SKKN Một số biện pháp đổi mới công tác dạy và phụ đạo học sinh yếu lớp 2 - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI CÔNG TÁC DẠY VÀ PHỤ ĐẠO
HỌC SINH YẾU LỚP 2"

1
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
I . LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Đào tạo thế hệ trẻ trở thành những người năng động sáng tạo, độc lập tiếp thu tri thức là
một vấn đề mà nhiều nhà giáo dục đã và đang quan tâm trong giai đoạn hiện nay.
Đổi mới phương pháp dạy học được hiểu là tổ chức các hoạt động học tập tích cực cho
người học. Từ đó khơi dậy và thúc đẩy lòng ham muốn, phát triển nhu cầu tìm tòi, khám
phá, từ đó phát huy khả năng tự học của họ. Trước vấn đề đó, người giáo viên không
ngừng tìm tòi, khám phá, khai thác, xây dựng hoạt động, vận dụng, sử dụng phối hợp các
phương pháp dạy học sao cho phù hợp với từng kiểu bài, từng đối tượng học sinh, xây
dựng cho học sinh hướng phát huy chủ động, sáng tạo
Trong những năm qua, một thực trạng là càng ngày tính đa dạng về trình độ học sinh
trong các lớp càng tăng. Do đó, làm cách nào để có thể giúp cho học sinh khai thác tối đa
bài giảng của thầy, nhất là đối với học sinh yếu. Ở các em có sự khác biệt về: khả năng
tiếp thu bài, phong cách nhận thức, sức khoẻ… so với những học sinh khác. Cần xem xét
những học sinh này với những đặc điểm vốn có của các em để tìm ra những biện pháp
nhằm dẫn dắt các em đạt đến kết quả tối đa, tránh cho các em bị rơi vào những khó khăn
thường trực trong học tập. Đó chính là điều mà bản thân muốn trao đổi, chia sẻ, học hỏi
kinh nghiệm từ đồng nghiệp để giúp đỡ đối tượng học sinh yếu.
Vấn đề học sinh yếu hiện nay luôn được xã hội quan tâm và tìm giải pháp để khắc phục
tình trạng này. Để đưa nền giáo dục nước nhà phát triển toàn diện thì người giáo viên
không những chỉ biết dạy mà còn phải biết tìm tòi phương pháp nhằm phát huy tính tích
cực của học sinh và hạ thấp dần tỉ lệ học sinh yếu. Vấn đề nêu trên cũng là khó khăn với
không ít giáo viên. Nhưng ngược lại, giải quyết được điều này là góp phần xây dựng
trong bản thân mỗi giáo viên một phong cách và phương pháp dạy học hiện đại, giúp cho
học sinh có hướng tư duy mới trong việc lĩnh hội kiến thức.

2. Nhiệm vụ:
- Khảo sát tình hình học yếu của học sinh khối 2 hiện nay
- Tiếp cận với học sinh, các thầy cô trong khối, các bậc phụ huynh học sinh để tìm ra
những biện pháp có hiệu quả nhất trong việc phụ đạo học sinh yếu.
- Rút ra kết luận và những kinh nghiệm để giải quyết một số khó khăn (nếu có) nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục
III . PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
- Đọc tài liệu liên quan đến đề tài.
- Thực nghiệm sư phạm.
- Tổng kết kinh nghiệm
IV . ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1 Khách thể nghiên cứu:
Giáo viên, học sinh Khối Hai và phụ huynh học sinh.

3
2. §èi tîng nghiªn cøu:
Lµ häc sinh líp 2 trường tiểu học Trung Sơn số 2
Tổng số 23 em: Tất cả 23 đều có tính cách . Trong đó có 16 em nữ và 7 em nam, đa số
các em có cùng lứa tuổi tập trung ở thôn Võ Xá – Trung Sơn.
V. PHẠM VI ĐỀ TÀI:
- Qua tìm hiểu sơ bộ từ những phụ huynh học sinh , học hỏi những kinh nghiệm quý
báu của các anh chị em đồng nghiệp.
- Nghiên cứu thực trạng học sinh trong lớp.
PHẦN II: NỘI DUNG
I . C Ơ SỞ LÍ LU Ậ N VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lí luận
- Việc HS học yếu là vấn đề đau đầu từ các cấp lãnh đạo cho đến giáo viên dạy lớp,
nhiều giáo viên mất ăn mất ngủ để tìm được những giải pháp có thể giúp một HS yếu tiến
bộ. Và cũng không có gì vui hơn khi nhìn thấy HS mình học tập ngày càng tiến bộ.


Đối tượng học sinh yếu thường là những em có hồn cảnh khó khăn về kinh tế, cha mẹ
ly hơn, cuộc sống khơng ổn định hoặc là gia đình người đồng bào dân tộc thiểu số, ít
quan tâm đến việc học tiếng Việt.
Ngồi ra, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả giáo dục.
- Đội ngũ giáo viên
- Cơ sở vật chất
Trường ln đứng trước khó khăn về cơ sở vật chất. Trước những thách thức đó đòi hỏi
người thầy phải nỗ lực bản thân, kiên trì, bền bỉ cùng nhà trường khắc phục khó khăn và
từng bước nâng cao chất lượng giáo dục.
II. THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH: :
Ngay từ đầu năm học, khi bắt đầu nhận lớp, tôi đã tiến hành khảo
sát chất lượng học của các em, cụ thể như sau ::
- Học giái: 6 em
- Häc kh¸: 7 em
- Häc trung b×nh: 5 em
- Häc u: 5 em

5
Căn cứ vào kết quả khảo sát, tôi nhận thấy chất lượng đọc của lớp còn
thấp. Qua tìm hiểu, tôi đã nắm được một số nguyên nhân sau :
* Ngun nhân dẫn đến học sinh yếu .
a. Về phía học sinh: Học sinh là người học, là người lĩnh hội những tri thức thì ngun
nhân học sinh yếu có thể là do:
Học sinh lười học: Qua q trình giảng dạy, bản thân nhận thấy rằng các em học sinh
yếu là những học sinh cá biệt, vào lớp khơng chịu chú ý chun tâm vào việc học, về nhà
thì khơng xem bài, khơng chuẩn bị bài, cứ đến giờ học thì cắp sách đến trường. Còn một
bộ phận nhỏ thì các em khơng xác định được mục đích của việc học. Các em chỉ đợi đến
khi lên lớp, nghe giáo viên giảng bài rồi ghi vào những nội dung đã học sau đó về nhà lấy
tập ra “ học vẹt” mà khơng hiểu được nội dung đó nói lên điều gì. Học sinh khơng có thời
gian cho việc tự học: Ở một số vùng nơng thơn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân

hãy làm cho học sinh thương yêu và tôn trọng mình
Bên cạnh đó, giáo viên phải là người đem lại cho các em những phản hồi tích cực. Ví dụ
như giáo viên nên thay chê bai bằng khen ngợi, giáo viên tìm những việc làm mà em
hoàn thành dù là những việc nhỏ để khen ngợi các em. Hoặc có thể dùng các phiếu
thưởng có in các lời khen phù hợp với từng việc làm của các em như: “Biết giúp đỡ
người khác”, “ Thái độ nhiệt tình và tích cực”
+ Giáo viên phân loại các đối tượng học sinh
Giáo viên cần xem xét, phân loại những học sinh yếu đúng với những đặc điểm vốn có
của các em để lựa chọn biện pháp giúp đỡ phù hợp với đặc điểm chung và riêng của từng
em. Một số khả năng thường hay gặp ở các em là: Sức khoẻ kém, khả năng tiếp thu bài,
lười học, thiếu tự tin, nhút nhát
Trong thực tế người ta nhận thấy có bao nhiêu cá thể thì sẽ có chừng ấy phong cách nhận
thức. Vì vậy hiểu biết về phong cách nhận thức là để hiểu sự đa dạng của các chức năng
trí tuệ giúp cho việc tổ chức các hoạt động sư phạm thông qua đặc trưng này.
Trong quá trình thiết kế bài học, giáo viên cần cân nhắc các mục tiêu đề ra nhằm tạo điều
kiện cho các em học sinh yếu được củng cố và luyện tập phù hợp. Ví dụ khi học bài: Một
phần 2 (Toán–lớp 2), đối với các em học sinh yếu thì các em chỉ cần nắm mục tiêu thứ
nhất: “ Nhận biết 1/2” là đạt yêu cầu rồi.
Trong dạy học cần phân hóa đối tượng học tập trong từng hoạt động, dành cho đối tượng
này những câu hỏi dễ, những bài tập đơn giản để tạo điều kiện cho các em được tham gia
trình bày trước lớp, từng bước giúp các em tìm được vị trí đích thực của mình trong tập
thể. Yêu cầu luyện tập của một tiết là 4 bài tập, các em này có thể hoàn thành 1, 2 hoặc 3
bài tuỳ theo khả năng của các em.
Ngoài ra, giáo viên có thể tổ chức phụ đạo cho những học sinh yếu khi các biện pháp
giúp đỡ trên lớp chưa mang lại hiệu quả cao. Có thể tổ chức phụ đạo từ 1 đến 2 buổi
trong một tuần. Tuy nhiên, việc tổ chức phụ đạo phải kết hợp với hình thức vui chơi
nhằm lôi cuốn các em đến lớp đều đặn và tránh sự quá tải, nặng nề
+ Giáo dục ý thức học tập cho học sinh:

7

phục:
+ Tập đọc: Dù là học sinh lớp 2, nhưng trong lớp còn một số em đọc rất yếu. Như em
Lệ, Thành, Hoàng , Tình, Tài. Nguyên nhân đọc yếu ở các em là ngắt nghỉ hơi chưa
đúng dấu câu, cụm từ, không phân biệt được các dấu câu (em Tình), chưa đạt được tốc độ
đọc của học sinh lớp 2, với những từ có vần khó thì phải đánh vần thật lâu, tùy tiện lượt
bớt hoặc thêm từ vào khi đọc. Bên cạnh đó, khả năng đọc trôi chảy, đọc hiểu và , một
văn bản còn hạn chế.
+ Chính tả: Đọc đúng là cơ sở, nền tảng của viết đúng. Vì vậy, các em đọc yếu thường
cũng viết yếu. Nguyên nhân các em viết yếu là do không hiểu và nắm nghĩa của từ,
không nắm vững âm, vần, dấu thanh và cách ghép, một số mắc lỗi do phát âm chưa đúng
nên dẫn đến.
+ Luyện từ và câu: Vốn từ vựng ít, thường mắc lỗi về ngữ pháp khi viết câu.
+ Tập làm văn: Khả năng đọc, viết hạn chế ảnh hưởng nhiều khi diễn đạt bằng lời, diễn
đạt khi viết. Hơn nữa, hoàn cảnh sống làm hạn chế khả năng hiểu biết của các em. Vì

STT Họ và tên
TIẾNGVIỆT TOÁN
Con ông
(bà)
Nơi ở
Đọc
yếu
Viết yếu Không
biết tính
Tính
yếu

1
2


phải thường xuyên kiểm tra, nhận xét đánh giá kịp thời.
Nếu có điều kiện thì yêu cầu các em đến nhà của giáo viên để luyện viết thì các em sẽ
tiến bộ nhanh hơn. Chỉ cần các em nắm hết các âm, vần thì dần dần các em sẽ viết đúng
chính tả.

10
Khi các em đã nắm được các âm, vần thì đối với bài chính tả trong sách giáo khoa, giáo
viên cần cho học sinh nêu từ khó và luyện viết từ khó nhiều lần, nhiều từ. Có thể cho các
em có chọn từ để luyện viết thêm.
Đối với chính tả nhớ viết, các em này thường nhớ rất ít so với yêu cầu nên có thể chấp
nhận em viết đến hết phần nhớ được nhưng khuyến khích viết đúng chính tả.
+ Luyện từ và câu:
Sửa lỗi ngữ pháp trong câu cụ thể, trong giao tiếp hàng ngày.Hướng dẫn các em tra từ
cách đặt câu, tạo cơ hội cho các em được nêu lên những câu văn đúng giúp các , tạo sự
ham thích tìm hiểu.
+ Tập làm văn:
Nhận dạng thể loại, xác định nội dung, viết đoạn.
Giáo viên chỉ ra lỗi cụ thể trên bài làm của học sinh.
Học sinh tự viết lại.
Cần tạo điều kiện để các em nhận xét bài của bạn, ghi chép lại ý hay nếu thích. Khuyến
khích các em trình bày bài viết trước lớp.
Gợi mở, tạo hứng thú cho các em bằng cách thay đổi những đề bài tập làm văn thành
những tình huống, nhằm tạo ra cho các em một hoàn cảnh giao tiếp. Nhờ có hoàn cảnh
giao tiếp, các em dễ bày tỏ suy nghĩ của mình hơn.
Ví dụ:
Với đề bài : Viết về người thân ( Sách Tiếng Việt lớp 2 – tập 2 )
Giáo viên có thể chuyển thành tình huống: Trong gia đình em ai cũng yêu mến và chăm
sóc em , em hãy viets nói về người mà em quý mên .
Giáo viên có thể gợi mở thành nhiều tình huống khác nhau nhằm gây hứng thú, cảm
xúc, sự quan tâm ở các em để giúp các em hình dung ra điều mình sẽ tả.

các em tính yếu có thể là do: Khả năng tính nhẩm kém do cộng, trừ, nhân, chia trong
bảng chưa thuần thục dẫn đến tính toán chậm, thiếu chính xác khi thực hiện các phép tính
cộng, trừ có nhớ và nhân, chia ngoài bảng.
Chưa có kỹ năng làm bài tập dạng trắc nghiệm, lười tính và thường chọn kết quả theo
cảm tính hoặc xem bài của bạn. Mặt khác, các em chưa biết cách suy luận khi giải toán.
Các em rất sợ các bài tập về giải toán vì ảnh hưởng bởi khả năng đọc hiểu và không biết
tính hoặc tính thiếu chính xác. Vậy đối với những học sinh tính yếu thì giáo viên cần:
Chú trọng vào việc giúp các em thành thạo 4 phép tính cộng, trừ, nhân, chia mức độ đơn
giản.
Khi giải toán, giáo viên có thể yêu cầu các bạn khá, giỏi phân tích đề bài, tóm tắt và
trình bày bài giải. Sau đó, ra một bài tập tương tự như vậy chỉ cần thay đổi một vài con số
và yêu cầu các em học yếu làm lại. Các em có thể làm vào giờ ra chơi hoặc giờ rèn vào
buổi chiều. Khi các em làm bài, giáo viên theo dõi, sửa sai (nếu có) kịp thời.

12
Bước đầu, tạo cho các em sự tự tin, hứng thú khi làm đúng những bài toán cơ bản.
Động viên, giúp đỡ các em hoàn thành các bài tập cơ bản ngay tại lớp.
Nâng dần mức độ luyện tập theo khả năng từng em.
Trên lớp, bạn học hoặc giáo viên cần giúp đỡ kịp thời để tránh những khó khăn thường
trực, dần dần giúp các em tự kiểm tra, biết nhờ bạn, thầy giúp đỡ khi cần.
Khuyến khích các em tự rèn vào vở bài tập đối với các dạng bài thường sai, xem trước
bài mới.
Giáo viên cần có sự kiểm tra việc rèn qua vở bài tập để có hướng khắc phục và động
viên kịp thời.
d. Tóm lại:
Ngoài những giải pháp nhằm cải thiện kết quả học tập của học sinh yếu, biện pháp lâu
dài là tạo ra sự hứng thú trong quá trình học tập. Thông qua những phương pháp dạy học
tích cực, người thầy phải chuyển yêu cầu học tập thành nhu cầu vì nguồn gốc của tính
tích cực, sự hứng thú là nhu cầu. Khi học sinh có nhu cầu thì tự các em sẽ tìm kiếm tri
thức. Đó chính là khả năng tự học.

Phải nhiệt tình, năng nổ, phải luôn tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề để cải tiến phương
pháp giảng dạy nhằm lôi cuốn học sinh học tập tích cực.
Phải kết hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, với các đoàn thể trong nhà trường, với chính
quyền địa phương, tạo môi trường giáo dục tốt nhất cho các em.
Phải tạo sự đoàn kết, yêu thương giúp đỡ của học sinh trong lớp thông qua các phong
trào, tạo cho các em động cơ ham học. Trong việc uốn nắn các em, giáo viên chủ nhiệm
phải luôn giữ thái độ bình tĩnh, không nóng vội, không dùng lời lẽ nặng nề với các em,
hòa hợp với các em, xem học sinh là con em của mình, chia sẻ vui buồn, cùng lắng nghe
ý kiến của các em để từ đó có biện pháp giáo dục phù hợp.
Học sinh lớp2 rất thích được động viên khen thưởng, giáo viên không nên dùng hình
phạt, đánh mắng làm cho các em sợ sệt, phải tạo cho các em có niềm tin để các em an
tâm học tập.
Tóm lại, nếu giáo viên chủ nhiệm tạo được sự mật thiết giữa thầy với trò, giữa học sinh
với học sinh, thầy trò tạo được sự vui vẻ, thoải mái và nhẹ nhàng trong học tập thì chắc
chắn rằng các em là học sinh yếu sẽ mạnh dạn và tự tin hơn rất nhiều để phát huy khả
năng tự học của mình. Cùng với lòng nhiệt thành của người thầy và sự cố gắng, nỗ lực
của chính bản thân các em thì chúng ta tin tưởng vào kết quả học tập tốt nhất sẽ đến với
các em. Và có lẽ rằng, vai trò của chúng ta:
“ Người Thầy của mọi Thầy” đã hoàn thành.
Một số kinh nghiệm bản thân ghi ra ở đây với hy vọng rằng: Đây sẽ là một tài liệu
nhỏ để các quý đồng nghiệp có thể tham khảo, vận dụng trong những tình huống sư phạm

14
thích hợp. Hơn thế nữa, giúp đỡ học sinh yếu là nghĩa vụ, trách nhiệm của người thầy.
Hãy làm hết trách nhiệm bằng cái tâm của người thầy và hãy nhận lấy trách nhiệm về
mình.
Qua nhiều năm tận tụy với nghề, hết lòng yêu nghề, mến trẻ. Thực hiện phương châm
“Tất cả vì học sinh thân yêu”. Kết hợp với kinh nghiệm của bản thân và sự chia sẽ của
bạn bè đồng nghiệp, bản thân luôn hoàn thành tốt việc giúp đỡ đối tượng học sinh yếu.
Đây là một trong những tác động lớn đưa bản thân đến việc nghiên cứu đề tài thiết thực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status