NGUYỄN THỊ SEN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
i
LỜI CAM ĐOAN
Lời đầu tiên cho em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới toàn thể các giảng
viên trong trường Học viện Chính sách và Phát triển, đặc biệt là các thầy cô khoa Kinh
tế đối ngoại đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho em học tập, trang bị kiến thức và
tích lũy những kỹ năng quý giá cho bản thân.
Bên cạnh đó cho em gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai đã
tận tình chỉ bảo và hướng dẫn giúp em rất nhiều trong quá trình viết bài và hoàn thành
bài viết này.
Em xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do em thực hiện.
Các số liệu và kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn chưa từng đươc
công bố ở các nghiên cứu khác
Em xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Sinh viên Nguyễn Thị Sen NGUYỄN THỊ SEN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
ii
1.7.2. Các công ty giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu ở Việt Nam 14
NGUYỄN THỊ SEN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
iii
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIAO NHẬN HÀNG HÓA
XUẤT NHẬP KHẨU BẰNG ĐƢỜNG BIỂN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
HÀNG HẢI VSICO 16
2.1. Tổng quan về công ty cổ phần hàng hải VSICO 16
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển 16
2.1.2. Chức năng và lĩnh vực hoạt động 17
2.1.3. Cơ cấu tổ chức hoạt động 18
2.1.4. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty 21
2.2. Cơ sở pháp lý của hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng
container đƣờng biển tại Việt Nam 23
2.2.1. Liên quan đến buôn bán quốc tế 23
2.2.2. Liên quan đến vận tải 24
2.2.3. Liên quan đến thanh toán 25
2.3. Thực trạng giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đƣờng biển của
công ty VSICO 27
2.3.1. Quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu của công ty VSICO 27
2.3.2. Sản lượng và giá trị giao nhận 37
2.3.3. Người chuyên chở 42
2.3.4. Khách hàng chủ yếu 44
2.3.5. Thị trường giao nhận 46
2.4. Đánh giá chung về hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng
đƣờng biển của công ty VSICO 48
2.4.1. Những kết quả đạt được 48
2.4.2. Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân 49
KẾT LUẬN 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC 01 68
PHỤ LỤC 02 72
NGUYỄN THỊ SEN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Tiếng Anh
Tiếng Việt
1
CIF
Cost, Insurance and Freight
Gia bao gồm cả bảo hiểm và chi
phí vận tải
2
Giá gồm giá và chi phí vận
chuyển tới khi giao hàng lên tàu
9
ICC
International Chamber of
Commerce
Phòng thương mại quốc tế
10
IMO
International Maritime
Organization
Tổ chức hàng hải quốc tế
11
ISM Code
International Safety
Management Code
Bộ luật quốc tế về tiêu chuẩn
quản lý an toàn, khai thác và
ngăn ngừa ô nhiễm môi trường
12
ISPS Code
International Ship and Port
Facility Security Code
Bộ luật quốc tế về an ninh tàu và
bến cảng
13
IT
Information Technology
Hệ thống công nghệ thông tin
14
19
VNACCS/V
CIS
Hệ thống hải quan điện tử và
Một cửa quốc gia nhằm hiện đại
hóa hải quan
20
VP
Văn phòng
21
VSICO
Công ty cổ phần hàng hải
VSICO
viii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1. Quan hệ của người giao nhận với các bên liên quan 12
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty VSICO 19
Sơ đồ 2.2. Quy trình giao hàng hóa xuất khẩu 28
Sơ đồ 2.3. Quy trình nhận hàng hoá nhập khẩu 34
Biểu đồ 2.1. Sản lượng giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu của VSICO 2010-2013 38
Biểu đồ 2.2. Cơ cấu sản lượng giao nhận hàng XK và NK của công ty VSICO 39
hóa diễn ra khá là sôi nổi. Trước đây thì các hãng tàu giữ vị trí then chốt trong lĩnh vực
giao nhận, tuy nhiên bây giờ sự ra đời của các công ty giao nhận (Forwarder) thì các
hãng tàu gặp nhiều cản trở, sự cạnh tranh gay gắt giữa các công ty giao nhận với nhau
cũng như sự cạnh tranh giữa hãng tàu với các công ty giao nhận.
Hãng tàu VSICO với tên gọi là công ty cổ phần hàng hải VSICO với lợi thế
trước kia là công ty con của Tập đoàn kinh tế Vinashin, công ty cũng đã gây dựng
được thương hiệu và tạo mối quan hệ bạn hàng với các đối tác lớn trong nước cũng
như trên trường quốc tế. Trước nhu cầu ngoại thương và giao nhận vận tải quốc tế có
xu hướng tăng là cơ hội lớn để cho công ty có thể hoạt động kinh doanh tốt trong lĩnh
NGUYỄN THỊ SEN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
2
vực giao nhận và vận tải biển, tuy nhiên trong lĩnh vực khác cũng như trong lĩnh vực
giao nhận hàng hóa thì khả năng cạnh tranh của công ty chưa cao mà nguyên nhân là
do các yếu tố như con người, quy trình giao nhận hàng, quy trình thủ tục chứng từ. Để
nâng cao vị trí của công ty, tăng cao khả năng cạnh tranh thì vệc cần thiết nhất là công
ty phải nâng cao chất lượng dịch vụ, nâng giá trị quy trình giao nhận hàng và quy trình
xử lý chứng từ được thực hiện đồng bộ và hiệu quả nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách
hàng. Vì vậy em quyết định nghiên cứu đề tài sau: “NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG GIAO NHẬN HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU BẰNG ĐƢỜNG BIỂN
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN HÀNG HẢI VSICO”. Với đề tài này em sẽ làm rõ thực
trạng kinh doanh hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu của công ty VSICO
trong giai đoạn 2010 - 2013, đánh giá hoạt động kinh doanh đồng thời nghiên cứu các
hạn chế vẫn còn tồn tại từ đó đưa ra các gói giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch
vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu của công ty trong thời gian tới.
2. Đối tƣợng và mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu
bằng đường biển của công ty cổ phần hàng hải VSICO.
Mục đích nghiên cứu: Tìm ra giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
NGUYỄN THỊ SEN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
4
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIAO NHẬN HÀNG HÓA
XUẤT NHẬP KHẨU BẰNG ĐƢỜNG BIỂN
1.1. Khái niệm về hoạt động giao nhận
Dịch vụ giao nhận (Freight Forwarding service), theo quy tắc mẫu của FIATA
5
và giao nhận (Shipping and Forwarding Agent), người chuyên chở chính.
1.2. Phân loại và điều kiện kinh doanh dịch vụ giao nhận
1.2.1. Phân loại dịch vụ giao nhận
Hiện nay có rất nhiều loại hình dịch vụ giao nhận, xét trên từng khía cạnh và
từng tiêu chí thì sẽ có những loại dịch vụ giao nhận nhất định:
- Khi căn cứ vào phạm vi hoạt động thì có:
+ Giao nhận quốc tế: hoạt động giao nhận phục vụ chuyên chở hàng hóa quốc
tế.
+ Giao nhận nội địa: hoạt động giao nhận chuyên chở hàng hóa trong nước.
- Khi căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh sẽ có:
+ Giao nhận thuần túy: hoạt động giao nhận chỉ bao gồm thuần túy việc gởi
hàng đi hoặc hàng đến.
+ Giao nhận tổng hợp: hoạt động giao nhận ngoài giao nhận thuần túy còn bao
gồm cả xếp dỡ, bảo quản hàng hóa, vận chuyển đường ngắn, hoạt động kho bãi.
- Khi căn cứ vào phương thức vận tải sẽ có:
+ Giao nhận hàng chuyên chở bằng đường biển, đường sông.
+ Giao nhận hàng chuyên chở bằng đường sắt, đường bộ.
+ Giao nhận hàng chuyên chở bằng đường hàng không.
+ Giao nhận hàng chuyên chở đa phương thức.
- Khi căn cứ vào tính chất giao nhận sẽ có:
+ Giao nhận riêng: hoạt động giao nhận do người xuất khẩu tự tổ chức không
sử dụng dịch vụ của người giao nhận.
+ Giao nhận chuyên nghiệp: hoạt động giao nhận của các tổ chức, công ty
chuyên kinh doanh giao nhận theo sự ủy thác của khách hàng.
1.2.2. Điều kiện kinh doanh dịch vụ giao nhận
FIATA (Liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao nhận) đã thảo ra một bản mẫu điều
kiện kinh doanh tiêu chuẩn (Standard trading conditions) để các nước tham khảo xây
dựng “Điều kiện kinh doanh cho ngành giao nhận” của mình.
Nội dung của bản “Điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn” gồm:
làm công cho mình, không chịu trách nhiệm về sai sót của bên thức ba, miễn là
đã tỏ ra cần mẫn thích đáng trong việc lựa chọn bên thứ ba.
1.3. Vai trò của ngƣời giao nhận trong thƣơng mại quốc tế
Ngày nay do sự phát triển của vận tải Container, vận tải đa phương thức, người
giao nhận không chỉ lầm đại lý, người nhận ủy thác mà còn cung cấp dịch vụ vận tải
và đóng vai trò như một bên chính (Principal) - người chuyên chở (Carrier).
Người Giao nhận đã làm các chức năng và công việc của những người sau:
1.3.1. Môi giới hải quan
Thuở ban đầu, người giao nhận chỉ hoạt động trong nước. Nhiệm vụ của người
NGUYỄN THỊ SEN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
7
giao nhận lúc bấy giờ làm thủ tục Hải quan đối với hàng nhập khẩu như một môi giới
hải quan. Sau đó người giao nhận mở rộng hoạt động phục vụ cả hàng xuất khẩu và
dành trở hàng trong vận tải quốc tế hoặc lưu cước với các hãng tàu tùy theo sự uỷ thác
của người xuất khẩu và tùy thuộc vào hợp đồng mua bán. Trên cơ sở được nhà nước
cho phép, người giao nhận thay mặt cho người xuất khẩu, nhập khẩu để khai báo và
làm thủ tục hải quan như một môi giới hải quan.
Theo tập quán xuất khẩu theo điều kiện FOB thì chức năng của người giao nhận
được gọi là “FOB người giao nhận” (FOB Freight Forwarding). Ở các nước như Pháp,
Mỹ hoạt động của người giao nhận yêu cầu phải có giấy phép làm mô giới hải quan.
1.3.2. Đại lý
Trước đây, người giao nhận không đảm nhận trách nhiệm của người chuyên
chở. Người giao nhận chỉ hoạt động như một cầu nối giữa người gửi hàng và người
chuyên chở hoặc như là một đại lý của người chuyên chở hay của người gửi hàng.
Người giao nhận ủy thác từ chủ hàng hoặc từ người chuyên chở để thực hiện các công
việc khác nhau như giao nhận hàng, lập chứng từ, làm thủ tục hải quan trên cơ sở
của hợp đồng ủy thác.
1.3.3. Người gom hàng
Transport), vì người giao nhận có khả năng tổ chức quá trình vận tải một cách tốt nhất
và tiết kiệm nhất.
1.4. Quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của ngƣời giao nhận hàng hóa
1.4.1. Quyền hạn và nghĩa vụ của người giao nhận hàng hóa
Theo điều 167 Luật thương mại quy định người giao nhận có những quyền và
nghĩa vụ sau:
Người giao nhận được hưởng tiền công và các khoản thu nhập hợp lý khác.
Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo hợp đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của
khách hàng thì có thể thực hiện khác chỉ dẫn của khách hàng nhưng phải thông
báo ngay cho khách hàng.
Sau khi ký kết hợp đồng, nếu thấy không thực hiện được chỉ dẫn của khách
hàng thì phải thông báo cho khách hàng để xin chỉ dẫn them.
Phải thực hiện nghĩa vụ của mình trong thời gian hợp lý nếu trong hợp đồng
không thỏa thuận về thời gian thực hiện nghĩa vụ với khách hàng.
1.4.2. Trách nhiệm của người giao nhận hàng hóa
a. Khi là đại lý của chủ hàng
Tùy theo chức năng của người giao nhận, người giao nhận phải chịu trách
nhiệm phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng đã ký kết và phải
chịu trách nhiệm về:
Giao hàng không đúng chỉ dẫn
NGUYỄN THỊ SEN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
9
Thiếu sót trong việc mua bảo hiểm cho hàng hóa mặc dù đã có hướng dẫn
Thiếu sót trong khi làm thủ tục hải quan
Chở hàng đến sai nơi quy định
Giao hàng cho người không phải là người nhận
Giao hàng mà không thu tiền từ người nhận hàng
10
Tuy nhiên, người giao nhận không chịu trách nhiệm về những mất mát, hư hỏng
cảu hàng hóa phát sinh từ những trường hợp sau đây:
- Do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng ủy thác
- Khách hàng đóng gói và ghi mã hiệu không phù hợp
- Do nội tỳ hoặc bản chất của hàng hóa
- Do chiến tranh, đình công
- Do các trường hợp bất khả kháng
Ngoài ra người giao nhận không chịu trách nhiệm về mất khoản lợi đáng nhẽ
khách hàng được hưởng về sự chậm chễ hoặc giao nhận sai địa chỉ mà không phải lỗi
do mình.
c. Việc miễn trừ hợp đồng
Tuy nhiên trong việc hình thành những điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn, người
giao nhận được hưởng một số miễn trừ trách nhiệm mà lẽ ra họ phải chịu. Trong luật
tập tục, người giao nhận khi hoạt động như người chuyên chở là một người chuyên
chở “công cộng” và phụ thuộc vào “trách nhiệm chặt chẽ”, nghĩa là anh ta chịu trách
nhiệm về tổn thất hàng hóa do thiên tai hay do những nhân tố khác được miễn trừ trách
nhiệm theo luật tập tục.
Trong thực tế người giao nhận trách nhiệm chặt chẽ đó bằng cách quy định
trong điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn rằng anh ta không phải là người “chuyên chở
công cộng”
1.5. Lợi ích của nghiệp vụ giao nhận
Hiện nay thì hoạt động thương mại càng ngày càng phát triển, trong đó hàng
hóa xuất nhập khẩu chiếm đến 80% trong tổng sản lượng hàng thương mại. Hoạt động
giao nhận ra đời đã đem lại nhiều lợi ích kinh tế cho cả nền kinh tế nói chung và cho
các tổ chức, công ty tư nhân nói riêng.
Thứ nhất, giảm được đội ngũ nhân sự, giảm thiểu rủi ro và tiết kiệm thời gian
trong quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa.
Thứ hai, đảm bảo giao hàng đúng thời gian quy định trong hợp đồng và trong
thư tín dụng, giúp người chuyên chở đẩy nhanh tốc độ quay vòng của phương tiện vận
vận tải vận chuyển hàng và sắp xếp thực hiện giao nhận cùng với chủ hàng
hay người giao nhận.
+ Người kinh doanh vận tải thủy về mặt sắp xếp lịch trình và vận chuyển,
lưu cước là các công ty đại lý tàu biển là người thay mặt cho người vận
chuyển thực hiện các thủ tục, chứng từ liên quan đến giao nhận và vận tải
hàng hóa.
- Các ga, cảng chịu trách nhiệm giao nhận hàng hóa, lưu kho bãi, xếp dỡ, cấp
giấy ra vào.
- Các công ty bảo hiểm là người bảo hiểm cho hàng hóa, cấp giấy chứng nhận
NGUYỄN THỊ SEN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
12
bảo hiểm và chịu trách nhiệm bồi thường cho hàng hóa nếu xảy ra rủi ro.
- Các công ty giám định được uỷ thác và cấp giấy biên bản giám định, thực hiện
đóng gói bao bì hàng hóa
- Ngân hàng thương mại để thực hiện tín dụng chứng từ: các ngân hàng đóng vai
trò là trung gian thanh toán tiền và thực hiện bảo lãnh.
Dưới đây là sơ đồ mối quan hệ của các bên liên quan tới hoạt động giao nhận
hàng hóa xuất nhập khẩu
đường bộ, đường sắt, hàng
không, đường thủy nội địa.
-Quản lý kho bãi
-Tổ chức đóng gói, làm
hàng
- Đại lý
- Ngân hàng
Người bảo hiểm trách nhiệm
NGUYỄN THỊ SEN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
13
1.7. Các tổ chức giao nhận trên thế giới và ở Việt Nam
1.7.1. Các tổ chức, cơ quan giao nhận trên thế giới
1.7.1.1. Quá trình phát triển của các cơ quan giao nhận quốc tế
Ngay từ những năm 1522, hãng giao nhận đầu tiên trên thế giới đã xuất hiện ở
Badiley (Thụy Sĩ), với tên gọi là E.Vasnai. Hãng này kinh doanh cả vận tải lẫn giao
nhận và thu phí rất cao, khoảng 1/3 giá trị hàng hóa.
Cùng với sự phát triển của vận tải và buôn bán quốc tế, giao nhận được tách rời
ra khỏi vận tải và buôn bán, dần dần trở thành một ngành kinh doanh độc lập. Đặc
điểm chính của tổ chức giao nhận thời kỳ này là:
- Hầu hết là các tổ chức (hãng, công ty) tư nhân
- Đa số các hãng kinh doanh giao nhận tổng hợp
- Các hãng thường kết hợp giao nhận theo khu vực địa lý hay mặt hàng
- Cạnh tranh gay gắt
Sự cạnh tranh gay gắt giữa các công ty giao nhận dẫn đến sự ra đời các Hiệp
hội giao nhận trong phạm vi một cảng, một khu vực hay một nước, trên phạm vi quốc
tế hình thành các liên đoàn giao nhận như: Liên đoàn những người giao nhận Bỉ, Hà
Lan, Mỹ đặc biệt là Liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao nhận, gọi tắt là FIATA
7.1.1.2. Liên đoàn quốc tế các hiệp hội gao nhận FIATA:
ban như:
- Tiểu ban về các quan hệ xã hội
- Tiểu ban nghiên cứu về kỹ thuật vận chuyển đường bộ, đường sắt đường hàng
không
- Ủy ban về vận tải và vận tải đa phương thức
- Tiểu ban luật pháp, chứng từ bảo hiểm
- Tiểu ban về đào tạo nghề nghiệp
- Ủy ban về đơn giản hóa thủ tục mua bán
- Tiểu ban về Hải quan
Hiện nay, một số công ty giao nhận và một số hãng tàu đã trở thành thành viên
chính thức hoặc công tác viên của FIATA
7.1.2. Các công ty giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu ở Việt Nam
Những năm 1960, các tổ chức giao nhận quốc tế ở Việt Nam mang tính chất
phân tán. Các đơn vị xuất nhập khẩu tổ chức chuyên chở hàng hóa của mình, vì vậy,
các Công ty xuất nhập khẩu đã thành lập riêng phòng kho vận, chi nhánh XNK, trạm
giao nhận ở các cảng, ga liên vận đường sắt.
Để tập trung đầu mối quản lý chuyên môn hóa khâu vận tải giao nhận, năm
1970 Bộ Ngoại thương (nay là Bộ thương mại) đã thành lập 2 tổ chức giao nhận:
- Cục kho vận kiêm Tổng công ty giao nhận ngoại thương trụ sở tại Hải phòng
- Công ty giao nhận đường bộ, trụ sở tại Hà Nội
NGUYỄN THỊ SEN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
15
Năm 1976, Bộ thương mại đã sát nhập hai tổ chức trên thành lập một công ty
thống nhất là Tổng công ty giao nhận kho vận Ngoại thương (Vietrans). Trong thời kỳ
bao cấp Vietrans là cơ quan duy nhất được phép giao nhận hàng hóa XNK trên cơ sở
ủy thác của các đơn vị XNK.
Những năm gần đây, nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có
sự điều tiết của Nhà nước, dịch vụ giao nhận hàng hóa không còn do Vietrans độc
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIAO NHẬN HÀNG HÓA XUẤT
NHẬP KHẨU BẰNG CONTAINER ĐƢỜNG BIỂN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
HÀNG HẢI VSICO
2.1. Tổng quan về công ty cổ phần hàng hải VSICO
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
2.1.1.1. Lịch sử hình thành công ty cổ phần hàng hải VSICO
Trên cơ sở nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu và rộng hơn vào nền
kinh tế toàn cầu, nhu cầu dịch vụ vận chuyển hàng hoá đa phương thức ngày càng
tăng, hơn nữa chiến lược phát triển ngành công nghiệp đóng tàu của Tập đoàn
VINASHIN là phát triển đội tàu vận tải container. Ngày 01 tháng 04 năm 2007, Ban
Lãnh Đạo Tập Đoàn VINASHIN ký Quyết định số 1015/CNT-TCCB-LĐ ngày 01
tháng 04 năm 2007 thành lập Công ty CP Hàng Hải và Đầu tư công nghiệp
VINASHIN với tên giao dịch quốc tế là VINASHIN SHIPPING AND
INDUSTRIAL INVESTMENT JOINT STOCK COMPANY, tên giao dịch viết tắt là
VSICO., JSC. - tiền thân là Công ty Cổ phần vận tải Biển Đông Phía Bắc
VINASHIN (Chi nhánh Hà Nội), tên giao dịch là BICONORTH Hà Nội, với bề dày
kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ xuất nhập khẩu hàng hoá
bằng container hơn 3 năm (từ đầu năm 2004 đến năm 2007). Các cổ đông chiến lược
sáng lập bao gồm người đại diện thuộc Ban Lãnh Đạo VINASHIN được Tập đoàn uỷ
quyền góp 51% cổ phần và các cá nhân giữ các vị trí quan trọng trong các công ty
cũng hoạt động trong ngành vận tải biển, cũng như vận tải đa phương thức
(VINAFCO, BIỂN ĐÔNG, ĐƯỜNG SẮT VIỆT NAM…), có trình độ cao và nhiều
năm kinh nghiệm trong lĩnh vực vận tải.
Tập đoàn Vinashin là được thành lập trên cơ sở cải cách, tổ chức lại Tổng công
ty tàu thủy Việt Nam (SBIC – 1996)
Ngày 15 tháng 5 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số
103/2006/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án thí điểm hình thành Tập đoàn kinh tế, đa
sở hữu, trong đó sở hữu Nhà nước chi phối, trên cơ sở sắp xếp tổ chức lại Tổng Công
ty Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam (Vinashin), theo đó quyết định số 104/2006/QĐ-
Nam Á. Với tôn chỉ kinh doanh “Tận tâm, tin cậy và chất lượng” cùng đội ngũ 230 cán
bộ công nhân viên, đội tàu tăng lên 3 chiếc, tổng tải trọng là 24.000 tấn, tổng dung tích
vận chuyển 1.550 teus mở rộng kinh doanh khai thác trên 3 tuyến: Việt Nam – Thái
Lan, Thái Lan – Hồng Kông, Hồng Kông - Việt Nam.
2.1.2. Chức năng và lĩnh vực hoạt động
2.1.2.1. Chức năng hoạt động của công ty
Từ khi thành lập đến nay công ty đã và đang hoạt động rất hiệu quả với các
chức năng riêng biệt: