người được ủy thác có thể
giao nhận trực tiếp với tàu, chỉ thỏa thuận với cảng về địa điểm bốc dỡ, thanh toán
chi phí bốc dỡ và các chi phí phát sinh khác.
• Việc bốc dỡ hàng hóa trong phạm vi cảng do cảng tổ chức thực hiện. Nếu chủ hàng
đưa phương tiện và nhân công vào cảng để bốc dỡ thì chủ hàng phải thỏa thuận với
cảng và phải trả lệ phí liên quan, nếu có.
• Người giao nhận hàng phải xuất trình chứng từ hợp lệ xác nhận quyền được nhận
hàng và phải nhận liên tục trong một thời gian nhất định khối lượng hàng hóa ghi
trong chứng từ. Cảng không chịu trách nhiệm về hàng hóa khi đã ra khỏi cảng.
• Việc giao nhận được tiến hành trên cơ sở ủy thác của chủ hàng tức là chủ hàng ủy
thác việc gì thì chỉ làm việc đó.
Ngoài ra còn có những qui tắc cơ bản như việc giao nhận phải đảm bảo định mức xếp dỡ
của cảng, hàng thông qua cảng phải có đầy đủ ký mã hiệu…
1.2.2 Qui trình giao nhận hàng xuất khẩu
a) Đối với hàng hóa không phải lưu kho bãi tại cảng
Hàng không phải lưu kho bãi tại cảng là hàng xuất khẩu mà chủ hàng có thể bảo quản tại
các kho riêng của mình chứ không qua các kho của cảng. Từ kho riêng, các chủ hàng hoặc
người được chủ hàng ủy thác có thể giao trực tiếp cho tàu. Sau khi đã đăng ký với cảng và
ký kết hợp đồng xếp dỡ, hàng cũng sẽ được giao nhận trên cơ sở tay ba (cảng, tàu và chủ
hàng). Số lượng hàng hoá sẽ được giao nhận, kiểm đếm và ghi vào Tally Sheet có chữ ký
xác nhận của ba bên. Các bước giao nhận gồm:
• Đưa hàng đến cảng: Chủ hàng hoặc người được chủ hàng ủy thác bằng phương tiện
của mình vận chuyển hàng đến cảng.
Báo cho cảng ngày giờ dự kiến tàu đến (ETA), chấp nhận thông báo sẵn
sàng (NOR)
Giao cho cảng Danh mục hàng hoá xuất khẩu để cảng bố trí phương
tiện xếp dỡ. Trên cơ sở Cargo List này, thuyền phó phụ trách hàng hoá
sẽ lên Sơ đồ xếp hàng ( Cargo plan)
• Xếp và giao hàng cho tàu
Trước khi xếp, tổ chức vận chuyển hàng từ kho ra cảng, lấy lịch xếp
hàng, ấn định máng xếp hàng, bố trí xe và công nhân, người áp tải (nếu
cần).
Tiến hành bốc và giao hàng cho tàu. Việc xếp hàng lên tàu do công
nhân của cảng làm. Hàng sẽ được giao cho tàu dưới sự giám sát của đại
diện hải quan. Trong quá trình giao hàng, nhân viên kiểm đếm của cảng
phải ghi số lượng hàng giao vào Tally Report, cuối ngày phải ghi vào
Daily Report và khi xếp xong một tàu, ghi vào Final Report. Bên phía
tàu cũng có nhân viên kiểm đếm và ghi tình hình vào Tally Sheet. Việc
kiểm đếm cũng có thể thuê nhân viên của công ty kiểm kiện.
Khi giao nhận xong một lô hoặc cả tàu, cảng phải lấy biên lai thuyền
phó (Mate’s Receipt) để trên cơ sở đó lập vận đơn.
• Lập bộ chứng từ thanh toán
Căn cứ vào hợp đồng mua bán và L/C, người giao nhận phải lập hoặc lấy các chứng từ cần
thiết tập hợp thành bộ chứng từ, xuất trình cho ngân hàng để được thanh toán tiền hàng.
Nếu thanh toán bằng L/C thì bộ chứng từ thanh toán phải phù hợp với nhau và phù hợp về
mặt hình thức với L/C và phải xuất trình trong thời hạn hiệu lực của L/C.
• Thông báo cho người mua về việc giao hàng và mua bảo hiểm cho hàng hóa nếu cần.
• Thanh toán các chi phí cần thiết cho cảng như chi phí bốc hàng, vận chuyển, lưu kho,
bảo quản…
• Tính toán thưởng phạt xếp dỡ (nếu có)
c) Đối với hàng xuất khẩu đóng trong container
i) Gửi hàng nguyên container (FCL - Full Container Load)
• Chủ hàng hoặc người được chủ hàng ủy thác sẽ phải giao dịch với hãng tàu hoặc đại
chi tiết hầm hàng (2 bản), chi tiết về hàng quá khổ quá tải (nếu có)
Chủ hàng xuất trình vận đơn gốc cho đại diện của hãng tàu
Trực tiếp nhận hàng từ tàu và lập các chứng từ cần thiết trong quá trình nhận hàng như:
• Biên bản giám định hầm tàu (lập trước khi dỡ hàng) nhằm bảo lưu trách nhiệm của
tàu về những tổn thất xảy ra sau này.
• Biên bản dỡ hàng (COR) đối với tổn thất rõ rệt
• Thư dự kháng (LR - Letter of Reservation) đối với tổn thất không rõ rệt
• Bản kết toán nhận hàng với tàu (ROROC)
• Biên bản giám định
• Giấy chứng nhận hàng thiếu (do đại lý hàng hải lập)
Khi dỡ hàng ra khỏi tàu, chủ hàng có thể đưa về kho riêng để mời hải quan kiểm hoá. Nếu
hàng không có niêm phong kẹp chì phải có hải quan áp tải về kho.
Làm thủ tục hải quan cho hàng nhập
Vận chuyển hàng về kho hoặc phân phối ngay hàng hoá
b) Đối với hàng phải lưu kho, lưu bãi tại cảng
Cũng như đối với hàng xuất khẩu, trình tự nhận hàng gồm các bước sau:
(1) Cảng nhận hàng từ tàu
• Trước khi dỡ hàng, tàu hoặc đại lý phải cung cấp cho cảng Bản lược khai hàng hoá
(Cargo Manifest), sơ đồ hầm tàu để cảng và các cơ quan chức năng khác như Hải
quan, Ðiều độ, cảng vụ tiến hành các thủ tục cần thiết và bố trí phương tiện làm
hàng;
• Cảng và đại diện tàu tiến hành kiểm tra tình trạng hầm tàu. Nếu phát hiện thấy hầm
tàu ẩm ướt, hàng hoá ở trong tình trạng lộn xộn hay bị hư hỏng, mất mát thì phải lập
biên bản để hai bên cùng ký. Nếu tàu không chịu ký vào biên bản thì mời cơ quan
giám định lập biên bản mới tiến hành dỡ hàng
• Dỡ hàng bằng cần cẩu của tàu hoặc của cảng và xếp lên phương tiện vận tải để đưa
về kho, bãi. Trong quá trình dỡ hàng, đại diện tàu cùng cán bộ giao nhận cảng kiểm
đếm và phân loại hàng hoá cũng như kiểm tra về tình trạng hàng hoá và ghi vào Tally
Sheet;
• Hàng sẽ được xếp lên ô tô để vận chuyển về kho theo phiếu vận chuyển có ghi rõ số
trên.
c) Đối với hàng nhập khẩu đóng trong container
(1) Nếu là hàng nguyên (FCL/FCL)
• Khi nhận được thông báo hàng đến ( Notice of arrival), chủ hàng mang B/L gốc và
giấy giới thiệu của cơ quan đến hãng tàu để lấy D/O;
• Chủ hàng mang D/O đến hải quan làm thủ tục và đăng ký kiểm hoá 9 chủ hàng có
thể đề nghị đưa cả container về kho riêng hoặc ICD để kiểm tra hải quan nhưng phải
trả vỏ container đúng hạn nếu không sẽ bị phạt;