CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ
1.1Bản chất của kiểm toán nội bộ
1.1.1 Ví dụ về kiểm toán nội bộ
- Theo Báo cáo tài chính của Tổng Công ty xây dựng Cao Sơn, trong năm vừa qua tổng chi
phí tăng một cách đột biến. Trên các báo cáo nội bộ cho biết, chi phí của toàn Tổng công ty
tăng đột biến là do sự tăng lên của chi phí xây dựng ở chi nhánh Miền nam. Ban giám đốc
yêu cầu bộ phận kiểm toán nội bộ kiểm tra tình hình giá thành của một m2 xây dựng trong số
các công trình ở thành phố HCM bị gia tăng một cách bất thường trong thời gian gần đây.
Hai kiểm toán viên được giao trách nhiệm kiểm tra tình hình giá thành
+ Các KTV làm việc với các cán bộ quản lí tại HN để nắm tình hình chung. Xem xét
các báo cáo chi phí của kì hiện tại và các tài liệu liên quan.
+ Các KTV xem xét báo cáo của các kì trước để tìm hiểu vấn đề đó đã từng xảy ra
chưa và được giải quyết như thế nào. Cách đây 2 năm cũng đã xảy ra một trường hợp tăng
giá tương tự nhưng nguyên nhân là do giá xi măng tăng và hiện tượng này đã chấm dứt ngay
khi giá xi măng ổn định.
+ Tìm hiểu thực tế về tình hình giá cả, cho thấy không có sự biến động lớn về giá cả
cũng như tỉ giá ngoại tệ trong thời gian này
+ KTV gọi điện vào TPHCM để nắm tình hình chung và xem xét các ý kiến từ các
cán bộ quản lí tại đó. Cán bộ quản lí tại chi nhánh than phiền về khối lượng công việc quá
nhiều và không đủ nhân lực để quản lí, nhiều công trình phải kéo dài thời gian và chi phí vật
liệu nhiều lúc không kiểm soát nổi.
+ Ban giám đốc Tổng công ty lại cho rằng cán bộ chi nhánh không làm hết khả năng
của mình, quản lí chi phí không chặt chẽ.
+ Các KTV quyết định bay vào TPHCM để giải quyết vấn đề. Họ xem xét các dự án
đang xây dựng; nghiên cứu các qui định nội bộ của chi nhánh; phỏng vấn các cán bộ quản lí
của chi nhánh và các đốc công; tìm hiểu qui trình mua hàng; kiểm tra sổ sách kế toán; tiếp
xúc với một số nhà cung cấp chủ yếu và đã phát hiện ra các vấn đề sau:
- Trưởng phòng kế hoạch của chi nhánh do áp lực công việc quá nhiều về cung cấp vật liệu
và thiết bị đúng hạn nên thời gian gần đây đã không chú trọng đến việc đàm phán về giá cả
hoặc tìm kiếm nhà cung cấp mới.
- Một chức năng trong phần mềm kế toán trên máy của chi nhánh đã bị lỗi, tự động nhân đôi
4. Đánh gía các thủ tục kiểm soát
Công việc thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm soát thường do các nhà quản lí cấp cao, nhà
quản lí các cấp và những nhân viên tác nghiệp thực hiện.
Ví dụ
Giám đốc tài chính đưa ra thủ tục kiểm soát đối với việc bán chịu:
. Điều kiện để được bán chịu (Có tình hình tài chính tốt, có thế chấp tài
sản, có uy tín trong thanh toán…)
. Thời hạn bán chịu, chính sách chiết khấu thanh toán…
. Người xét duyệt bán chịu (đưa ra ngưỡng xét duyệt bán chịu…)
. Qui trình xét duyệt bán chịu
Công việc bán chịu hàng ngày sẽ được diễn ra dưới sự kiểm soát của trưởng phòng và
các nhân viên trong bộ phận bán chịu (hoặc bộ phận kiểm soát tín dụng) bao gồm .
Kiểm tra tình hình tài chính hoặc tài sản thế chấp của khách hàng
. Lập danh sách những khách hàng đã từng vi phạm các cam kết thanh
toán
. Xét duyệt cụ thể các hồ sơ trong phạm vi trách nhiệm và quyền hạn.
Công việc kiểm tra sự tuân thủ và đánh giá các thủ tục kiểm soát cũng có thể do các nhà
quản lí thực hiện. Ví dụ như cuối kì giám đốc tài chính xem xét lại tình hình nợ quá hạn và
nợ không đòi được để đánh gía các thủ tục kiểm soát; cũng có thể yêu cầu bộ phận này cung
cấp hồ sơ của một số khách hàng để xem xét việc tuân thủ các qui định của doanh nghiệp ở
bộ phận bán chịu hay bộ phận kiểm soát tín dụng. Tuy nhiên khi qui mô của doanh nghiệp
lớn đến một mức độ nào đó, một bộ phận trong doanh nghiệp sẽ được tách ra, chuyên môn
hóa công việc kiểm tra và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp. Đó chính là
kiểm toán nội bộ.
Như vậy bản chất của kiểm toán nội bộ là một bộ phận độc lập trong doanh nghiệp tiến hành
công việc kiểm tra và đánh giá đối với hệ thống
Kiểm toán nội bộ là một chức năng thẩm định độc lập được thiết lập trong một tổ
chức nhằm kiểm tra và đánh giá các hoạt động của tổ chức như là một hoạt động phục
vụ cho tổ chức.
2
110. Vị trí trong tổ chức: Vị trí trong tổ chức của KTNB phải đủ để hoàn thành các
trách nhiệm kiểm toán của mình
120. Khách quan: KTV phải khách quan trong quá trình thực hiện kiểm toán
- Chun mc 200: Tinh thụng ngh nghip Kim toỏn viờn ni b phi c o to thnh
tho v c bi dng ngh nghip
210. Nhân viên: bộ phận KTNB phải đảm bảo rằng trình độ cơ bản và sự thành thạo
nghề nghiệp của KTVNB thích hợp với công việc kiểm toán mà họ thực hiện
220. Kiến thức, kỹ năng và chuyên môn bổ trợ: Bộ phận KTNB phải có đợc hay cố
gắng đạt đợc những kiến thức, kỹ năng và chuyên môn bổ trợ cần thiết để hoàn
thành trách nhiệm kiểm toán của mình
3
230. Giám sát: Bộ phận KTNB phải cung cấp một sự đảm bảo rằngcác cuộc KTNB
đợc giám sát một cách đúng đắn
KTV nội bộ
240. Tuân thủ các chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp: KTVNB phải tuân thủ các
chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp
250. Kiến thức, kỹ năng và kiến thức bổ trợ: KTVNB phải có những kiến thức, kỹ
năng và chuyên môn bổ trợ cần thiết để hoàn thành công việc kiểm toán nội bộ
260. Truyền đạt và quan hệ đối nhân: KTVNB phải khéo léo trong quan hệ đối nhân
và có khả năng truyền đạt hiệu quả
270. Đào tạo liên tục: KTV phải duy trì năng lực thông qua đào tạo liên tục
280. Thận trọng nghề nghiệp đúng mức: KTVNB phải thận trọng nghề nghiệp đúng
mức trong quá trình thực hiện KTNB
- Chun mc 300: Phm vi cụng vic Phm vi kim toỏn ni b phi bao gm cỏc vic
xem xột v ỏnh giỏ tớnh y v hiu qu ca h thng kim soỏt ni b ca t chc v
cht lng thnh tớch thc hin nhim v c giao
310. Tính trung thực và đáng tin cậy của thông tin: KTVNB phải kiểm tra tính trung
thực và đáng tin cậy của thông tin tài chính và hoạt động cũng nh phơng pháp
ghi nhận, đo lờng, phân loại và báo cáo các thông tin này
320. Việc tuân thủ các chính sách, kế hoạch, thủ tục, luật pháp và quy định: KTVNB
530. Chính sách và thủ tục: Trởng KTNB phải đa ra các chính sách và thủ tục bằng
văn bản để hớng dẫn cho KTV
540. Quản lý và phát triển nhân sự: Trởng KTNB phải thiết lập một chơng trình tuyển
dụng và phát triển nguồn nhân lực cho bộ phận KTNB
550. Kiểm toán viên độc lập: Trởng KTNB phải phối hợp nỗ lực với KTV độc lập
560. Bảo đảm chất lợng: Trởng KTNB phải thiết lập và duy trì một chơng trình bảo
đảm chất lợng để đánh giá hoạt động của bộ phận KTNB
1.3 Mc ớch, chc nng, nhim v v ni dung cụng vic ca kim toỏn ni b
1.3.1 Mc ớch ca kim toỏn ni b:
- Xem xét sự trung thực và độ tin cậy của các thông tin tài chính và hoạt động, phơng
pháp ghi chép và báo cáo các thông tin này. Việc kiểm tra có thể bao gồm việc xem xét các
phơng pháp xác định, đo lờng, phân loại, lập báo cáo và kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ, các
khoản mục, số d tài khoản và thủ tục kiểm soát các thông tin kinh tế tài chính.
- Xem xét hệ thống có đợc thiết lập phù hợp với các chính sách, kế hoạch và quy
định của đơn vị cũng nh của Nhà nớc. Xác định trong thực tế cỏc chớnh sỏch t ra đợc tuân
thủ nh th no. KTNB có trách nhiệm kiểm tra, đánh giá thờng xuyên để đa ra kiến nghị
nhằm hoàn thiện hệ thống kế toán và HTKSNB.
- Xem xét phơng thức bảo vệ tài sản và kiểm tra sự tồn taị của các tài sản.
- Xem xét các hoạt động và chơng trình có đáp ứng c các mục tiêu đã đề ra
không.
Li ớch ca kim toỏn ni b
Kim toỏn ni b cú th em li cho doanh nghip rt nhiu li ớch. õy l cụng c giỳp
phỏt hin v ci tin nhng im yu trong h thng qun lý ca doanh nghip. Thụng qua
cụng c ny, ban giỏm c v hi ng qun tr cú th kim soỏt hot ng tt hn, qun lý
ri ro tt hn, tng kh nng t c cỏc mc tiờu kinh doanh. Mt doanh nghip cú kim
toỏn ni b s lm gia tng nim tin ca cỏc c ụng, cỏc nh u t trờn th trng chng
khoỏn v h thng qun tr õy. Cỏc thng kờ trờn th gii cho thy cỏc cụng ty cú phũng
kim toỏn ni b thng cú bỏo cỏo ỳng hn, bỏo cỏo ti chớnh cú mc minh bch v
chớnh xỏc cao, kh nng gian ln thp v cui cựng l hiu qu sn xut kinh doanh cao hn
so vi cỏc cụng ty khụng cú phũng kim toỏn ni b.
Vì kiểm soát là một hoạt động của tổ chức hay là một bộ phận của bất kỳ hoạt động có tổ chức
nên nó tồn tại ở hầu hết cấp độ tổ chức và nó được sự quan tâm của nhiều người trong tổ chức. Bản
chất cơ bản của kiểm soát còn được hiểu rõ hơn trong các giai đoạn (khâu) chủ yếu của toàn bộ quá
trình quản lý. Quá trình quản lý bắt đầu từ việc lập kế hoạch xây dựng các mục tiêu có liên quan.
Việc lập kế hoạch được trợ giúp bởi việc tổ chức và cung cấp những nguồn lực cần thiết - kể cả con
người. Sau đó các nhà quản lý có những hoạt động rõ ràng nhằm đạt được những mục tiêu đã xây
dựng. Nhưng thông thường những hành động nghiệp vụ đó tự nó chưa được coi là đầy đủ. Mọi việc
hiếm khi được thực hiện đúng như theo dự định. Những kiến thức và dự đoán cơ bản của chúng tôi
không bao giờ tự coi là tốt. Hơn nữa, quần chúng là con người, sai lầm có xảy ra và những điều kiện
môi trường cũng thay đổi. Do đó, chúng tôi cần: những biện pháp và hành động phụ thêm để có
được những ý kiến thích hợp (appropriate readings) về tiến bộ của chúng tôi và làm căn cứ cho
những hành động trong tương lai đảm bảo đạt các mục tiêu tốt hơn. Chúng tôi cũng cần đến những
thủ tục bảo đảm những loại hành động mong muốn và ngăn ngừa những loại hành động không mong
muốn. Chức năng kiểm soát chính là đem lại những biện pháp, hành động và thủ tục cần thiết đó.
6
Rõ ràng là chức năng kiểm soát không thể tồn tại nếu chúng tôi không có các mục tiêu. Nếu
như chúng ta không biết chúng ta muốn tới đâu thì chúng ta khó mà biết những biện pháp nào và
hành động gì cần thiết để đưa chúng ta đến đó. Điều đó cũng cho thấy rõ rằng việc thực hiện những
hoạt động phụ trợ đưa chúng ta một lần nữa trở lại quá trình quản lý thực tế khi các hoạt động quản
lý mới được thực hiện những hành động phụ thêm đó thì chúng ta xem lại quá trình cụ thể hiện tại
khi có những hành động quản lý mới. Như vậy, kiểm soát tồn tại như một “khâu” độc lập của quá
trình quản lý nhưng đồng thời lại là một bộ phận chủ yếu của quá trình đó.
Chức năng kiểm soát được minh họa rất đơn giản như một chiếc thuyên buồm định đi
đến một bến cảng định trước với ngày đã dự kiến. Với những thông tin nội bộ thì cuộc hành
trình được xác định, có xác định những nơi ghé qua, vì bị gió ngược hay có vấn đề kỹ thuật
nên chiếc thuyền không đi được nữa. Vậy là cần đổi hướng, và có thể tốc độ cũng phải thay
đổi. Và nếu cần thiết phải xem lại ngày đến nơi theo chương trình. Chức năng kiểm soát ở
đây là xem xét và đánh giá ảnh hưởng của tình hình mới trong tiến trình và tìm căn cứ cho
hành động hỗ trợ cần thiết nào đó. Như vậy là nó góp phần giúp chúng ta liệu thời gian để
đến nơi một cách tiện lợi nhất.
phõn bit l hot ng qun lý xy ra sau, v tin hnh theo hỡnh thc cú hiu qu nht trong
hon cnh hin thi. Hot ng ú cú th l sa cha mt sn phm hng hoc l hot ng
thay i mt ch trng hay mt tin trỡnh. Hoc l hnh ng cú th thi hi hay tỏi tuyn
mt nhõn viờn. Hot ng sau s vic cú th l ó lm ngay hay phi nghiờn cu thờm v
trin khai. Cụng vic phõn tớch ca kim toỏn viờn ni b thng trc tip quyt nh ti bn
cht v phm vi ca loi hnh ng sau s vic cú hiu qu nht, dự l hnh ng ú hng
v tng lai. õy, kim soỏt cn c hiu l xem xột li quỏ kh nhng bao gi cng
hng vo ci tin nhng hot ng tng lai.
1.4.3. Các loại thủ tục kiểm soát.
Trong việc ứng dụng các thủ tục kiểm soát, một vấn đề quan trọng là hiểu đợc các
khái niệm về kiểm soát phòng ngừa, kiểm soát phát hiện và kiểm soát bù đắp.
* Kiểm soát phòng ngừa: Là các thủ tục kiểm soát đợc thiết kế để ngăn chặn các sai
phạm hoặc điều kiện dẫn đến sai phạm. Kiểm soát phòng ngừa thờng đợc tiến hành trớc khi
nghiệp vụ xảy ra, thí dụ thủ tục song ký đối với một số nghiệp vụ quan trọng. Kiểm soát
phòng ngừa thờng đợc thực hiện ngay trong công việc hàng ngày của nhân viên theo chức
năng của họ; phân chia trách nhiệm, giám sát, kiểm tra tính hợp lý, sự đầy đủ, sự chính
xác...
* Kiểm soát phát hiện: là các thủ tục kiểm soát đợc thiết kế nhằm phát hiện các sai
phạm hoặc các điều kiện dẫn đến sai phạm. Kiểm soát phát hiện thờng thực hiện sau khi
nghiệp vụ đã xảy ra, thí dụ tiến hành đối chiếu hàng tháng giữa số liệu đơn vị và số liệu
ngân hàng.
Kiểm soát phát hiện và kiểm soát phòng ngừa có quan hệ bổ sung cho nhau trong việc
thực hiện các mục tiêu kiểm soát. Thế mạnh của kiểm soát phòng ngừa là ngăn chặn sai
phạm trớc khi xảy ra do đó giảm đợc thiệt hại. Nhng không có thủ tục kiểm soát phòng
ngừa nào có thể giảm đợc rủi ro xuống bằng không và chi phí cho kiểm soát phòng ngừa
trong nhiều trờng hợp rất cao. Khi đó, kiểm soát phát hiện sẽ giúp phát hiện sai phạm lọt l-
ới kiểm soát phòng ngừa. Một ý nghĩa quan trọng của kiểm soát phát hiện là sự răn đe,
làm tăng sự chú ý và trách nhiệm của nhân viên trong quá trình thực hiện kiểm soát phòng
ngừa.
* Kiểm soát bù đắp: Là khái niệm về sự bù đắp một yếu kém về một thủ tục kiểm soát
Trng hp Kim toỏn viờn ni b cha cú bng i hc chuyờn ngnh kinh t, ti
chớnh, k toỏn hoc qun tr kinh doanh thỡ ti thiu phi cú trỡnh trung cp chuyờn ngnh
kinh t ti chớnh hoc qun tr kinh doanh, ó cụng tỏc thc t trong lnh vc qun lý ti
chớnh k toỏn ớt nht 5 nm, ó lm vic ti doanh nghip 3 nm tr lờn nhng khụng thp
hn trỡnh chuyờn mụn nghip v ca k toỏn trng doanh nghip ú.
Thc t cho thy phn ln ni dung trong Quy nh ny l khụng kh thi.
Trờn th gii, dự khụng cú nhng tiờu chun ngnh v yờu cu trỡnh ngh nghip,
nhng thụng thng cỏc kim toỏn viờn ni b xut thõn t cỏc cụng ty kim toỏn c lp, cú
bng c nhõn ti chớnh, lut hay qun tr v chng ch Kim toỏn viờn Cụng chng (CPA) hay
chng ch Kim toỏn ni b (CIA).
Cú v nh thiu tớnh sỏng to nhng l mt gii phỏp khụn ngoan v hp lý khi xỏc nh
rng phỏt trin mt ngh nghip mi, tham kho thụng l quc t, k tha nhng gỡ ó cú thỡ
vn tt hn l bt u t con s khụng. Vỡ th theo chỳng tụi, phỏt trin ngh kim toỏn ni b
ti Vit Nam, vic tip cn c nhng kin thc ngh nghip ct lừi, cp nht, cht lc t nhng
chng trỡnh o to kim toỏn quc t l rt quan trng. Nhng kin thc ny cựng vi nhng
tri nghim ngh nghip bn thõn s l hnh trang cn thit cho s thnh cụng.
Túm li tr thnh mt kim toỏn viờn ni b chuyờn nghip phi cú nhng t cht m
mt Kim toỏn viờn ni b cn phi cú T cht phi cú tr thnh kim toỏn viờn ni b
chuyờn nghip: Thụng minh, nhy bộn nhng phi kiờn nhn, cn thn. Thn trng nhng quyt
oỏn. Cú úc phõn tớch v phờ phỏn.
(vỡ kim toỏn cng l mt ngh thut). ng thi, phi hc nhng kin thc nn tng, ct lừi m
mt kim toỏn viờn ni b cn phi trang b (vỡ kim toỏn l mt khoa hc). Trờn c s kin thc
nn tng ó cú, am mờ ngh nghip, c bit l thớch khỏm phỏ ri ro, sai sút, gian ln. Cú k
nng giao tip v khai thỏc thụng tin tt. phi t o sõu, tỡm tũi nghiờn cu kin thc v thc
hnh kim toỏn liờn tc, khụng ngng (hc sut i - Long-life learning). Phi rốn sc khe cú
th chin u lõu di, bn b trong iu kin ỏp lc cao
9
Và cuối cùng, kiểm toán viên nội bộ phải có cái “DŨNG” vững vàng và cái “TÂM” trong
sáng, để bền lòng vững bước trước mọi nguy nan và cám dỗ khi mà có lúc người kiểm toán viên
nội bộ phải đối diện với những hành vi gian lận và phạm pháp…
tắc và chuẩn mực nghề nghiệp về kiểm toán, các chính sách và chế độ hiện hành của Nhà
nước.
- KTV phải khách quan, đề cao tính độc lập trong quá trình kiểm toán. Không ngừng nâng
cao năng lực chuyên môn, cập nhật kiếm thức, giữ gìn đạo đức nghề nghiệp.
- Tuân thủ nguyên tắc bảo mật các số liệu, tài liệu đã được kiểm toán (ngoại trừ các trường
hợp có yêu cầu của tòa án hoặc nghĩa vụ liên quan đến tiêu chuẩn nghiệp vụ)
1.5.4 Quyền hạn của kiểm toán viên nội bộ
- Được độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ. Không bị chi phối hoặc can thiệp khi thực hiện
kiểm toán và trình bày ý kiến trong báo cáo kiểm toán.
- Có quyền yêu cầu các bộ phận, cá nhân được kiểm toán và các bộ phận có liên quan cung
cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho công tác kiểm toán.
10
- Được kí xác nhận trên báo cáo kiểm toán nội bộ do các nhân tiến hành hoặc chịu trách
nhiệm thực hiện theo nhiệm vụ kiểm toán được giao
- Nếu các ý kiến đề xuất, các giải pháp kiến nghị, các ý kiến tư vấn cho công việc cải tiến,
hoàn thiện công tác quản lí, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, ngăn ngừa các sai sót,
gian lận, các việc làm sai trái trong doanh nghiệp
- Được bảo lưu ý kiến đã trình bày trong báo cáo kiểm toán nội bộ, được quyền đề nghị cơ
quan chức năng nhà nước xem xét lại quyết định của Tổng giám đốc, giám đốc về bãi nhiễm
kiểm toán viên.
Tài liệu tham khảo
"Khát" kiểm toán nội bộ chuyên nghiệp
Trước những làn sóng đầu tư ngày càng mạnh mẽ, sự tăng trưởng không ngừng của các
doanh nghiệp thì nhu cầu kiểm soát nhằm bảo vệ và làm gia tăng giá trị, duy trì sự phát
triển bền vững của doanh nghiệp càng cao.
Vai trò này thuộc về những những kiểm toán viên nội bộ.
Hiếm và quý
Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), trong hai năm qua, gian lận đã xuất
hiện ở 45% công ty được khảo sát (tăng 8% so với 2 năm trước). Bên cạnh số vụ tham nhũng và
hối lộ tăng 71%, số vụ rửa tiền tăng 133% thì gian lận về báo cáo tài chính được phát hiện tăng
thể thực hiện được như: Không quá thân thiện với nhân viên các bộ phận khác trong công ty,
không bàn về vụ việc của đối tượng kiểm toán ở bất kì đâu, kể cả với những kiểm toán viên cùng
phòng nhưng không trực tiếp tham gia... Bảo mật là nguyên tắc mà kiểm toán viên nội bộ nhất
nhất tuân theo, kể cả với người thân trong gia đình.
Hội tụ đầy đủ những tố chất để trở thành kiểm toán viên nội bộ đã khó và để được công nhận là
chuyên nghiệp càng khó hơn. Vì vậy mà những kiểm toán viên luôn được ngưỡng mộ khi công
việc và cuộc sống của họ là một chuỗi áp lực. Và phần thưởng xứng đáng với công sức mà họ bỏ
ra là mức lương hàng ngàn USD, tiếng nói có trọng lượng trong công ty cũng như cơ hội thăng
tiến trở thành một giám đốc trong tương lai.
* Nguyên tắc và tác phong đối với một kiểm toán viên nội bộ
- Quan hệ với đối tượng kiểm toán: Lưu ý tới chất lượng chuyên môn, bảo mật trong mối quan hệ
với đối tượng kiểm toán, duy trì tính độc lập của phòng kiểm toán nội bộ; thận trọng, khôn khéo
khi quan hệ với mọi cấp nhân viên của toàn công ty.
- Tác phong nghề nghiệp: Luôn tỏ ra là người đĩnh đạc, thận trọng và kín đáo.
- Tính độc lập: Thể hiện được các chuẩn mực, nguyên tắc nghề nghiệp trên sơ sở đặc thù của
phòng kiểm toán nội bộ trước đối tượng kiểm toán.
- Tuyệt đối bảo mật những thông tin mà kiểm toán viên thu thập được. Nắm vững và cam kết
tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên nội bộ (theo điều lệ đạo đức
nghề nghiệp do llA ban hành).
Kiểm toán viên nội bộ làm gì?
1. Nhà tư vấn kiểm soát và kiểm toán cho giám đốc điều hành và các giám đốc chức năng
trong công ty.
Giám sát tiến trình vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ và nhận dạng mọi cơ hội cải tiến
hệ thống này. Đánh giá nguồn lực công ty để sử dụng phù hợp tránh lãng phí, thất thoát. Làm
việc với kiểm toán độc lập của công ty về những vấn đề liên quan. Đề xuất chính sách bảo vệ tài
sản và quản lý rủi ro.
2. Kiểm toán tuân thủ pháp luật, nội quy và chính sách điều hành. Góp phần đảm bảo hoạt
động công ty tuân thủ quy định pháp luật, phù hợp với đạo đức kinh doanh. Đảm bảo các chức
năng của công ty được thực hiện nghiêm chỉnh, vận hành hợp lý.
3. Thực hiện một phần chức năng kiểm soát tài chính. Kiểm tra chất lượng thông tin, báo cáo kế
Tổng giám đốc
Cán bộ quản lí trung gian
Cán bộ quản lí nghiệp vụ
Ti Vit Nam, theo qui ch kim toỏn ni b ỏp dng cho doanh nghip nh nc, b phn
kim toỏn ni b c t chc trc thuc Tng giỏm c doanh nghip.
2.1.1 Cơ sở thiết lập bộ phận kiểm toán nội bộ
- Quy mô của doanh nghiệp
- Phạm vi hoạt động
- Năng lực, trình độ của nhân viên
- Các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp
2.1.2 Hình thức tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ
- Mô hình tập trung: Chỉ tổ chức KTNB tại văn phòng trung tâm, không tổ chức
KTNB tại các đơn vị phụ thuộc, công ty con, các chi nhánh,... mô hình nàybảo đảm tính
khách quan, độc lập của KTNB và thuận lợi cho việc nâng cao tính chuyên nghiệp của
KTNB.
- Mô hình phân tán: Ngoài bộ phận KTNB tại trung tâm, tại các đơn vị phụ thuộc,
công ty con, các chi nhánh,... đều có tổ chức KTNB trực thuộc các nhà quản lý tại các đơn
vị đó. Trong khi đó, bộ phận KTNB trung tâm sẽ kiểm tra toàn bộ hoạt động của tổ chức và
đợc giao trách nhiệm thực hiện những cuộc kiểm toán phức tạp hoặc có quy mô toàn tổ
chức. Mô hình này thờng đợc áp dụng cho các công ty đa quốc gia có hoạt động trải rộng
trên nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ xa cách về mặt địa lý.
- Mô hình kết hợp: Ngoài bộ phận KTNB tại trung tâm, doanh nghiệp có thể tổ chức
KTNB khu vực, chịu trách nhiệm trong một khu vực địa lý nhất định.
14
Hi ng qun tr y ban kim toỏn
Tng giỏm c
Kim toỏn ni b
Cỏn b qun lớ cp trung gian
Cỏn b qun lớ nghip v
* Khi tổ chức bộ máy KTNB, doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong các cỏch sau
ni b doanh nghip.
Trng phũng (hoc trng ban) kim toỏn ni b do (Tng) Giỏm c b nhim sau
khi cú ý kin bng vn bn ca Tng cc, Cc qun lý vn v ti sn Nh nc ti doanh
nghip (B Ti chớnh).
Trng phũng kim toỏn ni b l ngi ký, chu trỏch nhim trc (Tng) giỏm c
v trc phỏp lut v bỏo cỏo kim toỏn ni b.
Trng phũng kim toỏn ni b cú nhim v v quyn hn:
1. Ch ng xõy dng k hoch v lp chng trỡnh kim toỏn hng nm.
15
2. Tổ chức các cuộc kiểm toán trong nội bộ doanh nghiệp theo nhiệm vụ kế hoạch và
chương trình kiểm toán đã được (Tổng) Giám đốc phê duyệt.
3. Quản lý, bố trí, phân công công việc cho kiểm toán viên và thực hiện các biện pháp
đào tạo và huấn luyện kiểm toán viên, đảm bảo không ngừng nâng cao trình độ và năng lực
công tác của kiểm toán viên và bộ máy kiểm toán nội bộ.
4. Đề xuất với (Tổng) Giám đốc về việc đề bạt, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật đối
với kiểm toán viên nội bộ.
5. Đề nghị trưng tập kiểm toán viên ở các đơn vị thành viên hoặc chuyên viên các bộ
phận khác liên quan trong doanh nghiệp để thực hiện các cuộc kiểm toán khi cần thiết.
6. Kiến nghị các thay đổi về chính sách, đường lối nhằm nâng cao hiệu quả trong
công tác quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh.
7. Khi phát hiện có hiện tượng vi phạm pháp luật hoặc những quyết định trái với chủ
trương, chính sách, chế độ phải có trách nhiệm báo cáo các cấp có thẩm quyền đưa ra các
giải pháp để giải quyết kịp thời.
Điều 18: Bộ máy kiểm toán nội bộ ở doanh nghiệp có các đơn vị trực thuộc.
- Đối với đơn vị thành viên trong Tổng công ty, Liên hiệp các xí nghiệp có tư cách
pháp nhân độc lập: Phải tổ chức bộ phận kiểm toán có chức năng độc lập, hoặc bố trí một số
nhân viên kiểm toán nội bộ để thực hiện kiểm toán nội bộ.
- Đối với doanh nghiệp thành viên trực thuộc hoặc phụ thuộc không có tư cách pháp
nhân: Tuỳ theo quy mô kinh doanh, địa bàn hoạt động mà có thể bổ nhiệm kiểm toán viên
hoạt động trực tiếp tại các đơn vị trực thuộc, phụ thuộc.
2.3.1- ChuÈn bÞ kiÓm to¸n
Bao gồm việc xác định đối tượng kiểm toán và lập kế hoạch kiểm toán
Bước 1: Xác định đối tượng kiểm toán
- Đối tượng kiểm toán có thể là một bộ phận, chi nhánh của doanh nghiệp hay một hoạt
động, một chương trình nào đó mà doanh nghiệp đang tiến hành.
- Các kiểm toán viên có thể chọn đối tượng kiểm toán theo những phương pháp va lí do khác
nhau, cũng có thể do Ban giám đốc hay chính đối tượng kiểm toán yêu cầu
- Phương pháp xác định đối tượng kiểm toán: Có 3 phương pháp
* Lựa chọn một cách hệ thống: Bộ phận kiểm soạn ra một danh sách các đối tượng kiểm
toán sẽ được kiểm toán trong năm nay. Danh sách này lập dựa trên cơ sở đánh giá những rủi
ro. Các đối tượng kiểm toán rủi ro cao sẽ được lựa chọn đưa vào chương trình kiểm toán
trước. Các đối tượng có rủi ro thấp hơn sẽ đưa vào kiểm toán ở kì sau.
* Kiểm toán các vấn đề khúc mắc: Phương pháp này dựa trên nguyên tắc ưu tiên kiểm toán
những bộ phận hay vấn đề đang có sự cố. Ban giám đốc và Hội đồng quản trị dựa vào sự xét
đoán của họ mà đưa các vấn đề cần được kiểm toán ngay. Do đó theo phương pháp này
chính người quản lí lựa chọn đối tượng kiểm toán.
* Kiểm toán theo yêu cầu của chính đối tượng kiểm toán: Một số giám đốc của các bộ phận
muốn thực hiện kiểm toán để đánh giá tính đầy đủ và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ
có ảnh hưởng đến hoạt động dưới sự giám sát của họ.
Chú ý:
Cho dù đối tượng iểm toán được đề xuất là ai thì trước khi điều chỉnh lại chương trình kiểm
toán đã lập, KTV cần đánh giá xem đối tượng mới được đề xuất có quan trọng hơn đối
tượng đã được xếp lịch không. Sự quan trọng này thường đánh giá trên căn cứ rủi ro. Nếu
xét thấy rủi ro liên quan đến đối tượng mới được đề xuất là khá cao thì một cuộc kiểm toán
lập tức cho đối tượng này phải được thiết lập. Ngược lại, nếu rủi ro liên quan đối tượng này
không lớn so với các đối tượng đã xếp lịch thì phải chờ đợi khi những đối tượng có rủi ro
cao hơn đã được kiểm tra xong.
Trường hợp các đối tượng được đề xuất không xuất phát từ nhu cầu cần kiểm toán mà xuất
phát từ những ý đồ khác (tranh chấp, thổi phồng sự kiện để đánh lạc hướng dư luận…) khi
đó, KTVNB nhờ sự độc lập của mình có thể tránh được sự lựa chọn các đối tượng kiểm toán
doanh nghiệp.
- Thực hiện phân tích, khảo sát các khoản mục chính, khảo sát bổ sung các chi tiết;
xem xét các sự kiện tiếp sau, đánh giá kết quả cuộc kiểm toán.
- Các bước tiến hành thực hiện cuộc kiểm toán phải theo đúng quy trình của một cuộc
kiểm toán và các bước tiến hành kiểm toán phải được ghi nhận trên tài liệu, hồ sơ kiểm toán.
2.3.3- KÕt thóc kiÓm to¸n
Kiểm toán viên nội bộ phải lập báo cáo kiểm toán;
Báo cáo kiểm toán phải trình bày đầy đủ các nội dung và kết quả kiểm toán theo mục
tiêu, yêu cầu đã đề ra cho từng cuộc kiểm toán; xác nhận tính đầy đủ, hợp lý của báo cáo tài
chính, báo cáo kế toán quản trị hàng năm trước khi trình ký duyệt; đề xuất các kiến nghị và
biện pháp xử lý các sai sót, gian lận, các vi phạm, nêu các giải pháp cần thiết để nâng cao
chất lượng và hiệu quả quản lý kinh doanh của doanh nghiệp;
Báo cáo kiểm toán được gửi cho Chủ tịch Hội đồng quản trị, cho (Tổng) Giám đốc
doanh nghiệp. Việc lưu hành và công bố báo cáo kiểm toán nội bộ tuỳ theo tính chất kiểm
toán và do Chủ tịch Hội đồng quản trị, (Tổng) Giám đốc quyết định. Riêng báo cáo kiểm
18
toán báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị được đính kèm báo cáo tài chính, báo cáo kế
toán quản trị trước khi lưu hành.
Phúc tra kết quả kiểm toán là công việc tiếp sau cuộc kiểm toán nhằm kiểm tra lại
việc triển khai thực hiện những kiến nghị, những đề nghị xử lý và những giải pháp đã nêu
trong báo cáo kiểm toán ở các bộ phận quản lý, điều hành kinh doanh trong doanh nghiệp.
Nói chung, một quy trình kiểm toán thường bao gồm 9 bước xếp thành 4 giai đoạn.
Hình II.1 trình bày tóm tắt về quá trình này.
GIAI ĐOẠN I: CHUẨN BỊ KIỂM TOÁN
Bao gồm việc xác định đối tượng kiểm toán và lập kế hoạch kiểm toán.
Bước 1: Xác định đối tượng kiểm toán
Đối tượng kiểm toán có thể là một bộ phận, chi nhánh của đơn vị hay một hoạt động,
một chương trình nào đó mà đơn vị đang tiến hành.
Một cuộc kiểm toán bắt đầu với công việc lựa chọn đối tượng kiểm toán. Các kiểm
toán viên có thể chọn các đơn vị này theo những phương pháp và những lý do khác nhau.
lý hay chính đối tượng kiểm toán, kiểm toán viên nội bộ cần nhớ rằng trước điều chỉnh lại
chương trình kiểm toán đã lập, phải đánh giá xem đối tượng mới được đề xuất có quan trọng
hơn đối tượng đã được xếp lịch không. Thường sự quan trọng này có thể đánh giá căn cứ
trên rủi ro. Nếu xét thấy rủi ro liên quan đến đối tượng mới đề xuất là khá cao, một cuộc
kiểm toán lập tức cho đối tượng này là cần thiết. Ngược lại, nếu rủi ro liên quan đến đối
tượng này không lớn hơn so với các đối tượng đã xếp lịch, nó cần phải chờ đợi những đối
tượng có rủi ro cao hơn mình được kiểm tra xong.
Kiểm toán viên nội bộ cũng cần chú ý đến trường hợp các đối tượng được đề xuất
không xuất phát từ nhu cầu cần phải kiểm toán mà xuất phát từ những ý đồ cạnh tranh (tranh
chấp giữa các phe phái, thổi phồng một vài sự kiện để lạc hướng dư luận...). Khi đó, kiểm
toán viên nội bộ nhờ sự độc lập của mình có thể tránh được sự lựa chọn các đối tượng kiểm
toán do áp lực của những ý đồ không lành mạnh.
Hình II.1: Khái quát quy trình kiểm toán
20
1. Xác định đối tượng
kiểm toán
2. Lập kế hoạch
kiểm toán
CHUẨN BỊ
KIỂM TOÁN
Chọn lĩnh vực có rủi ro
cao nhất (Bước 1)
SƠ ĐỒ CÔNG VIỆC
XEM XÉT RỦI RO
4. Mô tả và phân tích hệ
thống kiểm soát nội bộ
THỰC HIỆN
KIỂM TOÁN
Đánh giá rủi ro
(Bước 4)
6. Xác định những vấn đề liên quan đến báo cáo kết quả kiểm toán.
7. Trình duyệt kế hoạch kiểm toán.
21
Mục tiêu và phạm vi kiểm toán: Để phong trào tốt cho việc lập kế hoạch, trước hết
kiểm toán cần có những xác định ban đầu về (1) các mục tiêu của kiểm toán (2) phạm vụ của
việc kiểm toán.
Xác định các mục tiêu: Mục tiêu chung của kiểm toán nội bộ là “trợ giúp các thành
viên trong đơn vị thực hiện công việc mà họ đảm nhiệm một cách có hiệu quả”. Tuy nhiên,
mục tiêu của từng cuộc kiểm toán thì phải cụ thể hơn rất nhiều.
Nói chung mục tiêu cụ thể của từng cuộc kiểm toán có thể chia thành ba nhóm:
• Khảo sát về thiết kế hệ thống kiểm soát nội bộ.
• Kiểm tra việc tuân thủ hệ thống kiểm soát đã thiết lập.
• Đánh giá sự đầy đủ (bao gồm việc thiết kế hệ thống và hiệu quả mang lại) của hệ
thống kiểm soát. Các mục tiêu này có thể được áp dụng cho cả hệ thống thông tin và hệ
thống hoạt động.
Khảo sát về thiết của hệ thống kiểm soát nội bô bao gồm việc mô tả hệ thống được
kiểm toán và các thủ tục kiểm soát của nó; qua đó đưa ra đánh giá các thủ tục kiểm soát có
được thiết kế tốt và phù hợp với hệ thống không. Mục đích của việc xem xét này là cung cấp
thông tin cơ bản về đối tượng kiểm toán và các thủ tục kiểm soát có liên quan.
Kiểm tra việc tuân thủ được tiến hành để xác định các thủ tục kiểm soát trong thực tế
có tuân thủ với hệ thống kiểm soát được đề ra không. Kiểm toán viên so sánh hoạt động thực
tế với các chính sách, chuẩn mực, các thủ tục được thiết lập trong đơn vị.
Đánh giá sự đầy đủ của kiểm soát nội bộ có thể bao gồm phân tích và đánh giá đối
tượng kiểm toán trên hai lĩnh vực: (1) tính đầy đủ và hiệu quả của hệ thống kiểm soát và (2)
rủi ro trong hoạt động của đối tượng kiểm toán.
Một cuộc kiểm toán có thể yêu cầu một hoặc cả ba mục tiêu trên. Tuy nhiên, cần chú ý
đến mối quan hệ chặt chẽ giữa ba mục tiêu trên. Thí dụ, khi có yêu cầu đánh giá sâu sắc
(mục tiêu đánh giá) thì không thể bỏ qua việc khảo sát thiết kế và kiểm tra tính tuân thủ của
hệ thống kiểm soát ở một mức độ nhất định (mục tiêu khảo sát và mục tiêu kiểm tra). Hoặc
khi thực hiện mục tiêu kiểm tra tính tuân thủ của hệ thống, trước hết phải khảo sát tổng quát
Có hai quan điểm khác nhau về thời điểm nghiên cứu các hồ sơ kiểm tra của kỳ trước.
Một số kiểm toán viên cho rằng chỉ nên đọc các hồ sơ này sau khi đã xuống đơn vị để khảo
sát sơ bộ (bước 3). Họ cho rằng nếu chưa xuống đơn vị mà đọc các hồ sơ kỳ trước thì sẽ dẫn
đến tình trạng kiểm toán viên bị ảnh hưởng một cách vô thức của cách làm và suy nghĩ của
người kiểm toán viên kỳ trước. Như vậy, việc khảo sát sơ bộ về đơn vị này sẽ thiếu khách
quan. Theo họ, kiểm toán viên cứ thực hiện công việc khảo sát sơ bộ trước để hình thành
những hiểu biết của chính mình, sau đó mới nghiên cứu hồ sơ kỳ trước để bổ sung cho
chương trình kiểm toán.
Ngược lại, một số kiểm toán viên lại tin tưởng rằng mình vẫn duy trì được sự khách
quan khi xem trước các hồ sơ kiểm tra của kỳ trước. Họ cho rằng những ưu điểm của
phương pháp này lớn hơn nhiều so với nhược điểm của nó. Họ cũng cho rằng nếu kiểm toán
viên nhận thức rằng hệ thống hiện hành và các phát hiện được năm nay có thể rất khác biệt
so với năm trước, đồng thời cố gắng duy trì một thái độ khách quan khi xem xét các vấn đề
của kỳ này thì việc nghiên cứu trước hồ sơ kỳ trước sẽ có lợi hơn là có hại.
Xác định đội ngũ kiểm toán: Số kiểm toán viên tham gia một cuộc kiểm toán có thể
từ một người đến tám người. Thường thì các cuộc kiểm toán do từ hai đến ba nhân viên tiến
hành tại chỗ và một hoặc hai nhân viên giám sát công việc tại văn phòng của bộ phận kiểm
toán nội bộ.
Đội ngũ kiểm toán khác nhau tùy thuộc vào bản chất và quy mô của cuộc kiểm toán.
Một cuộc kiểm toán hoạt động về các vấn đề kỹ thuật đòi hỏi các chuyên gia khác với một
cuộc kiểm toán về tính trung thực của báo cáo tài chính. Kiểm toán trong môi trường sử
dụng máy vi tính đòi hỏi chuyên gia vi tính, còn một cuộc kiểm toán đòi hỏi các phương
pháp chọn mẫu phức tạp phải có chuyên gia lấy mẫu thống kê.
Thông báo cho đối tượng kiểm toán: Trưởng nhóm kiểm toán có thể liên hệ thông qua
điện thoại hoặc gặp gỡ với người quản lý đối tượng kiểm toán để trao đổi về mục đích việc
kiểm toán, thời gian, các nhân viên đơn vị tham gia và các báo biểu, thông tin liên quan đến
23
cuộc kiểm toán mà đơn vị cần chuẩn bị. Sau đó sẽ có một văn bản chính thức gửi cho người
quản lý đối tượng kiểm toán. Việc thông tin này đối với đối tượng kiểm toán vừa tạo thuận
lợi cho việc kiểm toán vừa tạo cơ sở pháp lý cho việc kiểm toán.
diph gặp gỡ với các nhân viên đơn vị trong quá trình tham quan này.
Nghiên cứu tài liệu: Bên cạnh cuộc họp và quá trình tham quan đơn vị, việc nghiên
cứu một số tài liệu có chọn lọc cung cấp cơ sở cho kiểm toán viên viết một bản mô tả về các
hoạt động của đối tượng kiểm toán. Văn bản này sẽ được lưu trong hồ sơ kiểm toán sau này.
Các kiểm toán viên nghiên cứu các tài liệu như: sơ đồ tổ chức, các quy định của Nhà nước,
các mục tiêu của đơn vị, các bản mô tả công việc, hướng dẫn về chính sách, báo cáo tổng
hợp, các tài liệu khác có liên quan. Vấn đề mấu chốt trong giai đoạn này là các tài liệu có
hiện hữu hay không, có được sắp xếp ngăn nắp, khoa học và đảm bảo an toàn hay không.
24
Bảng mô tả hoạt động của đối tượng kiểm toán: Các kiểm toán viên phải hiểu các
hoạt động của đối tượng kiểm toán nhằm đánh giá đầy đủ hệ thống kiểm soát nội bộ. Do đó,
kiểm toán viên phải lập và lưu trữ trong hồ sơ kiểm toán thường trực một bảng mô tả về hoạt
động của đối tượng trong đó trình bày những hiểu biết của mình và qua đó làm cơ sở tham
chiếu với những đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị và các thủ tục kiểm toán
kiểm toán viên tiến hành.
Thủ tục phân tích: Một bộ phận không thể tách rời của việc nghiên cứu tổng quát đó
là thủ tục phân tích. Các thủ tục này như đã trình bày trong chương III, cung cấp phân tích sơ
lược về các dữ liệu tổng hợp trong báo cáo tài chính và báo cáo hoạt động. Các kiểm toán
viên sẽ so sánh số liệu thực tế và số liệu kế hoạch; xem xét xu hướng từ năm này sang năm
khác; xem xét và ghi nhận lại các chi tiết bất thường; ước tính các số liệu trên báo cáo bằng
các dữ liệu liên quan; tính toán các tỷ số và so sánh với số liệu năm trước, số bình quân trong
ngành.
Thủ tục phân tích không chỉ giúp kiểm toán viên am hiểu về đối tượng kiểm toán mà
còn giúp kiểm toán viên lập kế hoạch các thủ tục kiểm toán khác. Kết quả bất thường thu
được thông qua việc tính toán và so sánh, sẽ đặt ra các câu hỏi và đòi hỏi các thủ tục kiểm
toán chi tiết hơn. Các thủ tục này có thể cung cấp định hướng kiểm tra ũng như tạobằng
chứng về sự hợp lý của các chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu hoạt động.
Bước 4: Mô tả, phân tích và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ
Mô tả hệ thống kiểm soát: Các kiểm toán viên mô tả hệ thống kiểm sóat thông qua
việc vẽ các lưu đồ, trả lời các câu hỏi về kiểm soát nội bộ và các bản tường trình. Lưu đồ