Giáo trình tài chính tiền tệ chương 1 những vấn đề cơ bản của tiền tệ cđ phương đông - Pdf 23

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TIỀN TỆ
I. Sự ra đời của tiền tệ và phát triển của tiền tệ:
1. Sự ra đời của tiền tệ
Khi nghiên cứu về quá trình ra đời của tiền tệ, C. Mác chỉ ra rằng: “Trình bày
nguồn gốc phát sinh của tiền tệ, nghĩa là phải khai triển các biểu hiện của giá trị, biểu
hiện bao hàm trong quan hệ giá trị của hàng hóa, từ hình thái ban đầu giản đơn nhất và
ít thấy rõ nhất cho đến hình thái tiền tệ là hình thái ai nấy đều thấy” (C. Mác, Tư Bản,
Quyển I, Tập I, trang 75, NXB Sự thật - Hà Nội 1963)
Quá trình ra đời của tiền tệ được trải qua bốn hình thái giá trị:
- Hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên
- Hình thái mở rộng
- Hình thái chung
- Hình thái tiền tệ
Từ hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên đến hình thái tiền tệ là một quá trình
lịch sử lâu dài.
Chính trong quá trình phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa đã xuất hiện vật
ngang giá chung.
Vật ngang giá chung là những hàng hóa có thể trao đổi trực tiếp được với nhiều
hàng hóa khác. Vật ngang giá chung ban đầu là những hàng hóa có giá trị sử dụng thiết
thực. Về sau là những hàng hóa có ý nghĩa tượng trưng. Khi trao đổi hàng hóa trở
thành nhu cầu thường xuyên và mở rộng, thì nhiều hàng hóa có tác dụng vật ngang giá
chung trở nên mâu thuẫn với nhu cầu ngày càng tăng của thị trường, thì trường đòi hỏi
phải thừa nhận một vật ngang giá đơn nhất. Khi vật ngang giá chung cố định ở một thứ
hàng hóa thì sinh ra hình thái tiền tệ. Khi đó, tất cả hàng hóa đều biểu hiện giá trị của
nó trong một thứ hàng hóa, mà thứ hàng hóa đó trở thành vật ngang giá chung.
Vậy, tiền tệ xuất hiện sau một quá trình phát triển lâu dài của trao đổi và các hình
thái giá trị.
2. Sự phát triển của tiền tệ
Tiền tệ được phát triển qua các hình thức sau:

Tiền bằng HH

trong thanh toán Clearing
(3) Tiền đúc bằng kim loại kém giá.
- Tiền đúc bằng các thứ kim loại thường: đồng, chì, kẽm, nhôm…
- Lưu thông chủ yếu trong các triều đại phong kiến, do nhà vua giữ độc quyền phat
hành.
- Ngày nay nhiều nước vẫn dùng tiền đúc lẻ, do Ngân hàng Trung ương phát hành.
(4) Tiền giấy.
- Tiền được làm bằng nguyên liệu giấy.
- Tiền giấy được phát hành từ các triều đại phong kiến: Trung Hoa đời nhà Tống
TK11, ở Việt Nam thời vua Hồ Quý Ly TK15.
- Giấy bạc ngân hàng là loại tiền giấy thực sự cần thiết cho lưu thông xuất hiện từ
đầu TK 17 ở Hà Lan, do ngân hàng Amstecdam phát hành.
- Ngày nay, Ngân hàng Trung ương các nước đều phát hành giấy bạc ngân hàng
vào lưu thông.
(5) Tiền chuyển khoản.
CPD College
- Hình thức tiền tệ này được sử dụng bằng cách ghi chép trong sổ sách kế toán (của
ngân hàng và khách hàng)
- Tiền chuyển khoản xuất hiện lần đầu tiên tại nước Anh vào giữa TK19. Lúc này
do để tránh những quy định chặt chẽ trong việc phát hành giấy bạc ngân hàng, các
ngân hàng Anh đã phát minh ra hệ thống thanh toán trong sổ sách ngân hàng.
- Tiền chuyển khoản được sử dụng thông qua các công cụ thanh toán:
Giấy tờ thanh toán (Séc,
UNC, NPTT…)

Thẻ thanh toán (ghi
nợ, ký quỹ, TD…)

Thanh toán tức thời (qua
hệ thống máy vi tính đã

a. Chức năng thước đo giá trị
Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá. Muốn đo lường giá
trị của các hàng hoá, bản thân tiền tệ phải có giá trị. Vì vậy, tiền tệ làm chức năng
thước đo giá trị phải là tiền vàng. Để đo lường giá trị hàng hoá không cần thiết phải là
tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó một cách tưởng tượng.
Sở dĩ có thể làm được như vậy, vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hoá
trong thực tế đã có một tỷ lệ nhất định. Cơ sở của tỷ lệ đó là thời gian lao động xã hội
cần thiết hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiền
gọi là giá cả hàng hoá. Do đó, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng
hoá.
Để làm chức năng thước đo giá trị thì bản thân tiền tệ cũng phải được đo lường.
Do đó, phải có đơn vị đo lường tiền tệ. Đơn vị đó là một trọng lượng nhất định của
kim loại dùng làm tiền tệ. ở mỗi nước, đơn vị tiền tệ này có tên gọi khác nhau. Đơn vị
tiền tệ và các phần chia nhỏ của nó là tiêu chuẩn giá cả. Tác dụng của tiền khi dùng
làm tiêu chuẩn giá cả không giống với tác dụng của nó khi dùng làm thước đo giá trị.
Là thước đo giá trị, tiền tệ đo lường giá trị của các hàng hoá khác; là tiêu chuẩn giá
cả, tiền tệ đo lường bản thân kim loại dùng làm tiền tệ. Giá trị của hàng hoá tiền tệ
thay đổi theo sự thay đổi của số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó.
Giá trị hàng hoá tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến "chức năng" tiêu
chuẩn giá cả của nó, mặc dù giá trị của vàng thay đổi như thế nào. Ví dụ, một USD
vẫn bằng 10 xen.
b. Phương tiện lưu thông:
Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong quá trình trao
đổi hàng hoá. Để làm chức năng lưu thông hàng hoá ta phải có tiền mặt. Trao đổi hàng
hoá lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá.
Công thức lưu thông hàng hoá là: H- T - H, khi tiền làm môi giới trong trao đổi
hàng hoá đã làm cho hành vi bán và hành vi mua có thể tách rời nhau cả về thời gian
CPD College
và không gian. Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của khủng
hoảng kinh tế.

Khi tiền tệ thực hiện chức năng này đã làm cho lượng tiền mặt cần thiết cho lưu
thông giảm đi tương đối vì sự mưa bán chịu và thực hiện thanh toán bù trừ lẫn nhau.
e. Chức năng tiền tệ quốc tế:
Chức năng tiền tệ quốc tế được biểu hiện khi tiền tệ vượt khỏi biên giới quốc gia để
trở thành phương tiện mua hàng, phương tiện thanh toán trên phạm vi toàn thế giới.
5. Vai trò của tiền tệ:
Tiền tệ đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế; nó được ví như máu với cơ
thể của con người. Thiếu tiền tệ thì nền kinh tế khó có thể tồn tại và phát triển, được
thể hiện trên các phương diện sau:
- Tiền tệ là phương tiện để mở rộng và phát triển sản xuất.
- Tiền tệ là phương tiện để thực hiện và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.
- Tiền tệ là phương tiện phục vụ mục đích của người sở hữu chúng.
6. Các chế độ lưu thông tiền tệ
Chế độ lưu thông tiền tệ là tổ chức lưu thông tiền tệ của một quốc gia hay tổ chức
quốc tế trong phạm vi không gian và thời gian nhất định. Trong đó, các yếu tố hợp
thành cuả chế độ lưu thông tiền tệ được kết hợp thống nhất bằng các đạo luật và văn
bản quy định.
 Các chế độ lưu thông tiền tệ
- Chế độ lưu thông tiền kim loại:
Chế độ lưu thông tiền kim loại lấy kim loại làm thước đo giá trị và phương tiện lưu
thông.
Theo sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, chế độ lưu thông tiền kim loại cũng
phát triển từ thấp đến cao. Nghĩa là kim loại được chọn làm bản vị tiền tệ cũng thay
đổi từ các kim loại thông thường đến các kim loại quý, và được chia làm 2 loại:
 Chế độ lưu thông tiền kém giá: tiền đồng, tiền kẽm.
 Chế độ lưu thông tiền đủ giá: tiền bạc, tiền vàng.
Chế độ lưu thông tiền đủ giá (kim loại quý) được xem là đặc trưng khởi đầu của
nền kinh tế thị trường, nó cũng được phát triển theo từng giai đoạn, bao gồm các chế
độ lưu thông tiền tệ chủ yếu sau:
(a) Chế độ bản vị bạc: là chế độ lưu thông tiền tệ trong đó bạc được sử dụng làm

bạc ngân hàng đóng vai trò là vật môi giới trung gian cho quá trình trao đổi hoặc thực
hiện việc thanh toán để kết thúc quá trình trao đổi.
Đặc điểm của lưu thông giấy bạc ngân hàng:
+ Do ngân hàng trung ương độc quyền phát hành.
CPD College
+ Vàng đã trở lại vị trí kim loại quý có giá trị cao.
+ Dự trữ vàng và ngoại tệ mạnh là cơ sở đảm bảo gián tiếp cho nó.
(b) Các loại dấu hiệu giá trị khác: bao gồm các loại chủ yếu như: séc, kỳ phiếu
thương mại, ngân phiếu thanh toán, bút tệ và tiền điện tử.
6. Các khối tiền tệ.
a. Khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông (Mn)
Khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông là khối lượng tiền do tổng nhu cầu của nền
kinh tế quốc dân trong mọi thời kỳ quyết định.
Khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông tỷ lệ thuận với tổng số giá cả hàng hóa và
tỷ lệ nghịch với tốc độ lưu thông bình quân của tiền tệ.
P x H
Công thức tính: Mn =
V
Trong đó: P: Mức giá cả hàng hóa.
H: Tổng khối lượng hàng hóa đưa vào lưu thông.
V: Tốc độ lưu thông bình quân của tiền tệ.
b. Khối lượng tiền trong lưu thông (Ms)
Khối lượng tiền trong lưu thông là khối lượng tiền thực có trong lưu thông, do yếu
tố chủ quan của con người phát hành để đưa vào lưu thông.
Khối lượng tiền trong lưu thông là chỉ tất cả các phương tiện được chấp nhận làm
trung gian trao đổi với mọi hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác tại một thị
trường và trong một thời gian nhất định.
Các thành phần của khối lượng tiền trong lưu thông:
- M1: khối tiền tệ giao dịch:
+ Tiền mặt (tiền vàng, GBNH, tiền đúc lẻ)

+ Ngân hàng Trung ương cung tiền qua các kênh: Tái chiết khấu thương phiếu và
các chứng từ có giá của các Ngân hàng Thương mại và các Tổ chức tín dụng, phát
hành tiền qua thị trường vàng và ngoại tệ, Ngân hàng Trung ương phát hành tiền cho
Ngân sách Nhà nước vay, Ngân hàng Trung ương cung cấp tiền qua thị trường mở.
+ Các Ngân hàng Thương mại và Tổ chức tín dụng cung tiền chuyển khoản.
• Cơ sở cung tiền chuyển khoản:
Các ngân hàng hoạt động trong cùng hệ thống (hệ thống ngân hàng 2 cấp và liên
kết với nhau)
Thực hiện nghiệp vụ tín dụng và thanh toán không dùng tiền mặt giữa các ngân
hàng.
• Quá trình cung tiền.
ĐVT: Triệu đồng
Các NHTM Tiền gửi (ck) tạo ra Dự trữ bắt buộc (*)

Cho vay
A
B
C
D
100
90
81
72,9
10
9
8,1
7,29
90
81
72,9 CPD College
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI CHÍNH
I. Sự ra đời và phát triển của tài chính:
Tài chính là một phạm trù kinh tế - lịch sử. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của nó
gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người
Lịch sử loài người đã chứng minh rằng, lúc đầu con người sống thành từng bầy,
kiếm ăn một cách tự nhiên chưa có sản xuất và trao đổi hàng hóa, chua có chiếm hữu
tư nhân nên chưa có tiền tệ. Đến cuối thời kỳ công xã nguyên thủy, phân công lao
động xã hội ra đời và đã xuất hiện mầm mống của sự trao đổi. Trao đổi ở đây mang
tính chất ngẫu nhiên, vật đổi lấy vật. Khi phân công lao động xã hội phát triển, chế độ
tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, nền sản xuất hàng hóa ra đời.
Sản xuất hàng hóa là sản xuất ra sản phẩm để trao đổi, mua bán, chứ không phải để
tiêu dùng. Và việc trao đổi hàng hóa có thể tiến hành trực tiếp hàng đổi lấy hàng hoặc
có thể mua bán thông qua tiền tệ.
Tiền tệ xuất hiện là cơ sở, thước đo chung cho tất cả mọi hoạt động của nền kinh tế
và đã tạo nên một cuộc cách mạng trong công nghệ phân phối, chuyển từ phân phối
bằng hiện vật (phân phối phi tài chính) sang phân phối bằng giá trị (phân phối tài
chính) và tài chính ra đời từ đây.
Vây, chính trong nền sản xuất hàng hóa với việc sử dụng tiền tệ trong phân phối đã
làm nãy sinh phạm trù tài chính.
Mặc khác, khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện thì xã hội phân chua giai
cấp và có đấu tranh giai cấp, trong điều kiện lịch sử đó Nhà nước ra đời. Để đảm bảo
cho nhà nước tồn tại và thực hiện chức năng của mình, nhà nước phải tạo lập một quỹ
tiền tệ gọi là ngân sách nhà nước. Nhà nước không những tác động đến sự vận động
của tiền tệ mà còn tạo ra môi trường pháp lý cho sự tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ.
Tóm lại, tài chính là một phạm trù kinh tế, sự ra đời và tồn tại của tài chính gắn

a. Chức năng phân phối:
 Khái niệm:
Phân phối tài chính là chức năng mà nhờ vào đó các nguồn lực đại diện cho những
bộ phận của cải xã hội được đưa vào các quỹ tiền tệ khác nhau để sử dụng cho những
mục đích khác nhau, đáp ứng những nhu cầu khác nhau của các chủ thể kinh tế - xã
hội.
 Đối tượng phân phối tài chính:
- Là toàn bộ của cải xã hội dưới hình thức giá trị.
- Là tổng thể các nguồn tài chính có trong xã hội.
CPD College
- Là tiền tệ đang vận động một cách độc lập tương đối với hai chức năng phương
tiện thanh toán và phương tiện cất trữ trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ
tiền tệ.
 Chủ thể phân phối tài chính:
- Người có quyền sở hữu các nguồn tài chính.
- Người có quyền sử dụng các nguồn tài chính (người đi vay)
- Người có quyền lực chính trị (nhà nước)
- Người chịu sự ràng buộc bởi các quan hệ xã hội (tổ chức chính trị xã hội)
 Đặc điểm phân phối tài chính:
- Luôn gắn liền với sự hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định
- Chỉ diễn ra dưới hình thức giá trị, không kèm theo sự thay đổi hình thái giá trị
- Diễn ra thường xuyên liên tục, bao gồm phân phối lần đầu và phân phối lại:
Phân phối lần đầu: là quá trình phân phối chỉ diễn ra ở lĩnh vực sản xuất cho những
chủ thể có tham gia vào quá trình sản xuất.
Phân phối lại: là quá trình tiếp tục phân phối những phần thu nhập cơ bản đã hình
thành qua phân phối lần đầu ra phạm vi toàn xã hội để dáp ứng các nhu cầu khác nhau
trong xã hội.
b. Chức năng giám đốc:
 Khái niệm:
Là chức năng mà nhờ vào đó việc kiểm tra bằng đồng tiền được thực hiện đối với

chính.
- Giải quyết việc làm, chống lạm phát bằng cách khuyến khích người lao động tự
tạo việc làm.
- Kiềm chế lạm phát thông qua chính sách tài chính và các chính sách kinh tế
khác.
- Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, ổn định và dự báo được tỷ giá hối đoái.
Các công cụ tài chính chủ yếu mà nhà nước sử dụng trong việc quản lý và điều tiết
vĩ mô nền kinh tế:
- Ngân sách nhà nước, thông qua hoạt động thu chi NSNN, điều chính hoạt động
của nền kinh tế.
- Thuế là công cụ quan trọng trong việc huy động nguồn thu và điều tiết vĩ mô
nền kinh tế, điều hòa thu nhập.
- Tiền tệ - tín dụng
- Quỹ dự trự tài chính
- Quỹ bảo hiểm
CPD College
c. Tài chính là công cụ điều tiết vi mô:
Thông qua công cụ tài chính nhà nước tác động vào hoạt động của các doanh
nghiệp một cách gián tiếp như đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, ưu đãi về thuế, tín
dụng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh một cách chủ
động và đứng vững trong nền kinh tế thị trường.
5. Hệ thống tài chính:
Hệ thống tài chính là tập hợp các khâu tài chính trong các lĩnh vực hoạt động khác
nhau nhưng giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình phân phối để
tạo lập và sử dụng các nguồn tài chính.
Khâu tài chính bao gồm những quan hệ tài chính có cùng đối tượng phục vụ, cùng
gắn liền với quá trình hình thành và sử dụng 1 loại quỹ tiền tệ tương ứng.
Khâu tài chính có các đặc điểm sau:
- Phải có một “tụ điểm” các nguồn tài chính.
- Phải gắn liền với một chủ thể kinh tế -xã hội nhất định

- Kiểm tra mọi quá trình vận động của các nguồn tài chính trong doanh nghiệp;
đồng thời kiểm tra mọi hoạt động sản xuất kinh doanh gắn liền với quá trình đó.
 Tài chính trung gian:
Là một khâu trong hệ thống tài chính quốc gia. Đặc điểm chung của các trung gian
tài chính là gắn liền với việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ như là một tụ điểm
của các nguồn tài chính trong quá trình vận động trước khi sử dụng cho các mục đích
tích lũy hay tiêu dùng của các chủ thể kinh tế - xã hội.
Hoạt động của khâu tài chính trung gian được thể hiện thông qua:
- Các tổ chức tín dụng( gọi tắt là tín dụng)
- Các tổ chức bào hiểm( gọi tắt là bào hiểm)
- Các công ty tài chính
- Các quỹ tài chính trung gian khác
Trong đó, quan trọng nhất là tín dụng và bảo hiểm.
Tín dụng: là một khâu quan trọng của hệ thống tài chính, nó là cầu nối trung gian
giữa việc huy động và cung ứng các nguồn vốn trong nền kinh tế tạm thời nhàn rỗi.
Đặc trưng cơ bản của tín dụng là gắn liền với các quỹ tiền tệ được tạo lập bằng việc
thu hút các nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi và sử dụng để cho vay theo nguyên tắc
hoàn trả có thời hạn và có lợi tức.
Nhiệm vụ của tín dụng:
- Huy động vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi từ các khâu tài chính khác.
CPD College
- Thực hiện cho vay đối với các khâu tài chính khác.
- Thực hiện các nghiệp vụ môi giới trung gian
Bảo hiểm: là một dịch vụ tài chính trung gian. Các quỹ bảo hiểm được tạo lập từ
sự đóng góp của những người tham gia bảo hiểm (tự nguyện hay bắt buộc) và được sử
dụng để bồi thường thiệt hại cho những người tham gia bảo hiểm khi họ gặp rủi ro bất
ngờ, bị thiệt hại vật chất trong phạm vi bảo hiểm theo nguyên tắc “ lấy số đông bù số
ít”
Nhiệm vụ của bảo hiểm:
- Thu phí bảo hiểm và chi bồi thường
CPD College
Chương 3: NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
I. Những vấn đề chung về ngân sách nhà nước (NSNN)
Thuật ngữ NSNN đã có từ rất lâu, từ khi chế độ công xã nguyên thủy tan rã, xã hội

nhiệm vụ của Nhà nước.
3. Đặc điểm:
- Các hoạt động thu chi NSNN luôn gắn liền với quyền lực của nhà nước, được nhà
nước tiến hành dựa trên những quy định luật pháp nhất định.
- Đằng sau hoạt động thu chi đó luôn luôn chứa đựng các nội dung kinh tế xã hội, các
quan hệ kinh tế, các quan hệ lợi ích nhất định. Trong các quan hệ lợi ích đó, lợi ích
quốc gia, lợi ích toàn xã hội bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu và chi phối các mặt
lợi ích khác trong thu chi NSNN.
- Hoạt động của NSNN là hoạt động phân phối các nguồn tài chính.
4. Vai trò:
NSNN giữ vai trò chỉ đạo trong hệ thống tài chính, nó có vai trò quan trọng trong
việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước; được thể hiện trên những khía
cạnh sau:
 Là công cụ huy động các nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà
nước và thực hiện sự cân đối tài chính của Nhà nước.
 Là công cụ điều tiết, quản lý vĩ mô nền kinh tế - xã hội:
Vai trò này xuất phát từ yêu cầu khắc phục những khuyết tật vốn có của nền kinh tế
thị trường và được thể hiện trên các mặt kinh tế, xã hội và thị trường. Cụ thể:
+ Về mặt kinh tế: kích thích tăng trưởng kinh tế.
+ Về mặt thị trường: góp phần ổn định thi trường, giá cả và chống lạm phát.
+ Về mặt xã hội: góp phần điều chỉnh thu nhập, thực hiện công bằng xã hội.
II. Nội dung Ngân sách nhà nước:
1. Thu ngân sách nhà nước:
a. Khái niệm:
Thu NSNN là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa nhà nước với xã hội, phát sinh
trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ
của Nhà nước nhằm thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của mình.
b. Đặc điểm:
- Thu NSNN là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.

về mức thuế cũng như cơ sở tính thuế.
- Đơn giản: mỗi sắc thuế phải hạn chế số lượng thuế suất, xác định rõ mục tiêu
chính.
2.Chi ngân sách nhà nước:
a. Khái niệm:
Chi NSNN là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với xã hội, phát sinh
trong quá trình phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nước nhằm thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ của Nhà Nước theo những nguyên tắc nhất định.
Chi NSNN là sự kết hợp giữa hai quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN:
- Quá trình phân phối là quá trình cấp phát kinh phí từ NSNN để hình thành các
loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng.
- Quá trình sử dụng là quá trình trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ NS mà
không trải qua việc hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng.
b. Đặc điểm:
- Chi NSNN gắn chặt với bộ máy Nhà nước và các chức năng nhiệm vụ mà Nhà
nước đảm đương trong từng thời kỳ.
- Chi NSNN gắn với quyền lực của Nhà nước. Nội dung, cơ cấu, mức độ các khoản
chi đều do cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước là Quốc hội quyết định.
- Chi NSNN mang tính không hoàn trả trực tiếp.
- Chi NSNN luôn gắn chặt với sự vận động của các phạm trù giá trị khác như: tiền
lương, giá cả, lãi suất, Tỷ giá hối đoái….
c. Nội dung:
Các khoản chi NSNN bao gồm:
 Các khoản chi đầu tư phát triển
 Các khoản chi thường xuyên
 Các khoản chi trả nợ (trong và ngoài nước).
 Các khoản chi khác theo qui định của pháp luật.
CPD College
d. Những nhân tố ảnh hưởng đến chi NSNN
- Chế độ xã hội và nhiệm vụ của Nhà nước trong từng giai đoạn xây dựng và phát

a. Khái niệm:
Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp ngân sách gắn bó hữu cơ và hỗ trợ lẫn nhau
trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu – chi NSNN
b. Cơ cấu:
Tổ chứ hệ thống NSNN ở nước ta qua nhiểu lần cải tiến và sửa đổi, hiện nay theo
luật NSNN quy định: “NSNN bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách các cấp
chính quyền địa phương”
- Ngân sách trung ương gồm các đơn vị dự toán của các cơ quan trung ương (Bộ,
cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức xã hội thuộc trung ương, tổ chức
đoàn thể trung ương )
- Ngân sách địa phương gồm 3 cấp ngân sách (ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương; ngân sách quận huyện; ngân sách phường xã).
Quan hệ giữa các cấp ngân sách được thực hiện theo nguyên tắc:
- Ngân sách trung ương và ngân sách mỗi cấp chính quyền được phân cấp nguồn
thu và nhiệm vụ chi cụ thể.
- Nhiệm vụ chi thuộc cấp ngân sách nào do cấp ngân sách đó cân đối.
- Thực hiện phân chia theo tỷ lệ phần trăm đối với các khoản thu phân chia giữa
các cấp ngân sách và bổ chung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để đảm
bảo công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương.
- Ngoài cơ chế bổ sung nguồn thu và cơ chế ủy quyền không được dùng ngân sách
của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác.
2. Phân cấp quản lý NSNN:
a. Khái niệm:
CPD College
Phân cấp NSNN là việc giải quyết các mối quan hệ giữa chính quyền nhà nước
trung ương với các cấp chính quyền địa phương trong việc xử lý các vấn để của hoạt
động NSNN.
Phân cấp NSNN là sự phân định trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ và lợi ích của
các cấp chính quyền nhà nước trong quản lý NSNN.
b. Nội dung của phân cấp NSNN:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status