sáng kiến Một số biện pháp đổi mới công tác dạy và phụ đạo học sinh yếu - Pdf 23

Một số biện pháp đổi mới công tác dạy và phụ đạo học sinh yếu
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Đào tạo thế hệ trẻ trở thành những người năng động sáng tạo, độc lập tiếp thu tri thức
là một vấn đề mà nhiều nhà giáo dục đã và đang quan tâm trong giai đoạn hiện nay.
Đổi mới phương pháp dạy học được hiểu là tổ chức các hoạt động học tập tích cực cho
người học. Từ đó khơi dậy và thúc đẩy lòng ham muốn, phát triển nhu cầu tìm tòi,
khám phá, từ đó phát huy khả năng tự học của họ. Trước vấn đề đó, người giáo viên
không ngừng tìm tòi, khám phá, khai thác, xây dựng hoạt động, vận dụng, sử dụng
phối hợp các phương pháp dạy học sao cho phù hợp với từng kiểu bài, từng đối tượng
học sinh, xây dựng cho học sinh hướng phát huy chủ động, sáng tạo.
Trong những năm qua, một thực trạng là càng ngày tính đa dạng về trình độ học sinh
trong các lớp càng tăng. Do đó, làm cách nào để có thể giúp cho học sinh khai thác tối
đa bài giảng của thầy, nhất là đối với học sinh yếu. Ở các em có sự khác biệt về: khả
năng tiếp thu bài, phong cách nhận thức, sức khoẻ… so với những học sinh khác. Cần
xem xét những học sinh này với những đặc điểm vốn có của các em để tìm ra những
biện pháp nhằm dẫn dắt các em đạt đến kết quả tối đa, tránh cho các em bị rơi vào
những khó khăn thường trực trong học tập. Đó chính là điều mà bản thân muốn trao
đổi, chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp để giúp đỡ đối tượng học sinh yếu.
Vấn đề học sinh yếu hiện nay luôn được xã hội quan tâm và tìm giải pháp để khắc
phục tình trạng này. Để đưa nền giáo dục nước nhà phát triển toàn diện thì người giáo
viên không những chỉ biết dạy mà còn phải biết tìm tòi phương pháp nhằm phát huy
tính tích cực của học sinh và hạ thấp dần tỉ lệ học sinh yếu. Vấn đề nêu trên cũng là
khó khăn với không ít giáo viên. Nhưng ngược lại, giải quyết được điều này là góp
phần xây dựng trong bản thân mỗi giáo viên một phong cách và phương pháp dạy học
hiện đại, giúp cho học sinh có hướng tư duy mới trong việc lĩnh hội kiến thức.
Việc vận dụng sự đổi mới công tác dạy và phụ đạo học sinh yếu không chỉ là trách
nhiệm mà còn là bổn phận, nghĩa vụ của người thầy. Mặc khác, nếu quan tâm đến việc
phụ đạo học sinh yếu thì sẽ làm cho các em tự tin hơn khi đến lớp, công tác duy trì sĩ
số mới được đảm bảo, góp phần làm nên thắng lợi của công tác phổ cập giáo dục tiểu
học ở địa phương. Những năm qua, được sự quan tâm sâu sát của ngành, chính quyền

nâng cao chất lượng giáo dục.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng
Giáo viên và học sinh khối 5 trường Tiểu học Thiện Hưng A về việc giúp đỡ các em là
học sinh yếu.
3.2 Thời gian
Từ ngày 10/9/2010 đến 30/9/2010: Lập đề cương.
Từ ngày 1/10/2010 đến 30/11/2010: Nghiên cứu và áp dụng thử trong khối.
Từ ngày 1/12/2010 đến 15/12/2010: Áp dụng rộng rãi trong toàn khối.
Từ ngày 15/12/2010 đến 30/12/2010: Cùng tập thể giáo viên trong khối, trường rút ra
bài học kinh nghiệm và hoàn tất đề tài.
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1. NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG:
1.1 Thuận lợi
Đối với học sinh lớp 5 là lớp cuối cấp của bậc tiểu học nên ý thức, động cơ học tập của
các em tương đối cao.
Học sinh lớp 5 có thể tiếp nhận sự giúp đỡ trong học tập từ nhiều phía. Trong đó, bạn
học với vai trò “ Đôi bạn cùng tiến” đã giúp các em học sinh yếu giảm bớt phần nào
khó khăn trong học tập.
Đội ngũ giáo viên khối nhiệt tình, thân thiện luôn quan tâm đến từng đối tượng học
sinh đặc biệt là học sinh yếu. Sự quan tâm, phối hợp của Ban Giám Hiệu và Đoàn thể
nhà trường.
Hiện nay, việc thực hiện đổi mới công tác dạy và học theo hướng khoán nội dung
chương trình cho phép giáo viên chủ động thời lượng trong từng phân môn, từng bài
học. Vì vậy, việc giúp đỡ các em trên lớp dễ dàng hơn, chủ động hơn.
1.2 Khó khăn
Như đã nêu, đối tượng học sinh yếu có những khác biệt. Và hơn thế nữa, trong từng cá
nhân của đối tượng này cũng là sự khác biệt về phong cách nhận thức.Vì vậy, mỗi
dạng đối tượng cần có sự tác động khác nhau.

nguyên nhân học sinh yếu có thể là do:
Học sinh lười học: Qua quá trình giảng dạy, bản thân nhận thấy rằng các em học sinh
yếu là những học sinh cá biệt, vào lớp không chịu chú ý chuyên tâm vào việc học, về
nhà thì không xem bài, không chuẩn bị bài, cứ đến giờ học thì cắp sách đến trường.
Còn một bộ phận nhỏ thì các em không xác định được mục đích của việc học. Các em
chỉ đợi đến khi lên lớp, nghe giáo viên giảng bài rồi ghi vào những nội dung đã học sau
đó về nhà lấy tập ra “ học vẹt” mà không hiểu được nội dung đó nói lên điều gì.
Học sinh không có thời gian cho việc tự học: Ở một số vùng nông thôn, vùng sâu, vùng
xa, vùng đồng bào dân tộc ít người thì ngoài thời gian học trên lớp, khi ở nhà các em
phải phụ giúp gia đình việc đồng áng, chăn trâu, chăn bò,….
Học sinh bị hổng kiến thức từ lớp nhỏ: Đây là một điều không thể phủ nhận với
chương trình học tập hiện nay. Nguyên nhân này có thể nói đến một phần lỗi của giáo
viên là chưa đánh giá đúng trình độ của học sinh.
2.2 Về phía giáo viên: Nguyên nhân học sinh học yếu không phải hoàn toàn là ở học
sinh mà một phần ảnh hưởng không nhỏ là ở người giáo viên. Thầy hay thì mới có trò
giỏi. Ngày nay, để có thể thực hiện tốt trong công tác giảng dạy thì đòi hỏi giáo viên
phải không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Tuy nhiên, ở đây
không phải giáo viên nào có trình độ học vấn cao, tốt nghiệp giỏi thì sẽ giảng dạy tốt
mà ở đây giáo viên phải biết lựa chọn phương pháp dạy học nào là phù hợp với từng
đối tượng học sinh và với từng nội dung kiến thức. Qua quá trình công tác bản thân
nhận thấy, vẫn còn một bộ phận nhỏ giáo viên chưa chú ý quan sát đến các đối tượng
học sinh, đặc biệt là học sinh yếu. Chưa tìm tòi nhiều phương pháp dạy học mới kích
thích tính tích cực, chủ động của học sinh. Chưa thật sự quan tâm tìm hiểu đến hoàn
cảnh gia đình của từng học sinh. Trên đây là một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng
học sinh học yếu mà bản thân nhận thấy trong quá trình công tác. Qua việc phân tích
những nguyên nhân đó, bản thân đưa ra một số biện pháp để giáo dục, phụ đạo học
sinh yếu. Trong phạm vi của bài viết, bản thân chỉ đề cập đến biện pháp giúp đỡ học
sinh yếu ở hai môn công cụ: Toán và Tiếng Việt.
3. NHỮNG BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:
3.1 Những biện pháp chung:

trong tập thể. Yêu cầu luyện tập của một tiết là 4 bài tập, các em này có thể hoàn thành
1, 2 hoặc 3 bài tuỳ theo khả năng của các em.
Ngoài ra, giáo viên có thể tổ chức phụ đạo cho những học sinh yếu khi các biện pháp
giúp đỡ trên lớp chưa mang lại hiệu quả cao. Có thể tổ chức phụ đạo từ 1 đến 2 buổi
trong một tuần. Tuy nhiên, việc tổ chức phụ đạo phải kết hợp với hình thức vui
chơi nhằm lôi cuốn các em đến lớp đều đặn và tránh sự quá tải, nặng nề.
3.1.3 Giáo dục ý thức học tập cho học sinh:
Giáo viên phải giáo dục ý thức học tập của học sinh tạo cho học sinh sự hứng thú trong
học tập, từ đó sẽ giúp cho học sinh có ý thức vươn lên. Trong mỗi tiết dạy giáo viên
nên liên hệ nhiều kiến thức vào thực tế để học sinh thấy được ứng dụng và tầm quan
trọng của môn học trong thực tiễn. Từ đây, các em sẽ ham thích và say mê khám phá
tìm tòi trong việc chiếm lĩnh tri thức.
Bên cạnh đó, giáo viên phải tìm hiểu từng đối tượng học sinh về hoàn cảnh gia đình và
nề nếp sinh hoạt, khuyên nhủ học sinh về thái độ học tập, tổ chức các trò chơi có lồng
ghép việc giáo dục học sinh về ý thức học tập tốt và ý thức vươn lên trong học tập, làm
cho học sinh thấy tầm quan trọng của việc học. Đồng thời, giáo viên phối hợp với gia
đình giáo dục ý thức học tập của học sinh. Do hiện nay, có một số phụ huynh luôn gò
ép việc học của con em mình, sự áp đặt và quá tải sẽ dẫn đến chất lượng không cao.
Bản thân giáo viên cần phân tích để các bậc phụ huynh thể hiện sự quan tâm đúng
mức. Nhận được sự quan tâm của gia đình, thầy cô sẽ tạo động lực cho các em ý chí
phấn đấu vươn lên.
3.1.4 Kèm cặp học sinh yếu:
Ngay từ đầu năm giáo viên phải khảo sát chất lượng để biết số lượng học sinh yếu là
bao nhiêu để có kế hoạch phụ đạo. Như lớp 5A
3
mà bản thân chủ nhiệm, sau khi thi
khảo sát chất lượng đầu năm thì có 3 học sinh yếu và bản thân đã lên kế hoạch phụ đạo
cho các em.
Lập danh sách học sinh yếu (theo mẫu dưới đây) và chú ý quan tâm đặc biệt đến những
học sinh này trong mỗi tiết dạy như thường xuyên gọi các em đó lên trả lời câu hỏi,

+ Tập đọc: Dù là học sinh lớp 5, nhưng trong khối còn một số em đọc rất yếu. Như em
Điểu Đức Trọng lớp 5A
3
, em Hồ Viết Đức, Lương Duy Dư lớp 5A
4
. Nguyên nhân đọc
yếu ở các em là ngắt nghỉ hơi chưa đúng dấu câu, cụm từ, không phân biệt được các
dấu câu (em Trọng), chưa đạt được tốc độ đọc của học sinh lớp 5, với những từ có vần
khó thì phải đánh vần thật lâu, tùy tiện lượt bớt hoặc thêm từ vào khi đọc. Bên cạnh đó,
khả năng đọc trôi chảy, đọc hiểu và cảm thụ một tác phẩm, một văn bản còn hạn chế.
+ Chính tả: Đọc đúng là cơ sở, nền tảng của viết đúng. Vì vậy, các em đọc yếu thường
cũng viết yếu. Nguyên nhân các em viết yếu là do không hiểu và nắm nghĩa của từ,
không nắm vững âm, vần, dấu thanh và cách ghép, một số mắc lỗi do phát âm chưa
đúng nên dẫn đến.
+ Luyện từ và câu: Vốn từ vựng ít, thường mắc lỗi về ngữ pháp khi viết câu.
+ Tập làm văn:
Khả năng đọc, viết hạn chế ảnh hưởng nhiều khi diễn đạt bằng lời, diễn đạt khi viết.
Hơn nữa, hoàn cảnh sống làm hạn chế khả năng hiểu biết của các em. Vì vậy, các em
gặp khó khăn khi cần mở rộng hiểu biết về cuộc sống theo các chủ điểm đã học thông
qua các kỹ năng như: phân tích đề, tìm ý, quan sát, viết đoạn.
v Biện pháp:
+ Tập đọc:
Đối với những học sinh đọc yếu thì giáo viên cần:
Tạo điều kiện cho học sinh được đọc nhiều trong giờ tập đọc như: thường xuyên gọi
các em đọc bài, luyện phát âm đúng, sửa sai kịp thời cho các em và cho các em luyện
đọc lại từ sai nhiều lần. Nếu thời gian của tiết học không đủ thì giáo viên có thể tranh
thủ cho các em luyện đọc thêm vào giờ giải lao 5 hoặc 10 phút.
Dặn các em về nhà đọc lại bài, có thể đọc tham khảo thêm một văn bản, một bài tập
đọc khác có nội dung phù hợp và quan trọng là giáo viên phải kiểm tra và nhận xét
đánh giá việc đọc ở nhà của các em để động viên khuyến khích kịp thời. Bên cạnh đó,

em hiểu nghĩa gốc của từ, tạo sự ham thích tìm hiểu.
+ Tập làm văn:
Nhận dạng thể loại, sửa phần tìm ý, viết đoạn.
Giáo viên chỉ ra lỗi cụ thể trên bài làm của học sinh.
Học sinh tự viết lại.
Cần tạo điều kiện để các em nhận xét bài của bạn, ghi chép lại ý hay nếu thích.
Khuyến khích các em trình bày bài viết trước lớp.
Gợi mở, tạo hứng thú cho các em bằng cách thay đổi những đề bài tập làm văn thành
những tình huống, nhằm tạo ra cho các em một hoàn cảnh giao tiếp. Nhờ có hoàn cảnh
giao tiếp, các em dễ bày tỏ suy nghĩ của mình hơn.
• Ví dụ:
Với đề bài : Tả cơn mưa ( Sách Tiếng Việt lớp 5 – tập 1 )
Giáo viên có thể chuyển thành tình huống: Trường em tổ chức “ Lễ hội trăng rằm”,
tất cả đã sẵn sàng nhưng cơn mưa chợt đến. Em hãy tả lại cơn mưa đó.
Giáo viên có thể gợi mở thành nhiều tình huống khác nhau nhằm gây hứng thú, cảm
xúc, sự quan tâm ở các em để giúp các em hình dung ra điều mình sẽ tả.
3.2.2Tìm hiểu những hạn chế của học sinh trong bộ môn Toán và biện pháp khắc phục
Trong lớp bản thân chủ nhiệm có em Điểu Thị Huyền thì hầu như là không biết tính
khi học toán. Nguyên nhân thì có rất nhiều, bản thân chỉ xin nêu một số nguyên nhân
tiêu biểu: Không nắm được các phép tính cộng, trừ có nhớ, không thuộc bảng nhân,
bảng chia. Vì vậy, các em cũng không nắm được các phép tính cộng, trừ, nhân, chia
phân số. Không nắm được lí thuyết bài (công thức, quy tắt).
Không nắm được cấu tạo số tự nhiên (hàng, lớp, cách đặt tính)… Từ chỗ không nắm
được cấu tạo số tự nhiên nên các em cũng không nắm được cấu tạo số thập phân. Mà
đối với học sinh lớp 5, các em phải làm rất nhiều bài tập về số thập phân.
Vậy, đối với những học sinh không biết tính thì giáo viên cần: Hướng dẫn để các em
hiểu, cộng có nghĩa là thêm vào, trừ là bớt đi. Khi thực hiện các phép tính cộng, trừ,
giáo viên nên sử dụng nhiều hình ảnh trực quan cho các em cầm, nắm, sờ vào và thực
hành đếm. Được thực hành nhiều lần, dần dần các em sẽ nhớ và biết cách tính. Đối với
những em không thuộc bảng nhân, chia thì giáo viên gọi lên kiểm tra thường xuyên

Nâng dần mức độ luyện tập theo khả năng từng em.
Trên lớp, bạn học hoặc giáo viên cần giúp đỡ kịp thời để tránh những khó khăn thường
trực, dần dần giúp các em tự kiểm tra, biết nhờ bạn, thầy giúp đỡ khi cần.
Khuyến khích các em tự rèn vào vở bài tập đối với các dạng bài thường sai, xem trước
bài mới.
Giáo viên cần có sự kiểm tra việc rèn qua vở bài tập để có hướng khắc phục và động
viên kịp thời.
v Tóm lại:
Ngoài những giải pháp nhằm cải thiện kết quả học tập của học sinh yếu, biện pháp lâu
dài là tạo ra sự hứng thú trong quá trình học tập. Thông qua những phương pháp dạy
học tích cực, người thầy phải chuyển yêu cầu học tập thành nhu cầu vì nguồn gốc của
tính tích cực, sự hứng thú là nhu cầu. Khi học sinh có nhu cầu thì tự các em sẽ tìm
kiếm tri thức. Đó chính là khả năng tự học.
Hơn nữa, các em học sinh tiểu học là thế hệ Măng non của đất nước. Nên bản thân
ln ln hướng các em theo khẩu hiệu “Học vì ngày mai lập nghiệp”. Học để hiểu
biết, học để trau dồi tri thức và học để trở thành những người cơng dân có ích cho xã
hội. Bản thân cũng tin tưởng rằng, mình đã đưa ra những biện pháp thích hợp trong
cơng tác phụ đạo học sinh yếu. Đây là yếu tố cần thiết, giúp cho chất lượng học tập của
các em ngày một được nâng cao.

PHẦN III: KẾT THÚC VẤN ĐỀ
1. PHẠM VI ÁP DỤNG VÀ KẾT QUẢ:
Sự đổi mới cơng tác dạy và học những năm gần đây ở bậc tiểu học đã tạo điều kiện cho
chúng tơi phát huy sở trường trong dạy học, mạnh dạn trong việc đề ra những giải pháp
trong giảng dạy, giáo dục học sinh phù hợp với từng đối tượng. Từ đó giúp học sinh dễ
dàng hơn trong việc phát huy ưu điểm và khắc phục, sửa chữa những hạn chế của bản
thân. Vì vậy, chúng ta cần nhận thức đúng đắn, đầy đủ về quan điểm đổi mới để vận
dụng vào thực tiễn. Những biện pháp trên có thể áp dụng cho vào việc đổi mới dạy và
phụ đạo học sinh yếu các khối 4, 5 đạt hiệu quả.
Theo dõi bảng số liệu trong hai năm học của học sinh khối 5, ta sẽ thấy sự tiến

sinh yếu, giáo viên chủ nhiệm cần:
Phải nhiệt tình, năng nổ, phải luôn tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề để cải tiến phương
pháp giảng dạy nhằm lôi cuốn học sinh học tập tích cực.
Phải kết hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, với các đoàn thể trong nhà trường, với
chính quyền địa phương, tạo môi trường giáo dục tốt nhất cho các em.
Phải tạo sự đoàn kết, yêu thương giúp đỡ của học sinh trong lớp thông qua các phong
trào, tạo cho các em động cơ ham học. Trong việc uốn nắn các em, giáo viên chủ
nhiệm phải luôn giữ thái độ bình tĩnh, không nóng vội, không dùng lời lẽ nặng nề với
các em, hòa hợp với các em, xem học sinh là con em của mình, chia sẻ vui buồn, cùng
lắng nghe ý kiến của các em để từ đó có biện pháp giáo dục phù hợp.
Học sinh lớp 5 cũng thích được động viên khen thưởng, giáo viên không nên dùng
hình phạt, đánh mắng làm cho các em sợ sệt, phải tạo cho các em có niềm tin để các
em an tâm học tập.
Tóm lại, nếu giáo viên chủ nhiệm tạo được sự mật thiết giữa thầy với trò, giữa học sinh
với học sinh, thầy trò tạo được sự vui vẻ, thoải mái và nhẹ nhàng trong học tập thì chắc
chắn rằng các em là học sinh yếu sẽ mạnh dạn và tự tin hơn rất nhiều để phát huy khả
năng tự học của mình. Cùng với lòng nhiệt thành của người thầy và sự cố gắng, nỗ lực
của chính bản thân các em thì chúng ta tin tưởng vào kết quả học tập tốt nhất sẽ đến
với các em. Và có lẽ rằng, vai trò của chúng ta:
“ Người Thầy của mọi Thầy” đã hoàn thành.
3. KẾT LUẬN:
Một số kinh nghiệm bản thân ghi ra ở đây với hy vọng rằng: Đây sẽ là một tài liệu nhỏ
để các quý đồng nghiệp có thể tham khảo, vận dụng trong những tình huống sư phạm
thích hợp. Hơn thế nữa, giúp đỡ học sinh yếu là nghĩa vụ, trách nhiệm của người thầy.
Hãy làm hết trách nhiệm bằng cái tâm của người thầy và hãy nhận lấy trách nhiệm về
mình.
Bản thân xin kết thúc bằng hai câu chuyện sau:
Bản thân muốn giới thiệu đến đồng nghiêp một cuốn sách hay “Bách khoa toàn thư về
những học trò lười”. Sách kể về những tên tuổi như Einstein, Disney, Darwin và
Picasso…được thế giới biết đến như những thiên tài nhưng không phải ai cũng biết họ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status