Thực trạng và giải pháp thúc đẩy hoạt động kinh doanh giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển của công ty cổ phần kho vận và dịch vụ thương mại - Pdf 11

Chuyên đề thực tập chuyên ngành
LỜI NÓI ĐẦU
Xuất phát từ yêu cầu gắn lý luận với thực tiễn công việc nhằm sử dụng
một cách có hiệu quả các kiến thức chuyên ngành đã được đào tạo, đồng thời rút
ra được những kinh nghiệm quý báu đối với bản thân nên trong quá trình thực
tập tại công ty cổ phần kho vận và dịch vụ thương mại (VINATRANCO) em đã
quyết định lựa chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp thúc đẩy hoạt động kinh
doanh giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển của công ty cổ phần
kho vận và dịch vụ thương mại”.Việc giải quyết tốt các vấn đề mà đề tài này đặt
ra sẽ có một ý nghĩa rất quan trọng đối với công ty, đặc biệt là trong tình hình
khi công ty vừa mới tiến hành cổ phần hoá theo chủ trương của Bộ thương mại,
nhằm xoá bỏ dần sự bao cấp, hỗ trợ từ phía Nhà nước đối với các doanh nghiệp
quốc doanh . Chính vì vậy, nếu không ngừng nâng cao hiệu quả của hoạt động
giao nhận vận tải nói riêng và của các hoạt động kinh doanh khác của công ty
nói chung thì Công ty sẽ rất khó có thể tồn tại trong nền kinh tế thị trường hiện
nay. Bên cạnh đó, việc nâng cao hiệu quả hoạt động giao nhận vậnh tải quốc tế
không chỉ được đặt ra cho riêng Công ty cổ phần kho vận và dịch vụ thương mại
mà còn đối với tất cả các Công ty kinh doanh lĩnh vực giao nhận vận tải quốc tế
khác ở trong nước.
Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển ở công ty
cổ phần Kho vận và dịch vụ thương mại.
Phạm vi nghiên cứu:
-Thời gian: Từ năm 2001 đến nay
-Không gian: Công ty cổ phần Kho vận và dịch vụ thương mại
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Mục đích nghiên cứu:
Tìm ra giải pháp để thúc đẩy hoạt động giao nhận hàng hoá xuất nhập
khẩu bằng đường biển của công ty VINATRANCO.
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp duy vật biện chứng và lịch sử, gắn lý luận với thực tiễn;

- Vận tải đường biển thích hợp cho hầu hết các hàng hoá trong thương
mại quốc tế, nhất là các hàng hoá có giá trị thấp như: than, ngũ cốc, quặng, dầu
mỏ, …
- Khả năng chuyên chở của tàu biển rất lớn nên số lượng hàng hoá được
chở rất nhiều.
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
- Phí vận chuyển tương đối thấp vì số tiêu hao về nhiên liệu, vật liệu tính
theo tấn trọng lượng hàng được chở tương đối thấp, nếu so với phương thức vận
chuyển bằng hàng không…
2.2.Khó khăn
- Tốc độ vận chuyển chậm (chỉ độ 14-20 hải lý/giờ) so với một số phương
thức vận chuyển khác như phi cơ, tàu hoả, …
- Tàu vận chuyển trên biển thường bị ảnh hưởng bị ảnh hưởng bởi thời
tiết, khí hậu, dễ gặp tai nạn rủi ro bất ngờ trên biển như: đâm đá ngầm, mất tích,
cháy, …
- Đi qua nhiều nhiều khu vực chính trị xã hội khác nhau, do đó chịu sự chi
phối nhiều bởi các luật lệ, tập quán của các nước, các khu vực khác nhau.
2.3.Tác dụng của vận tải biển
- Sự phát triển của ngành vận tải biển đã góp phần làm thay đổi cơ cấu
mặt hàng, cơ cấu nguồn hàng trong buôn bán quốc tế
- Đội tàu buôn đóng vai trò rất quan trộng trong xuất khẩu sản phẩm vận
tải và là nguồn thu ngoại tệ lớn đối với các nước.
- Thúc đẩy quan hệ quốc và mở rộng thị trường buộn bán quốc thế giới.
3. Các yếu tố cấu thành vận tải biển
3.1. Địa lý vận tải
3.1.1.Các tuyến vận tải quốc tế
- Các tuyến vận tải chính .
- Vị trí các cảng.
- Nơi chuyển tải, như Hồng Kông, Singapore, Rotterdam.
- Các trung tâm nội địa (Inland Center).

tục thuê tàu không linh động và việc xem xét các đề nghị của chủ hàng về
giảm cước thường phải thông qua các thủ tục kéo dài.
- Hãng tàu ngoài công hội: Trong nhiều năm gần đây, hầu hết các
tuyến đường quốc tế, các hãng tàu ngoài công hội đã đặt ra sự thách thức
đối với hệ thống công hội do sự phát triển của container hoá ngày càng
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
mạnh trên toàn cầu và sự xuất hiện của nhiều hãng vận tải độc lập, bao
gồm một số tập đoàn container. Hậu quả là trên một số tuyến đường, các
hãng tàu trong công hội đã buộc phải đi đến thoả thuận với các hãng
ngoài Công hội về mức cước và các điều kiện dịch vụ phục vụ.
- Người vận tải công cộng không điều hành tàu: Là người vận tải
điều hành luồng tàu theo lịch trình đều đặn, không sở hữu hoặc hoặc
không khai thác tàu vận chuyển trên biển. Đối với chủ hàng thực thụ,
người vận tải công cộng là một người vận chuyển nhưng đối với người
vận tải thực thụ, tức là chủ tàu họ là một chủ hàng (người gửi hàng).
Người vận tải công cộng đóng vai trò của người uỷ thác và có chức
năng sau:
. Chịu trách nhiệm vận chuyển hàng bằng đường biển.
. Sử dụng dịch vụ vận chuyển của người vận tải biển, của người trong
hoặc ngoài công hội.
. Cung cấp dịch vụ có ích bằng cách tổ chức tập trung hàng, đặc biệt đối
với các chủ hàng nhỏ, ít thế lực để thương lượng giá cước, như thu gom
hàng lẻ của nhiều chủ hàng lẻ để chất đầy container hầu được giảm giá
cước.
Người vận tải công cộng mở rộng phạm vi dịch vụ của mình bằng
cách tổ chức vận tải “từ cửa đến cửa”, tức là lo toàn bộ khâu nhận hàng và
giao hàng đến tận tay người nhập khẩu.
- Tàu chạy rong: Là loại tàu không có lịch trình cố định, sẽ hoạt
động trên bất cứ tuyến đường nào , tuỳ theo luật cung cầu. Người ta
thường thuê tàu chạy rong với giá thương lượng, dặc biệt khi số lượng

- Dung tích đăng ký gộp (GRT): Là dung tích được tính toàn bộ của tàu,
tính theo đơn vị tấn bằng 100 Cubic Feet per Ton (Cft).
- Dung tích đăng ký tịnh (NRT): Là dung tích bằng cách lấy GRT trừ
khoang để máy và khoang thời viên (tức dung tích thực sự chứa hàng).
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
- Dung tích chứa hàng hạt: Là dung tích toàn bộ khoang chứa hàng của
tàu kể cả hầm tàu.
- Dung tích chứa hàng bao kiện: Là tổng dung tích của phần dưới boong
tàu kể cả cửa hầm tàu.
- Trọng tải (DWT): Chỉ khả năng vận chuyển của tàu, tính bằng tấn trọng
lượng. Dung tích chở hàng thường tính bằng cách lấy DWT trừ khoang chứa
nguyên liệu, phụ tùng dự trữ, chỗ chứa nước ngọt và thực phẩm.
- Vạch chở hàng: Các dấu hiệu của vạch chở hàng trên tàu chỉ rõ giới tàu
có thể xếp hàng mà không gây nguy hiểm đến độ an toàn của tàu. Khoảng cách
từ dấu vạch chở hàng đến boong tàu, gọi là “phần boong trống”.
- Xếp hạng tàu: Tàu biển được xếp hạng theo quy định của các công ty
phân loại như: Lloyd’s Register of Shipping – American Bureau of Shipping –
Bureau Veritas…để đảm bảo tàu được chủ hàng duy trì trong điều kiện đủ khả
năng đi biển về phương diện bảo hiểm hàng hải. Việc xếp hạng tàu rất quan
trọng vì một chiếc tàu được xếp hạng cao sẽ chịu phí bảo hiểm thấp hơn tàu xếp
hạng thấp.
- Quốc tịch tàu: Luật hàng hải quốc tế buộc bất cứ tàu nào đi biển, được
hiểu là tàu cướp biển, hoặc tàu mang quốc tịch Liberia, sẽ được hiểu là tàu cũ,
không tốt, đăng ký tự do và dễ dàng tại Liberia để kinh doanh kiếm nhiều lời.
Đối với loại tàu trên, cước rẻ nhưng rất nguy hiểm đối với chủ hàng và người
bảo hiểm vì hàng rất dễ bị hư nên người bảo hiểm hoặc phí bảo hiểm khá cao
theo luỹ tiến của tuổi tàu, hoặc thậm chí không nhận bảo hiểm tàu và hàng.
Quốc tịch tàu và quyền sở hữu tàu được nhà nước xácnhận bằng việc cấp một
giấy chứng nhận thực và tên tàu được chính thức ghi vào sổ đăng bộ công cộng,
giấy trên luôn phải đi theo chiếc tàu.

Thứ hai 1100 - 1800 30000 225 30 11
Thứ ba 2000 - 3000 40000 290 32 13
Thứ tư trở lên Panamax
Chú thích: TEUS: Twenty feets equivalent unit: Đơn vị tương đương
20’(feet)
Nguồn: Tổng công ty hàng hải Việt Nam
b) Theo tính chất thương mại:
- Tàu chở hàng - Tàu chở khách - Tàu hỗn hợp
c) Theo sức đẩy:
- Tàu buồm SS (Sailing Ship) - Tàu hơi nước (Steam ship) - Tàu chạy
máy (Motor Vessel: MV).
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
d) Theo tác vụ:
- Tàu chợ (Liner) - Tàu chuyến (Tramp)
e) Theo tuyến đường dài ngắn:
- Tàu viễn dương - Tàu cận hải - Tàu ven duyên (100 tấn trở lại, không đi
quá 120 km khỏi cảng cư ngụ).
f) Theo cờ tàu:
- Tàu treo cờ bình thường: Tàu của nước nào sẽ đăng ký và treo cờ nước
đó.
- Tàu treo cờ phương tiện: Tàu của nước này nhưng lại đăng ký tại nước
khác và treo cờ của nước đó. Thí dụ, tàu của Mỹ nhưng lại đăng ký tại
Panama hoặc Lineria, Bahamas, Sip, Bermuda, Cyprus, Malta, Vanuatu,
Hy Lạp…
II- DỊCH VỤ GIAO NHẬN HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU BẰNG
ĐƯỜNG BIỂN
1. Khái niệm
Theo điều 163 của luật thương mại Việt Nam, ban hành ngày 23-5-
1997,”Dịch vụ giao nhận hàng hoá là hành vi thương mại, theo đó người làm
dịch vụ gíao nhận hàng hoá nhận hàng từ người gởi, tổ chức việc vận chuyển,

thường xuyên và không có giá trị lớn.
- Giảm thiểu được các rủi ro đối với hàng và tiết kiệm được thời gian
trong lúc thực hiện giao nhận hàng với tàu do không có kiến thức chuyên ngành
và kinh nghiệm so với người người giao nhận chuyên sống bằng dịch vụ này.
- Thực hiệ việc giao hàng đúng ngày tháng do hợp đồng đã quy định,
tránh việc gây chậm trễ làm người nhập khẩu có lý do yêu cầu giảm giá hàng
hoặc không thanh toán tiền hàng.
- Nếu hàng hàng phải chuyển tải ở một nước thứ ba, người giao nhận đảm
trách việc nhận hàng từ tàu thứ nhất và tìm cách gửi hàng lên tàu thứ hai để đi
đến cảng cuối của người nhập khẩu, mà người xuất khẩu khỏi phải có đại diện
tại nước thứ ba lo việc trên nên đỡ tốn phí.
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
- Người giao nhận do thường xuyên tiếp xúc với các hãng tàu nên biết rõ
hãng tàu nào có uy tín, cước phí hợp lý, tuổi của tàu, lịch trình đi và đến đảm
bảo đúng nhằm hạn chế rủi ro đối với hàng so với người xuất khẩu không
chuyên môn về lĩnh vực này.
2.2. Đối với người nhập khẩu
- Tương tự như người xuất khẩu, người nhập khẩu giảm bớt được nhân
sự, giảm phí.
- Tránh được nhiều rủi ro, khi nhận hàng từ tàu, nhất là đối với hàng rời
như phân bón, bột mỳ, xi măng, … vì thủ tục nhận hàng phức tạp. Nếu không
nắm vững các thủ tục này, trong trường hợp tàu giao hàng thiếu, hoặc hư do tàu
bảo quản không tốt, người nhập khẩu sẽ không biết lập các chứng từ liên hệ như:
giấy chứng nhận hàng giao thiếu, biên bản hàng đổ vỡ và hư hỏng, mời bảo
hiểm giám định và lập biên bản giám định… sẽ khó khiếu nại đòi tàu bồi thường
hoặc đòi công ty bảo hiểm bồi thường, nếu hàng được bảo hiểm…
- Nhận hàng nhanh để giải tỏa kho bãi để tránh bị phạt vì lưu kho bãi cảng
quá hạn, … giúp tiêu thụ hàng trên thị trường nhanh.
- Thay mặt người nhập khẩu để bảo vệ quyền lợi của họ bằng cách lập các
chứng từ liên hệ để khiếu nại tàu, cảng gây tổn thất đối với hàng.

trên Cargo List, Thuyền phó phụ trách hàng hóa sẽ lập sơ đồ xếp hàng
trên tàu.
+ Ký hợp đồng xếp dỡ với cảng.
- Tổ chức xếp và giao hàng cho tàu:
+ Trước khi xếp hàng lên tàu, phải tổ chức vận tải hàng từ kho ra
cảng, lấy Lệnh xếp hàng, ấn định số máng tàu (chỗ chứa hàng), bố trí xe
và công nhân và người áp tải hàng nếu cần.
+ Tiến hành việc xếp và giao hàng cho tàu. Việc xếp hàng lên tàu
do công nhân cảng làm. Hàng sẽ được giao cho tàu dưới sự giám sát của
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
đại diện hải quan. Trong lúc giao hàng, nhân viên kiểm đếm của cảng phải
ghi số lượng hàng giao vào phiếu kiểm đếm, cuối ngày phải ghi vào bản
báo cáo hàng ngày và khi cấp xong một tàu, vào báo cáo sau cùng. Phía
tàu cũng có nhân viên kiểm đếm và ghi kêt quả vào phiếu kiểm đếm. Việc
kiểm đếm cũng có thể thuê nhân viên của công ty kiểm kiện.
+ Khi giao nhận xong một lô hàng, hoặc toàn tàu cảng phải lấy biên
lai thuyền phó để trên căn cứ đó, tàu lập vận đơn đường biển đã xếp hàng
(Shipped on board hay On board Bill of lading).
Sau khi xếp hàng lên tàu, căn cứ vào số lượng hàng đã xếp ghi
trong Tally Sheet, cảng sẽ lập “Biên bản tổng kết xếp hàng lên tàu” và
cùng ký xác nhận với tàu. Đây cũng chính là căn cứ để tàu lập Bill of
Lading (B/L).
- Lập bộ chứng từ thanh toán: Dựa vào hợp đồng mua bán và L/C, người
giao nhận hàng phải lập hoặc lấy các chứng từ cần thiết (vận đơn, hóa
đơn, giấy chứng nhận chất lượng, trọng lượng, … ) để tập hợp thành bộ
chứng từ thanh toán tiền hàng, xuất trình cho Ngân hàng mở L/C thông
qua ngân hàng đại diện tại nước người bán để được thanh toán tiền hàng
nếu quy định thanh toán bằng L/C.
Bộ chứng từ phải phù hợp với các điều kiện và điều khoản của L/C
quy định và nội dung của các chứng từ phải phù hợp lẫn nhau và phải

Packing list và Cargo list (nếu cần).
- Chủ hàng vận tải và giao container hàng cho tàu tại bãi chứa container
quy định, hoặc hải quan cảng 3 trước khi hết thời gian quy định (Closing time)
của từng chuyến tàu (thường là 8 tiếng, trước khi bắt đầu xếp hàng) và lấy
Mate’s Receipt.
- Sau khi hàng đã xếp lên tàu xong, chủ hàng mang Mate’s Receipt để đổi
lấy vận đơn hoàn hảo, đã xếp hàng (Clean Shipped on board Bill of lading).
* Nếu gửi hàng lẻ/nhận hàng lẻ LCL/LCL (LCL: Less than container
load)
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
- Chủ hàng gửi Booking Note cho hãng tàu, hoặc đại lý của hãng tàu,
cung cấp cho họ các thông tin cần thiết về hàng xuất khẩu. Sau khi Booking
Note được chấp nhận, chủ hàng sẽ thoả thuận với hãng tàu về ngày, giờ, địa
điểm giao nhận hàng.
- Chủ hàng (hoặc người được uỷ nhiệm) mang hàng đến giao cho người
vận tải, hoặc đại lý của họ tại Trạm hàng lẻ CFS (Container Freight Station) quy
định.
- Chủ hàng mời đại diện hải quan để kiểm tra, kiểm hoá và giám sát việc
đóng hàng vào container của người vận tải (Carrier), hoặc người giao hàng
(Consolidator), tức công ty giao nhận. Sau khi đã kiểm tra, hải quan niêm
phong, kẹp chì container, chủ hàng hoàn thành nốt thủ tục để bốc container lên
tàu container (không có lan can tàu như tàu bình thường: tàu chuyến hoặc tàu
chợ) và yêu cầu thuyền trưởng cấp vận đơn.
- Người vận tải xếp container lên tàu và vận chuyển đến nơi đến.
- Chủ hàng tập hợp bộ chứng từ gửi hàng để được người mua thanh toán
tiền hàng.
4.2. Đối với hàng nhập khẩu
4.2.1.Nếu hàng nhập khẩu phải lưu kho, bãi tại cảng
* Cảng nhận hàng từ tàu:
- Trước khi dỡ hàng từ tàu, tàu hoặc đại lý phải cung cấp cho cảng bản

- Chủ hàng mang biên lai nộp phí, 3 bản D/O cùng Invoice và Packing
List đến Văn phòng quản lý tàu tại cảng đã ký xác nhận D/O và tìm vị trí hàng,
tại đây lưu 1 bản D/O.
- Chủ hàng mang 2 bản D/O còn lại đến bộ phận kho vận để làm phiếu
xuất kho. Bộ phận này giữ 1 D/O và làm 2 phiếu xuất kho cho chủ hàng.
- Làm thủ tục hải quan theo các bước sau:
+ Khai hải quan: Theo mẫu quy định.
+ Nộp và xuất trình bộ hồ sơ hải quan, gồm: Packing list; Lệnh giao
hàng của người vận tải (D/O); Bill of Lading; Commercial invoice, …
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
+ Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ
+ Xuất trình và kiểm tra hàng hoá
+ Tính và thông báo thuế
+ Chủ hàng ký nhận vào Giấy thông báo thuế (có thể nộp thuế
trong vòng 30 ngày) và yêu cầu chứng nhận hoàn thành thủ tục hải quan.
Sau khi hải quan xác nhận “đã hoàn thành thủ tục hải quan”, chủ hàng có
thể mang hàng ra khỏi cảng và mang về kho riêng.
4.2.2.Nếu hàng nhập khẩu không lưu kho, bãi tại cảng
Khi chủ hàng có khối lượng hàng lớn (5 hoặc 10 ngàn tấn trở lên) chiếm
toàn bộ hầm hoặc tàu (thuê tàu chuyến), hoặc hàng rời như phân bón, xi măng ,
urê, bột mì, …chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác có thể đứng ra giao
nhận trực tiếp với tàu.
Trước khi nhận hàng, chủ hàng phải hoàn tất các thủ tục hải quan và trao
cho cảng B/L, D/O. Sau khi đối chiếu với Manifest, cảng sẽ lập hoá đơn về cước
phí bốc xếp và cấp lệnh giao thẳng để chủ hàng xuất trình nhân viên giao nhận
cảng tại tàu để nhận hàng.
Sau khi nhận hàng, chủ hàng và nhân viên giao nhận cảng cùng ký bản
tổng kết giao nhận và xác nhận số lượng hàng đã giao nhận bằng phiếu giao
hàng kiêm phiếu xuất kho. Đối với tàu , chủ hàng vẫn phải lập Tally Sheet và
ROROC như trên.

- Đóng gói hàng hoá (pack the goods) (trừ phi việc này do người gửi hàng
thực hiện trước khi giao hàng cho người giao nhận) có tính đến tuyến
đường, phương thức vận tải, bản chất hàng hoá và các luật lệ áp dụng nếu
có nước xuất khẩu, các nước chuyển tải và nước đến.
- Sắp xếp việc lưu kho (warehousing) hàng hoá nếu cần.
- Cân, đo hàng.
- Lưu ý người gửi hàng về nhu cầu mua bảo hiểm và nếu người gửi hàng
yêu cầu, sễ lo liệu mua bảo hiểm hàng.
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
- Vận chuyển hàng vào cảng, sắp xếp việc khai hải quan, lo các thủ tục,
chứng từ liên hệ và giao hàng cho người vận tải.
- Lo việc giao dịch hối đoái nếu có.
- Thanh toán chi phí và các phí tổn khác, bao gồm cước phí.
- Nhận vận đơn có ý tên của hãng tàu và giao cho người nhận hàng.
- Giám sát việc dịch chuyển hàng trên đường đưa tới người nhận hàng
thông qua các cuộc tiếp xúc với hãng tàu và đại lý của người giao nhận ở
nước ngoài đối với hàng.
- Ghi nhận các tổn thất hoặc mất mát đối với hàng (damages or losses).
- Giúp đỡ người gửi hàng tiến hnàh việc khiếu nại với người vận chuyển
về tổn thất hàng nếu có.
5.2.Thay mặt người nhận hàng (người nhập khẩu)
Theo các chỉ thị giao hàng của người nhập, người giao nhận phải:
- Thay mặt người nhận hàng giám sát việc chuyển dịch hàng, khi người
nhận hàng lo việc vận tải hàng như nhập theo FOB chẳng hạn.
- Nhận và kiểm soát mọi chứng từ thích hợp liên quan đến việc chuyển
dịch hàng.
- Nhận hàng từ người vận tải và nếu cần, trả cước phí (pay the freight
cost).
- Sắp xếp việc khai hải quan và trả thuế, lệ phí và các chi phí khác cho hải
quan và các cơ quan công quyền khác.

lãm giao cho vận chuyển hàng đến nơi triển lãm ở nước khác. Người giao
nhận phải tuân theo các chỉ dẫn đặc biệt của các người tổ chức triển lãm
về hình thức vận chuyển được sử dụng, cách thức làm thủ tục hải quan ở
nước đến khi giao hàng triển lãm và các chứng từ cần có.
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
III- SỰ CẦN THIẾT PHẢI THÚC ĐẨY DỊCH VỤ GIAO NHẬN HÀNG
HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN Ở VIỆT NAM
1. Những lợi thế trong việc phát triển dịch vụ giao nhận hàng hoá xuất
nhập khẩu bằng đường biển ở Việt Nam
Với trên 3000 km đường biển, Việt Nam có vị trí địa lý cực kỳ thuận lợi
trên bản đồ khu vực địa lý Thái Bình Dương, một khu vực kinh tế năng động và
nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai. Quá trình tự do hoá thương mại và sự
mở cửa của nền kinh tế đã biến Việt Nam trở thành một điểm đến đầy hấp dẫn,
Việt Nam có quan hệ buôn bán với hầu hết các nước trên thế giới với khối lượng
và giá trị buôn bán không ngừng tăng qua các năm. Trong năm 2005, sản lượng
thông quan các cảng biển của Việt Nam đạt 127,67 triệu tấn, tăng 11,96% so với
năm 2004. Đặc biệt đáng chú ý là hoạt động hàng hải tăng mạnh ở các vùng
kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam do nhu cầu vận chuyển hàng hoá cho
khu vực này tăng mạnh. Dự báo trong năm 2006 này, khi Việt Nam đang chuẩn
bị gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới WTO thì khối lượng hàng hoá
thông quan tại các cảng sẽ tăng khoảng 15% so với năm 2005. Như vậy khối
lượng hàng hoá thông quan tại các cảng biển Việt Nam có thể được coi là khá
lớn đối với hoạt động giao nhận hàng hoá bằng đường biển của các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giao nhận tại Việt Nam. Các doanh nghiệp này
cần phải tích cực tận dụng lợi thế “sân nhà” của mình để có thể đảm nhận được
một khối lượng ngày càng nhiều các mặt hàng xuất nhập khẩu.
Hiện tại, Nhà nước đang tập trung xây dựng rất nhiều cảng biển lớn với
hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại có thể đủ sức tiếp nhận những con tàu lón có
trọng trên 50.000 tấn trở lên đồng thời không ngừng bổ sung, hoàn thiện hệ
thống các văn bản về Luật hàng hải theo chiều hướng thông thoáng, giảm bớt

NHẬN HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU BẰNG
ĐƯỜNG BIỂN CỦA CÔNG TY VINATRANCO
THỜI GIAN QUA
I- GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY
1.Quá trình hình thành và phát triển
Công ty cổ phần kho vận và dịch vụ thương mại
Tên giao dịch: The vietnam national trade transport warehousing and
service company (viết tắt: vinatranco)
- Trụ sở: số 473 Minh khai, quận hai bà trưng, hà nội
- Giấy phép kinh doanh số 109777 cấp ngày 25-3-1995
- Điện thoại: 04.8624413/8621644
- Fax: 8621214
- Email:
Tiền thân của công ty vinatranco là chi cục vận tải khu IV được thành lập
từ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, trong hoàn cảnh chiến tranh, chi cục phải thực
hiện nhiệm vụ chính là phục vụ chiến đấu. Đến năm 1979, theo quyết định của
số 73 NTQĐ (ban hành ngày 3 tháng 11 năm 1979), cục kho vận ra đời dựa trên
cơ sở vật chất của chi cục vận tải khu IV và bắt đầu thực hiện chức năng quản lý
công tác kho vận của Bộ nội thương. Bước sang thập kỷ 80, công ty được đổi
tên thành công ty kho vận nội thương I, hoạt động với chức năng kinh doanh
kho hàng, vận tải và dịch vụ giao nhận trên phạm vi toàn miền bắc ( cùng với
công ty kho vận nội thương II ở miền nam). Sự ra đời này được đánh dấu bởi
quyết định số 36 NTQĐ ban hành ngày 5 tháng 5 năm 1981.
Sau thời gian đó, do tình hình kinh tế xã hội có nhiều thay đổi, Bộ nội
thương nhận thấy cần phải sáp nhập hai công ty kho vận I và II để thành lập
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
tổng công ty kho vận. Tổng công ty tồn tại từ năm 1985 đến 1995 theo quyết
định hình thành lập số 212 NTQĐ ban hành ngày 11 tháng 11 năm 1985. Đây là
giai đoạn phát triển mạnh mẽ của công ty kể từ khi bắt đầu thành lập.
Công ty được chính thức thành lập từ năm 1995 và lấy tên là công ty kho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status