TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
CHUYÊN NGÀNH NGÂN HÀNG
BÁO CÁO MÔN THUẾ
ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG, NGUYÊN
NHÂN VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
THẤT THU THUẾ Ở VIỆT NAM
GVHD: THS. Trần Thị Mơ
Lớp: 11DNH2
Nhóm thực hiện : Nhóm 6
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
CHUYÊN NGÀNH NGÂN HÀNG
ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG, NGUYÊN
NHÂN VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
THẤT THU THUẾ Ở VIỆT NAM
DANH SÁCH NHÓM:
1. Huỳnh Minh Nguyễn
2. Nguyễn Hửu Duy
3. Trần Khánh Duy
4. Nguyễn Thị Yến Ngọc
5. Huỳnh Thị Kim Phụng
6. Nguyễn Huy Toàn
7. Lưu Bích Trâm
8. Trương Hạnh Thanh Trúc
9. Phan Thị Ngọc Tuyền
10. Hà Ngọc Thúy Vy
11. Hồ Thị Hòa Hợp
phân phối
− Pháp luật thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của NN đối với nền kinh tế
và đời sống xã hội.
-5-
− Pháp luật thuế là công cụ góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các
thành phần kinh tế và công bằng xã hội.
1.1.2. Đặc điểm, nguyên tắc chung về thuế
1.1.2.1. Đặc điểm
− Thuế do cơ quan quyền lực NN cao nhất ban hành.
− Thuế là khoản nộp mang tính nghĩa vụ bắt buộc của các pháp nhân và
thể nhân đối với NN không mang tính đối giá hoàn trả trực tiếp.
− Thuế là công cụ phản ánh quan hệ phân phối lại của cải vật chất dưới
hình thức giá trị giữa NN với các chủ thể khác trong xã hội.
− Thuế là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện
các chức năng, nhiệm vụ của NN.
− Thuế dựa vào thực trạng của nền kinh tế (GDP, chỉ số giá tiêu dùng,
chỉ số giá sản xuất, thu nhập, lãi suất, ).
1.1.2.2. Nguyên tắc chung
Các sắc thuế đều cần thỏa mãn ba nguyên tắc chung sau đây:
− Trung lập: sắc thuế không được bóp méo các hoạt động sản xuất, dẫn
tới phúc lợi xã hội (tổng hiệu dụng) của nền kinh tế bị giảm đi.
− Đơn giản: việc thiết kế sắc thuế và tiến hành trưng thu thuế phải
không phức tạp và không tốn kém.
− Công bằng: sắc thuế phải đánh cùng một tỷ lệ vào các công dân có
điều kiện như nhau. Giữa các công dân có điều kiện khác nhau, thì
thuế suất cũng cần khác nhau (vì thông thường người có điều kiện tốt
hơn có xu hướng tiêu dùng hàng hóa công cộng nhiều hơn).
-6-
1.1.3. Phân loại
1.1.3.1. Các sắc thuế khi phân loại theo phương thức đánh thuế sẽ
thường không cảm nhận đầy đủ gánh nặng của loại thuế này.
1.1.3.2. Phân loại theo cơ sở tính thuế:
− Thuế thu nhập: cơ sở đánh thuế là thu nhập kiếm được
− Thuế tiêu dùng: cơ sở đánh thuế là giá hàng hoá được tiêu thụ
− Thuế tài sản: cơ sở đánh thuế là giá trị tài sản của các thể nhân, pháp
nhân.
1.1.3.3. Phân loại theo mức thuế
− Thuế đánh theo tỷ lệ % : thuế luỹ tiến, thuế luỹ thoái, thuế tỷ lệ cố
định.
− Thuế đánh trên mức tuyệt đối: Ấn định một số thu bằng tiền trên một
đơn vị tính thuế như trọng lượng, khối lượng , diện tích, đơn vị sản
phẩm.
1.1.3.4. Phân loại theo chế độ phân cấp và điều hành ngân sách
− Thuế trung ương và thuế địa phương.
1.2. Các yếu tố cấu thành một sắc thuế:
1.2.1. Tên gọi
Phản ánh nội dung chính của từng loại thuế và để phân biệt với những loại
thuế khác. Thường đặt tên sắc thuế theo đối tượng đánh thuế (TNDN, TNCN ),
theo từng mặt hàng (thuế rượu, thuế thuốc lá…) hoặc theo nội dung (thuế tiêu thụ
đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu…)
1.2.2. Đối tượng nộp thuế
Là cá nhân hoặc pháp nhân có đối tượng tính thuế, có trách nhiệm phải nộp
− Người nộp thuế : người đem tiền thuế nộp cho cơ quan NN.
− Người chịu thuế: người có thu nhập bị thuế điều tiết.
-8-
1.2.3. Đối tượng chịu thuế
Là những căn cứ để xác định số tiền thuế phải nộp, là cơ sở tính thuế được
thể hiện dưới dạng tiền tệ.
Về cơ bản có 3 đối tượng tính thuế:
− Giá trị hàng hóa, dịch vụ
Chi cục thuế
Chi cục thuế
Chi cục thuế
Tổ
Đội
Hình 1-1. Cơ cấu tổ chức ngành thuế Việt Nam
Bộ máy quản lý thuế được tổ chức thống nhất thành hệ thống theo ngành dọc
từ Trung ương đến địa phương.
− Ở Trung ương có Tổng cục thuế trực thuộc Bộ Tài chính.
− Ở các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương có các Cục thuế
trực thuộc Tổng cục thuế, đồng thời chịu sự chỉ đạo song trùng của
Uỷ ban nhan dan cùng cấp.
− Ở các quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và các cấp tương
đương có Chi cục thuế chịu sự chỉ đạo song trùng của Cục thuế và Uỷ
ban nhân dân huyện, thị cùng cấp.
Chức năng, nhiệm vụ của Tổng cục thuế
Tổng cục thuế là tổ chức thuộc Bộ tài chính, thực hiện chức năng quản lý
Nhà nước đối với các khoản thu nội địa theo quy định của pháp luật. Tổng cục thế
có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ chính như sau:
− Trình Bộ trưởng Bộ tài chính: Chiến lược phát triển, quy hoạch dài
hạn, 5 năm và hàng năm của ngành thuế, các văn bản quy phạm pháp
-10-
Chính phủ
luật về quản lý thu thuế; đề xuất và tham gia xây dựng, bổ sung, sửa
đổi các văn bản quy phạm pháp luật về thuế.
− Lập dự toán thu thuế hằng năm theo quy định của Luật NSNN.
− Hướng dẫn, chỉ đạo cấp dưới tổ chức thu thuế và thu khác trên địa bàn
và đảm bảo thu đủ, thu kịp thời vào NSNN.
− Tổ chức thanh tra, kiểm tra, kiểm soát bộ máy thu thuế và các đổi
tượng nộp thuế; xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.
kho bạc.
− Thanh tra, kiểm tra, kiểm soát việc kê khai thuế, hoàn thuế, miễn,
giảm thuế, nộp thuế, quyết toán thuế và chấp hành chính sách, pháp
luật thuế đối với các tổ chức và các cá nhân nộp thuế nội bộ cơ quan
thuế và các tổ chức, cá nhân được uỷ nhiệm thu thuế.
Sau đây là những nội dung chính của Quản lý thuế hiện hành tại Việt
Nam.
1.3.2. Khái niệm và mục tiêu quản lý thuế
1.3.2.1. Khái niệm
Quản lý thuế là những biện pháp nghiệp vụ do cơ quan có chức năng thu
NSNN thực hiện, bao gồm: Lập kế hoạch thu, tổ chức thu thuế, kiểm tra, thanh tra,
xử lý phạt vi phạm nhằm đảm bảo thu thuế đầy đủ, kịp thời và đúng luật.
Ngày nay vai trò của thuế ngày càng nâng cao, vì vậy bộ máy quản lý thuế
ngày được hoàn thiện hơn, chuyên nghiệp hơn, hợp tác với đối tượng nộp thuế, giúp
người nộp thuế thể hiện quyền và nghĩa vụ công dân của mình.
1.3.2.2. Mục tiêu của quản lý thuế
Một là, đảm bảo kế hoạch thu thuế đầy đủ, kịp thời và đúng luật nhằm tài trợ
kịp thời cho những chi tiêu công cụ của nhà nước, đồng thời thực hiện chức năng và
nhiệm vụ của nhà nước.
Hai là, nâng cao nhận thức của cán bộ thuế cũng như người nộp thuế, cán bộ
thuế phải có trách nhiệm giúp người nộp thuế hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của
-12-
mình thông qua công tác tiếp xúc, tuyên truyền, tư vấn, giải thích…Vấn đề người
nộp thuế chưa nhận thức đúng về thuế là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng
thất thu thuế và gian lận thuế.
Ba là, cả cơ quan thuế và đối tượng nộp thuế phải tôn trọng pháp luật về thuế
nói riêng và hệ thống pháp luật nói chung.
1.4. Xử lý vi phạm pháp luật về thuế
Hành vi vi phạm trong lĩnh vực thuế là hành vi do tổ chức, cá nhân vi phạm
những quy định của các luật thuế, pháp lệnh về thuế, những quy định về lập chứng
ngăn chặn các hành vi gian lận thuế, vi phạm trong sản xuất kinh doanh, nâng cao
tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế…
Những khó khăn chung của nền kinh tế đã tạo áp lực lớn thu NSNN của
ngành Thuế nói riêng và ngành Tài chính nói chung trong năm 2013. Trong khi đó,
nhiệm vụ thu NSNN của ngành Thuế lại đang đối mặt với thực trạng trốn thuế và
gian lận thuế ngày càng tinh vi và phức tạp. Theo báo cáo của Tổng cục Thuế, số
thu NSNN của ngành Thuế trong 8 tháng đầu năm 2013 ước đạt 390.712 tỷ đồng,
tương đương 60,6% so với dự toán, bằng 107,2% so với cùng kỳ năm 2012. Trong
tháng 8/2013, Ngành thu ước đạt 38.100 tỷ đồng, bằng 5,9% so với dự toán, bằng
101,8% so với thực hiện cùng kỳ năm 2012.
Báo cáo sơ kết công tác 6 tháng đầu năm của Tổng cục Thuế năm 2013 cho
thấy, Thanh tra Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế đã tiến hành nhiều cuộc thanh tra,
kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về thuế, trong đó có nội dung
hoàn thuế GTGT tại 7 Cục Thuế (TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Bình
Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và Bắc Ninh). Toàn Ngành đã tiến hành
1.064 cuộc kiểm tra nội bộ (riêng kiểm tra chuyên đề về thuế GTGT là 577 cuộc),
đạt 53% kế hoạch, qua đó kiến nghị truy thu ước đạt 2,37 tỷ đồng nộp NSNN.
Riêng trong tháng 7/2013, Tổng cục Thuế kiểm tra việc hoàn thuế GTGT tại 2 Cục
Thuế An Giang và Long An. Kết quả, qua thanh, kiểm tra hồ sơ khai thuế tại các
cục thuế đã phát hiện NNT kê khai thiếu thuế GTGT số tiền là 65,8 triệu đồng và
thuế TNDN phải tạm kê khai bổ sung 330 triệu đồng.
Trong 5 tháng đầu năm 2013, ngành Thuế đã thực hiện thanh, kiểm tra
18.198 DN, đạt 25,2% nhiệm vụ kế hoạch, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm 2012; Số
thuế xử lý tăng thu qua thanh tra, kiểm tra là 3.185,9 tỷ đồng, bằng 99,7% so cùng
kỳ năm 2012; Số tiền nộp vào NSNN là 2.342,8 tỷ đồng, bằng 73,5% so với số truy
thu và phạt, tăng 54,5% so cùng kỳ. Trong đó, Ngành đã thanh tra, kiểm tra 382 DN
lỗ, có dấu hiệu chuyển giá và DN có hoạt động giao dịch liên kết; truy thu, truy
hoàn, phạt là 127,24 tỷ đồng, giảm khấu trừ qua thanh tra là 16,8 tỷ đồng, giảm lỗ
qua thanh tra là 444,1 tỷ đồng.
Ngoài ra, trong 6 tháng đầu năm 2013, toàn Ngành đã thu được 30% số nợ
Phải thừa nhận rằng hoạt động của khu vực DN FDI đã góp phần không nhỏ
đến sự đổi thay, phát triển lớn mạnh của nền kinh tế Việt Nam, giải quyết việc làm
cho hàng triệu lao động. Tuy nhiên, chính sách ưu đãi đầu tư của nhà nước, đang
bộc lộ nhiều hạn chế, cơ quan nhà nước không chỉ đau đầu, nhức nhối trước vấn
nạn chuyển giá, lỗ giả, lãi thật, một bộ phận DN FDI đã bỏ trốn, “xù nợ” thuế xuất
nhập khẩu…
Phản ánh của nhiều cục hải quan cho thấy, DN FDI trốn nợ
thuế đã ở mức đáng lo ngại, số nợ thuế mỗi vụ lên đến hàng chục tỷ đồng.
Điển hình như trường hợp của Công ty trách nhiệm hữu hạn Diing Long Việt
Nam tại Bình Dương. Công ty này nợ thuế nhập nguyên liệu để sản xuất hàng xuất
khẩu lên tới hơn 17 tỷ đồng. Số tiền này chưa kịp thu hồi thì ban giám đốc của
Diing Long đã về nước. Công ty rơi vào tình trạng vắng chủ trong khi tài sản đã thế
chấp tại ngân hàng. Hiện công ty chỉ còn một nhà xưởng trên diện tích 3 ha tại Mỹ
Phước ước tính trị giá 70 tỷ đồng, song, tài sản này đã được thế chấp tại ngân hàng
với số tiền vay trên 100 tỷ đồng. Với trường hợp như vậy, cơ quan hải quan gần
như "bó tay" để đòi được thuế của doanh nghiệp.
Đối tượng DN FDI bỏ trốn và nợ thuế chủ yếu tập trung ở các DN sản xuất
xuất khẩu. Theo lý giải của một số chuyên gia kinh tế, do biến động kinh tế, sản
xuất xuất khẩu khó khăn, giá nhân công tại Việt Nam cũng không còn cạnh tranh so
với nhiều nước trong khu vực, nhiều DN FDI lợi dụng cơ hội này để “tháo chạy”.
Thực tế DN FDI bỏ trốn, xù nợ thuế không còn là cá biệt. Hải quan Hải
Phòng mới đưa ra thống kê, tại đơn vị hiện còn 14 DN nợ thuế có chủ là người
nước ngoài đã bỏ trốn, với tổng số nợ gần 11,7 tỷ đồng. Các DN này mở tờ khai
trong khoảng thời gian từ năm 2003 trở lại đây, số nợ của các DN bao gồm nợ thuế
NK, thuế GTGT và một số trường hợp nợ tiền phạt chậm nộp. Trong số 14 DN này,
DN có số nợ nhiều nhất trên 7,2 tỷ đồng (gần 3,7 tỷ thuế GTGT và hơn 3,5 tỷ thuế
NK) là Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Kenmark.
Lãnh đạo Hải quan Hà Nội cho biết, đơn vị đang rà soát các nguồn nợ thuế,
tập trung vào đối tượng DN FDI. Còn theo Cục Hải quan TP.Hồ Chí Minh, hiện còn
1.114 DN nợ thuế bỏ trốn khỏi địa chỉ đăng kí kinh doanh, không kinh doanh tại địa
doanh hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bán lẻ, ăn uống, khách sạn, xây dựng
dân dụng và sản xuất nhỏ. Đây chính là một kiểu hoạt động kinh tế ngầm mà môi
trường thuận lợi của nó là nền kinh tế tiền mặt.
Một số vụ trốn thuế bị phanh phui thời gian qua cho thấy hành vi này khá
phổ biến và gây thất thu ngân sách. Chẳng hạn, Công ty TNHH thông tin tín nhiệm
và xếp hạng DN Việt Nam đã trốn thuế 1.028 triệu đồng qua hành vi không ghi sổ
kế toán tiền bán quyền mua căn hộ; Công ty Viễn thông điện lực bán hàng không
xuất hóa đơn, không phản ánh vào sổ kế toán để trốn thuế 37 tỷ đồng.
2.2.1.2. Tạo giao dịch bán hàng giả mạo
Mục tiêu của thủ đoạn này là chiếm đoạt tiền NSNN thông qua hoàn thuế
hoặc tiếp tay cho hành vi tham nhũng NSNN của một bộ phận công chức được giao
nhiệm vụ mua sắm tài sản, hàng hóa, dịch vụ cho cơ quan nhà nước. Thủ đoạn này
cũng liên quan đến hành vi giao dịch mua hàng giả mạo sẽ phân tích dưới đây nhằm
giúp cho bên mua tăng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ và giảm chi phí tính thuế
thu nhập DN.
Điển hình cho thủ đoạn này là hành vi xuất khẩu khống nhằm chiếm đoạt
tiền qua hoàn thuế GTGT từ NSNN. Xuất khẩu khống chủ yếu diễn ra đối với
phương thức xuất khẩu tiểu ngạch qua biên giới. Dạng gian lận này đã có một thời
bị ngăn chặn đấu tranh quyết liệt nên giảm bớt nhưng trong vài năm gần đây lại có
xu hướng bùng phát với những hình thức tinh vi hơn, đặc biệt có dấu hiệu trầm
trọng là ở các tỉnh giáp ranh Campuchia. Lợi dụng hệ thống sông ngòi chằng chịt để
quay vòng hàng hóa. Sau khi làm thủ tục xuất khẩu sang nước bạn thì lại đưa hàng
hóa quay trở lại Việt Nam không qua cửa khẩu, rồi sau đó lại làm thủ tục xuất khẩu.
Trong trường hợp này, các đối tượng cấu kết với đối tác nước ngoài để hoàn tất các
thủ tục để đủ điều kiện đề nghị hoàn thuế GTGT. Cùng với đó, các đối tượng này
cũng áp dụng chiêu thức mua hóa đơn để hợp thức hóa thuế GTGT đầu vào và chi
phí tính thuế thu nhập DN. Không phải ngẫu nhiên mà kim ngạch xuất khẩu hàng
hóa từ Việt Nam sang Campuchia tăng nhanh đáng ngờ, kèm theo đó, số tiền hoàn
thuế GTGT đối với hàng hóa xuất khẩu sang Campuchia cũng tăng nhanh chóng:
Năm 2011 tăng 196,4% so với năm 2010, năm 2012 tăng 190% so với năm 2011.
đoạn thành lập DN “ma”, do việc tạo giao dịch mua hàng giả mạo không chỉ thực
hiện thông qua hành vi mua hóa đơn, song giữa chúng có mối liên hệ mật thiết. DN
“ma” là DN được thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhưng thực tế
không sản xuất kinh doanh, chỉ nhằm mục đích đủ điều kiện để được phát hành hoá
đơn, từ đó bán hóa đơn cho các đối tượng khác hoặc trung gian lập hoá đơn mua
bán khống, lập hồ sơ giả mạo để xin hoàn thuế. Mức độ thiệt hại do những hoá đơn
trôi nổi này gây ra là không thể kiểm soát được, bởi nó hoàn toàn phụ thuộc vào số
chi phí đầu vào cần hợp thức hoá của DN mua bán hoá đơn.
Hiện nay, hình thức gian lận này càng được tổ chức tinh vi hơn và có hệ
thống, tuy nhiên có một số đặc điểm mang tính định vị như: Các DN “ma” thường
thành lập dưới dạng công ty TNHH hay DN tư nhân; chủ DN thường là người có hộ
khẩu thường trú ở địa phương khác đến đăng ký thành lập DN, hạn chế về trình độ
học vấn, không am hiểu pháp luật; văn phòng giao dịch thường đi thuê thời hạn
ngắn, trụ sở chật hẹp, tài sản không tương xứng với mô hình tối thiểu của một DN
bình thường; đăng ký kinh doanh nhiều ngành nghề, chủ yếu là thương mại, dịch vụ
tổng hợp, những ngành nghề không cần phải đăng ký vốn pháp định và không bắt
buộc có chứng chỉ hành nghề; doanh thu lớn nhưng chênh lệch giữa thuế GTGT đầu
vào và thuế GTGT đầu ra ít nên kê khai thuế thấp, thậm chí có thuế GTGT phải nộp
âm nhiều kỳ nhưng không làm thủ tục xin hoàn thuế…
2.2.1.4. Ghi giá bán thấp hơn giá thực tế
Hành vi này được gọi là “down” giá. Đây là hành vi ghi giá bán trên hóa đơn
và kê khai doanh thu tính thuế thấp hơn giá khách hàng thực tế thanh toán. Hành vi
này thường gặp ở các DN kinh doanh nhà hàng khách sạn, vận tải tư nhân, xăng
dầu, kinh doanh vật liệu xây dựng, bán ô tô và xe máy, hàng trang trí nội thất Các
công ty xây dựng (nhà dân và đơn vị xây dựng vãng lai) khi thi công các công trình
ở các địa phương khác hay xây nhà tư nhân thường khai báo không trung thực,
không kê khai hoặc giấu bớt một phần công trình. Hành vi gian lận này làm giảm
thuế GTGT và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) phải nộp, gây ảnh hưởng
không nhỏ đến số thu ngân sách hàng năm.
Để chống hành vi “down” giá ô tô và xe máy, Bộ Tài chính đã ban hành
trong đánh giá báo tài chính của DN.
2.2.2. Các hành vi gian lận thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Trong điều kiện các hoạt động thương mại quốc tế ngày càng gia tăng, kéo
theo sự tăng trưởng không ngừng của kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu, đồng thời,
các hành vi gian lận về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu cũng gia tăng
đáng kể về hình thức gian lận, số vụ gian lận và quy mô số thuế gian lận.
Theo thống kê của cơ quan Hải quan, gian lận thuế trong hoạt động xuất
khẩu, nhập khẩu ngày càng gia tăng và có diễn biến phức tạp với các phương thức,
thủ đoạn gian lận thuế ngày càng tinh vi, thay đổi theo hướng lợi dụng những bất
cập trong quy trình thủ tục hải quan và sự thay đổi chính sách mặt hàng Trong đó,
phổ biến nhất là các hành vi buôn lậu, gian lận, trốn thuế về mặt hàng, số lượng, mã
hàng, xuất xứ, trị giá tính thuế hay lợi dụng các chính sách ưu đãi, ân hạn thuế hoặc
nợ thuế để trốn thuế. Cụ thể như sau:
2.2.2.1. Buôn lậu
Đây là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới những loại hàng hoá cấm,
không khai báo, tránh sự quản lý của hải quan và trốn nghĩa vụ thuế. Thời gian qua,
việc buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ hàng nhập lậu, hàng cấm có diễn biến phức tạp,
với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, khó kiểm soát. Hàng nhập lậu chủ
yếu là hàng tiêu dùng như quần áo, vải, giày dép, đồ chơi trẻ em, rượu, bia và các
loại nước giải khát, hàng điện máy gia dụng, điện lạnh, thực phẩm… Sau khi nhập
lậu vào Việt Nam, các mặt hàng này được xé nhỏ, vận chuyển bằng xe khách, xe tải
và được hợp pháp hoá bằng hệ thống hoá đơn mua qua bán lại giữa các DN.
Bên cạnh hoạt động buôn lậu nêu trên, lợi dụng sự thông thoáng về thủ tục
hải quan, nhiều chủ hàng đã thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu nhưng
không khai báo đầy đủ các mặt hàng hoặc cố tình khai thiếu số lượng hàng xuất
khẩu, nhập khẩu để không phải nộp thuế.
2.2.2.2. Khai sai chủng loại hàng hoá
Với sự gia tăng của khối lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong khi
nguồn lực của cơ quan hải quan có hạn và thực hiện yêu cầu đơn giản, nhanh
chóng, thuận lợi trong thủ tục hải quan, cơ quan hải quan chỉ tiến hành kiểm tra