TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Viện Khoa Học Và Công Nghệ Môi Trường
***************
Tiểu luận: NHẬP MÔN KĨ THUẬT MÔI TRƯỜNG
Đề tài: “Tìm hiểu về hiện tượng phú dưỡng trong các hồ ở thủ
đô Hà Nội và các giải pháp chính để kiểm soát hiện tượng này”
Giáo viên hướng dẫn: TS.Văn Diệu Anh
Nhóm sinh viên thực hiện: MSSV
1. Trần Hồng Vân 20123714
2. Nguyễn Đức Việt 20123718
3. Nguyễn Đức Việt 20123719
4. Nguyễn Xuân Vũ 20123730
5. Hoàng Thị Yến 20123736
6. Lê Thị Yến 20123729
7. Nguyễn Võ Hải Yến 20123744
Hà Nội, 11/2013
P a g e 1 | 35
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Tổng quan về hiện tượng phú dưỡng…………………………………4
1.1. Khái niệm và phân loại…………………………………………4
1.1.1. Khái niệm……………………………………………….4
1.1.2. Phân loại……………………………………………… 6
1.2. Nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng…………………………7
1.2.1. Nguyên nhân……………………………………………7
1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng…………………………………10
1.3. Tác hại của hiện tượng phú dưỡng…………………………….11
1.3.1.Đối với hệ sinh thái…………………………………….11
1.3.2.Đối với con người…………………………………… 13
2. Hiện trạng phú dưỡng các hồ ở Hà Nội…………………………… 14
“nhà máy” điều hòa khí hậu tiểu khu vực. Vì vậy, có thể thấy việc
nghiên cứu về hiện tượng phú dưỡng ở các hồ trong thủ đô là một vấn đề
rất phức tạp, gặp nhiều khó khăn nhưng tuy nhiên, đây cũng là một chủ
đề thú vị đối với những sinh viên mới bắt đầu học ngành môi trường như
chúng em. Từ đó, dưới sự hướng dẫn và nhận xét, đánh giá của giáo viện
hướng dẫn: Cô Văn Diệu Anh – Viện Khoa học và Công nghệ Môi
trường, chúng em đã thực hiện bài tiểu luận với đề tài: “Tìm hiểu về
hiện tượng phú dưỡng trong các hồ ở thủ đô Hà Nội và các giải pháp
chính để kiểm soát hiện tượng này” với nội dung:
+ Tổng quan về hiện tượng phú dưỡng
+ Hiện trạng phú dưỡng các hồ ở Hà Nội
+ Các giải pháp kiểm soát phú dưỡng.
P a g e 3 | 35
1.Tổng quan về hiện tượng phú dưỡng:
1.1 Khái niệm và phân loại:
Trái đất của chúng ta, hơn 71% diện tích được bao phủ bởi nước.
Nhưng trong số đó, đến 97% là nước mặn và không thể sử dụng được.
Chỉ khoảng 3% là nước ngọt. Nhưng thực tế thì trong 3% ít ỏi đó có đến
68,7% nước ngọt dưới dạng núi băng, sông băng rất khó để khai thác và
sử dụng. Nguồn cung cấp chính cho con người chính là 30,1% nước
ngầm và 0,3% nước mặt ngọt. Chỉ với 0,3% lượng nước mặt được tích
trữ dưới dạng hồ, ao, đầm lầy, sông suối(ao, hồ chiếm 87%, đầm lầy
chiếm 11% và sông chỉ chiếm 2%) thì thật sự rất đáng lo ngại với tình
hình và sự xuống cấp ngiêm trọng của chất lượng nước tại các ao, hồ
hiện nay mà 1 trong những nguyên nhân chủ yếu là do hiên tượng phú
dưỡng. Vậy “hiện tượng phú dưỡng” là gì? [1]
1.1.1.Khái niệm.
Hiện tượng phú dưỡng (eutrophication)( xuất phát từ Hy lạp có
nghĩa là “thừa dinh dưỡng”) là một dạng suy giảm chất lượng nước
thường xảy ra ở các hồ chứa với hiện tượng nồng độ các chất dinh
Các dòng chảy tràn trên mặt chứa một lượng lớn nitrat
N dưới dạng nitrat dễ bị hòa tan do đó dễ bị rửa trôi ra các hệ sinh thái
nước ngọt.
Một số loài tảo lục và vi khuẩn có khả năng cố định nitơ dưới dạng N
2
từ
khí quyển.[2]
P a g e 5 | 35
1.1.2.Phân loại.
Hồ và hồ chứa có thể xếp loại theo mức độ phú dưỡng thành 4 loại:
dinh dưỡng ít, dinh dưỡng trung bình, phú dưỡng và siêu phú dưỡng
(Bảng 1. Phân loại các mức độ phú dưỡng). Sự phân loại này có được từ
sự nghiên cứu và kiểm nghiệm nhiều về phú dưỡng ở các nước trong tổ
chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for Economic
Cooperation and Development (OECD)) trong những năm 1970 và đầu
những năm 1980. Nó được dựa trên nồng độ Phốt pho, Ni tơ, và Diệp
lục (Chlorophyll a). Chất diệp lục biểu thị nồng độ của sinh khối thực
vật một cách sơ bộ (trung bình 1% của sinh khối tảo là chất diệp lục).
Bảng 1. Phân loại các mức độ phú dưỡng.[3]
Tham số
Nghèo
dinh
dưỡng
Dinh
dưỡng
trung bình
Phú
dưỡng
Siêu phú
dưỡng
Cục bảo vệ môi trường Mỹ – DEP). Hồ dinh dưỡng trung bình (giá trị
TSIP trong khoảng 40 đến 50) có lượng dinh dưỡng trung bình và là giai
đoạn đầu, tảo cũng bắt đầu có nhiều, ở một số chỗ nước sâu có thể sảy ra
hiện tượng thiếu ô xy. Đối với hồ đã bị phú dưỡng tương ứng là các vấn
đề về chất lượng nước nghiêm trọng như hoa tảo nở theo mùa, thiếu hụt
ô xy trong nước. Một số tài liệu xác định nước hồ phú dưỡng khi giá trị
TSIP trong khoảng 50 đến 70. Tuy nhiên giá trị nào để xác định nước hồ
bị phú dưỡng được lựa chọn còn tùy vào kinh nghiệm. Hiện tại Cục bảo
vệ môi trường Mỹ (DEP) xác định tiêu chuẩn nước hồ bị phú dưỡng có
TSIP ≥ 65 tương ứng với nồng độ phốt pho tổng ≥ 68 µg/l.
1.2 Nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng:
1.2.1 Nguyên nhân:
Nguyên nhân gây phú dưỡng là sự thâm nhập một lượng lớn N, P từ các
nguồn thải trong đô thị và nông thôn vào các hồ chứa.
Trong đó ở đô thị việc xả nước thải sinh hoạt có chứa nitrat và
photsphat được xử lí một phần hoặc chưa qua xử lí đã góp phần không
nhỏ trong việc gây ra hiện tượng phú dưỡng. Tại khu vực Hà Nội, phần
lớn lượng nước thải sinh hoạt (khoảng 600.000 m3/ngày) và lượng nước
thải công nghiệp (khoảng 260.000 m3/ngày, khoảng 10% được xử lý)
được đổ thẳng vào các sông, ao, hồ.
Ngoài ra việc sử dụng bột giặt, các chất tẩy rửa có chứa P(photpho) ngày
càng gia tăng và chúng được đưa trực tiếp vào ao hồ khiến lượng
P(photpho) trong các hồ chứa này thừa dư càng nhiều. Bột giặt chứa
P a g e 7 | 35
P( photpho) sản xuất từ năm 1940. Giữa những năm 1950 – 1970 lượng
bột giặt tiêu thụ tăng gấp 5 lần ở Mĩ và gấp 7 lần ở Anh. P từ bột giặt
chiếm 47 -65% tổng số P trong nước cống từ 6 trạm xử lí ở Anh vào
năm 1971. Hàng năm, chỉ tính riêng 2 thành phố Hà Nội và TP. Hồ Chí
Minh đã tiêu thụ trên 32.000 tấn bột giặt/năm và 17.141 tấn chất tẩy
rửa/năm.
biến sữa, hàm lượng N(nito) trong nước thải là 50mg/l; còn ngành chế
biến thịt hộp hàm lượng N(nito), P(photpho) cao gấp 2,3 lần so với
ngành chế biến sữa.
Nguyên nhân gây ra phú dưỡng còn xuất phát từ nông thôn. Hoạt
động sản xuất nông nghiệp cũng là một trong những tác nhân rất quan
P a g e 8 | 35
trọng gây nên hiện tượng phú dưỡng. Trong trồng trọt, để tăng năng
suất, người ta đã sử dụng một lượng lớn phân bón mà chủ yếu là phân
đạm ( chứa N), phân lân ( chứa P). Tuy nhiên, chỉ có 30-40% lượng
phân bón đưa vào cây có khả năng hấp thụ, còn lại sẽ bị tích tụ trong đất.
Hiện tượng xói mòn xảy ra sẽ cuốn theo lượng phân bón dư thừa đó đổ
ra nguồn nước gây ra phú dưỡng. Ngày nay, lượng phân bón sử dụng
tăng lên nhanh chóng. Lượng phân bón sử dụng ở Việt Nam trung bình
73,5kg/ha (trung bình của thế giới là 95,4 kg/ha). Owen(1970) cho rằng
nông nghiệp chiếm 71% khối lượng nitơ chảy xuống sông Great Ouse ở
miền trung nước Anh.Còn ở Đắc Lắc nông dân bón lượng phân chứa
nitơ là 600 kg/ha cho cà phê dất đỏ vẫn không cho năng suất cao hơn với
việc bón 200kg/ha, lượng dư thừa sẽ đổ vào sông hồ và làm phú dưỡng
hóa.
Từ năm 1950 đến năm 1995, ước tính có khoảng 600.000.000 tấn phốt
pho được áp dụng cho bề mặt trái đất, chủ yếu là trên đất canh tác. Con
người đã sử dụng đất canh tác, đốt rừng: làm giảm diện tích đất che phủ
bởi thực vật, làm đất bị trơ ra khiến hiện tượng xói mòn rửa trôi được
tăng cường, khi xảy ra hiện tượng này một lượng lớn nitrat đã bị rửa trôi
xuống ao, hồ gây ra phú dưỡng. Theo một thí nghiệm được tiến hành ở
Hubard Brook ở vùng núi trắng ở New Hamphire trong vòng 3 năm từ
năm 1960 đến năm 1963.Người ta tiến hành chặt trụi một thung lũng, rồi
đo hàm lượng nitrat đi ra, rồi so sánh với một thung lung được giữ
nguyên .Kết quả cho thấy, lượng nitrat tăng 50 lần so với thung lũng
không bị chặt trụi.
1.Độ sâu của hồ:
Hồ càng sâu thì các chất dinh dưỡng sẽ bị lắng xuống tầng đáy, cách
xa phạm vi sinh sống ở tầng mặt do vậy hạn chế được hiện tượng “tảo
nở hoa”. Nếu hồ không sâu lắm, loài thực vật có rễ ở đáy bắt đầu phát
triển làm tăng quá trình tích tụ các chất rắn thúc đẩy sự phát sinh của
tảo.
2.Khả năng lưu chuyển nước
Nước mà lưu chuyển càng nhanh thì sẽ kéo các chất dinh dưỡng ra
khỏi hệ sinh thái , khiến cho các loài tảo không đủ thời gian để sử dụng
các chất dinh dưỡng này. Những ao, hồ tụ đọng – ao, hồ mà không có
dòng nước dẫn vào mà nguồn cung cấp nước chủ yếu từ nước ngầm,
nước chảy tràn trên mặt còn nước đi ra do ngấm qua đất hay bốc hơi
P a g e 10 | 35
nước, có nguy cơ lớn dẫn đến hiện tượng phú dưỡng.
3.Các điều kiên khí hậu
Khi có các yếu tố về ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm thích hợp thì sẽ đẩy
nhanh quá trình phát triển của tảo. Chính vì lẽ đó, hiện tượng phú dưỡng
thường gặp vào mùa đông hơn mùa hè vì mùa đông có nhiệt độ thấp,
khả năng bốc hơi nước kém đi nên lượng nitrat di chuyển vào không khí
ít
Tóm lại, hiện tượng phú dưỡng sẽ có tiềm năng phát triển ở hệ sinh
thái nước ngọt mà hội tụ các yếu tố:
Hàm lượng N(nito), P(photpho) cao. [2]
1.3.Tác hại của hiện tượng phú dưỡng:
1.3.1. Tác động của hiện tượng phú dưỡng tới hệ sinh thái
Khi các hồ gia tăng chất dinh dưỡng, các loài tảo phát triển mạnh sẽ
hạn chế ánh nắng mặt trời. Với hồ phú dưỡng, lượng oxy hòa tan đáng
kể khi trời tối do sự hô hấp của tảo, gây thiếu oxy cho các sinh vật thủy
sin. Hiện tượng cá chết nhiều ở hồ Dianchi và Thái Hồ ở Trung Quốc là
một minh chứng cho hiện tượng này. Hiện tượng phú dưỡng có thể gây
loài thủy sinh trong khu vực bị tảo nở hoa.
Trong thế kỉ qua, tảo độc hại đã gây nên sự xuống cấp của chất
lượng nước, phá hủy ngành thủy sản và làm ảnh hưởng đến sức khỏe
cộng đồng. Trong hệ sinh thái nước ngọt, vi khuẩn lam là thực vật phù
du chủ yểu liên quan đến tảo độc hại. Độc tố của vi khuẩn lam bao gồm
Anabaena, Cylindrospermopsis, Microcystis and
Oscillatorie (Planktothrix) có xu hướng chiếm thành phần dinh dưỡng
cao trong hiện tượng phú dưỡng.
Hầu hết các loài vi tảo biển nở hoa thường đưa đến hậu quả làm cho
môi trường xấu đi, hàm lượng oxy hòa tan suy giảm nhanh chóng, gây
ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống thủy sinh vật.
Tảo chết và chìm xuống đáy thủy vực và bị hủy bởi các vi sinh vật
khác đặc biệt là vi khuẩn.
Kết quả gây nên hiện tượng thiếu ôxy trong các tầng nước làm chết các
loài thủy sản. Quá trình này làm thay đổi thành phần hóa học trong
P a g e 12 | 35
nước, gây tăng các khí độc. Đến nay, các nhà khoa học đã xác nhận có
khoảng trên 300 loài vi tảo đã hình thành sự nở hoa làm thay đổi màu
nước. Trong đó có khoảng 1/4 loài (70 - 80 loài) gây hâiện tượng nở hoa
có khả năng sản sinh độc tố đang là mối đe dọa đến khu hệ động vật và
thực vật tự nhiên ở nước, nghề nuôi trồng thủy sản và sức khỏe của con
người (nguyên nhân do độc tố tảo có thể được tích lũy trong vài loài
động vật thân mềm sò, ốc hay cá… và không bị phá hủy trong quá trình
đun nấu, không ảnh hưởng đến mùi vị của thực phẩm. Do vậy cả ngư
dân cũng như người tiêu dùng khó có thể xác định được các thực phẩm
biển bị nhiễm độc do tảo gây ra. Hiện nay, có 5 loại triệu chứng ngộ độc
do tiêu thụ thực phẩm biển nhiễm độc tố tảo xảy ra với con người. Trong
đó, đặc biệt dạng ngộ độc gây tê liệt cơ (PSP) có thể gây tử vong và
dạng ngộ độc Ciguatera rất phổ biến trong vùng nhiệt đới. Theo các nhà
khoa học, trong vài thập kỷ qua, hiện tượng Thủy triều đỏ và nở hoa
3. Ảnh hướng đến giá trị du lịch, giải trí
Khi nước bị phú dưỡng, giá trị này thường giảm đi đáng kể. Việc câu cá,
bơi thuyền có thể bị cản trở do việc tạo váng trên bề mặt khi tảo nở hoa.
Các loài tảo phân hủy thường bốc mùi khó chịu, gây ảnh hưởng cảnh
quan xung quanh. Gần đây, lượng khách du lịch đến với hồ Xuân
Hương, trái tim của Đà Lạt giảm nhanh mà nguyên nhân hồ đang bị rơi
vào tình trạng này. [2]
2.Hiện trạng phú dưỡng các hồ ở Hà Nội:
2.1.Hiện trạng chất lượng nước hồ và phú dưỡng
Hồ là tài sản vô cùng quý báu của các đô thị, là thắng cảnh, là di
tích lịch sử mang lại nhiều giá trị tinh thần cho cộng đồng dân cư. Trong
hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị, hồ đô thị có chức năng tiêu thoát nước
mưa, điều hòa khí hậu, là nơi giải trí của cộng đồng dân cư , khu vực
xung quanh nhưng với quá trình đô thị hóa và chỉnh trang đô thị ở nước
ta trong những năm gần đây làm giảm đáng diện tích mặt nước tự nhiên
của các hồ cùng với việc tiếp nhận một lượng lớn các chất thải đã làm
chất lượng nước hồ ngày càng xấu đi và nhiều lúc trở thành vấn đề bức
xúc của xã hội.
P a g e 14 | 35
Hình 2: Ao ngõ Đặng Mai gần hồ Tây bị ô nhiễm nặng
Phần lớn thành phố khác trên đất nước ta, hệ thống hồ đầm đóng vai
trò quan trọng trong việc điều tiết lượng mưa điều hòa khí hậu và tạo
cảnh quan cho cộng đồng sống dân cư. Tuy nhiên trong những năm gần
đây hệ thống thu gom và xử lí nước thải đô thị chưa đáp ứng được tốc
độ đô thị hóa; đặc điểm địa hình các hồ chủ yếu ở khu vực thấp, vào
mùa hè, mực nước trong hồ thấp hơn mực nước trong các cống thoát
nước nên có một lượng đáng kể nước thải đã rò rỉ chảy vào các hồ. Hoặc
vào mùa mưa nước chảy tràn cũng mang một lượng lớn các chất thải
rắn, cặn lắng đọng trong hệ thống cống xung quanh tràn vào hồ gây ô
nhiễm và làm giảm giá trị chất lượng nguồn nước tại các hồ đô thị.
Bảy Mẫu có hàm lượng hữu cơ cao hơn tiêu chuẩn phú dưỡng loại B.
Các hồ phú dưỡng thường nông dần theo thời gian nhất là các vùng
đầu hồ nơi đón nhận trực tiếp nước thải. Hiện tượng lai hóa đã làm cạn
dần hồ xuất hiện ở hồ Hoàn Kiếm, hồ Tây, hồ Thiền Quang, hồ Bảy
Mẫu, hồ Thành Công, Hiện nay mực nước các hồ về mùa khô đang
giảm dần, độ sâu trung bình từ 0,5- 1,3m. Theo nghiên cứu hàm lượng
muối dinh dưỡng tích tụ khá lớn trong hồ gây hiện tượng “ phú dưỡng
hóa” ở hồ Xuân Hương tạo điều kiện cho tảo bùng phát về số lượng làm
nước hồ hôi thối. Kết quả phân tích cho thấy có 14 loại tảo lam tham gia
hiện tượng nở hoa của nước. Ngoài ra xác định được hai loại tảo lục có
khả năng cho mùi hôi. Nồng độ NO
3
-
trong các sông có xu hướng tăng
lên rõ rệt như sông Cấm( Hải Phòng), sông Sài Gòn( thành phố Hồ Chí
Minh). Trong khi đó trên sông Hương, sông Hàn lại có dấu hiệu giảm
dần. Nhìn chung hàm lượng NO
3
-
trong các sông trên cả nước vẫn nằm
trong giới hạn cho phép của Việt Nam. Nồng độ PO
4
3-
đang có xu hướng
tăng lên ở sông Hồng, Cấm, Hàn nhưng lại có xu hướng giảm ở sông
Hương. [8][9]
2.2. Nguyên nhân phú dưỡng tại Hà Nội
Nguyên nhân gây phú dưỡng là sự thâm nhập một lượng lớn N, P từ
nước thải sinh hoạt của các khu dân cư, sự đóng kín và thiếu đầu ra của
môi trường hồ. Sự phú dưỡng nước hồ và các sông kênh dẫn nước thải
học trong nước ngọt. Hệ thống cống rãnh tại các đô thị, khu công nghiệp
phụ thuộc mức sống dân cư và tiêu chuẩn trong khu vực.
P a g e 18 | 35
Hình4: Ô nhiễm nguồn nước do rác và nước thải từ cống rãnh
Nước thải từ khu sản xuất công nghiệp, chế biến sản xuất nông
nghiệp. Việc xả nước thải( chứa nitrat và photphat) được xử lí một phần
hay chưa xử lí trực tiếp xuống hồ cũng là nguyên nhân dẫn tới tình trạng
ô nhiễm nguồn nước. Nước thải khu công nghiệp: hàm lượng các chất ô
nhiễm thải trực tiếp ra các ao hồ thường rất cao, phần lớn nước thải sinh
hoạt một ngày một ở Hà Nội khoảng 600000m
3
và lượng nước thải công
nghiệp là 260000m
3
, khoảng 10% được xử lí được đổ thẳng vào các
sông ao hồ. Ngoài ra việc sử dụng bột giặt, các chất tẩy rửu chứu P được
đưa trực tiếp vào ao hồ cũng đáng báo động. Hằng năm tại thủ đô Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh tiêu thụ hơn 32000 tấn bột giặt/năm,
17414 tấn chất tẩy rửa/ năm. Đời sống con người ngày càng cao thì
nguồn chất thải sinh hoạt ngày càng trở lên phong phú và phức tạp,hiện
tượng ô nhiễm nguồn nước ngày càng tăng. Bên cạnh đó các nguồn thải
khu công nghiệp, nhà máy cũng góp phần làm tăng quá trình phú dưỡng
hóa. Ngành chế biến sữa chứa hàm lượng N trong nước thải khoảng
500mg/l, công nghiệp chế biến thịt hộp có hàm lượng N, P cao gấp 2,3
lần công nghiệp chế biến sữa.
P a g e 19 | 35
Nguyên nhân khác là từ các dòng chảy tràn trên bề mặt, có khả
năng tích tụ nhiều chất hữu cơ và bùn đẩy nhanh sự phát triển của vi
sinh vật dưới nước làm hồ giàu dinh dưỡng.
Trong sản xuất nông nghiệp: phân bón sử dụng ngày càng nhiều
(CECR) công bố năm 2010. Hà Nội có 120 hồ, ao, đầm, thủy vực lớn
nhỏ trong 6 quận nội thành Hà Nội. Nhưng 95% các hồ bị ô nhiễm chất
hữu cơ. 71% hồ có yếu tố sinh hóa vượt quá tiêu chuẩn cho phép, trong
đó 14% hồ ô nhiễm chất hữu cơ nặng, 25% hồ ô nhiễm nặng và 32% có
dấu hiệu ô nhiễm. Vì vậy, có thể thấy rằng hồ Hà Nội đã và đang bị cơn
lốc đô thị hóa chèn ép nặng nề. Hồ nước gánh chịu nước thải sinh hoạt
và sản xuất tới mức ô nhiễm có thể nhận thấy bằng cảm quan chứ không
phải qua xét nghiệm mẫu nước trong phòng thí nghiệm. Nếu như vào
những năm 80 thế kỉ trước, nhiều người dám bơi tắm ở một số hồ nội
thành thì nay chẳng còn ai dám “liều” như vậy. Nước hồ kết nối thẳng
với các con sông nội thành giờ đã biến thành kênh thoát nước đen ngòm
và hôi thối.
Theo Sở TN & MT, tổng lượng nước thải sinh hoạt và nước thải sản
xuất công nghiệp ở khu vực nội thành khoảng 500.000 m
3
/ngày, đều tiêu
thoát qua hệ thống cống và 4 sông tiêu chính là Tô Lịch, Lừ, Sét, Kim
Ngưu. Trong khi đó theo Sở Giao thông công chính, trên địa bàn 9 quận
nội thành hiện có 110 hồ với tổng diện tích hơn 1.000 ha, nhưng mới chỉ
có vài hồ được cải tạo, kè xung quanh, tách nước thải và nước mưa riêng
P a g e 21 | 35
như Hoàn Kiếm, Thiền Quang; vài hồ đang được cải tạo như Văn
Chương, Kim Liên, Linh Quang… và dự án kè xung quanh Hồ Tây đang
ở giai đoạn cuối. [13]
Như vậy có thể thấy, để trả lại sự trong lành cho nước hồ Hà Nội cần
những giải pháp căn bản về quản lý nguồn nước rác là:
3.1.1. Tăng cường công tác kiểm tra, quản lý nguồn nước thải trước
khi vào hồ, đưa ra các chính sách quản lý phù hợp:
Để tăng cường công tác kiểm tra, quản lý nguồn nước thải trước
khi vào hồ, điều luật nước thải đô thị đề ra các mục tiêu tham vọng:
ngành, đơn vị trên địa bàn Hà Nội cần tăng cường hơn nữa công tác
tuyên truyền Luật Tài nguyên nước, tổ chức thanh tra, kiểm tra thường
xuyên và có chế tài xử lý vi phạm nhằm thực hiện tốt công tác khai thác,
bảo vệ nguồn nước, đảm bảo nước sản xuất, sinh hoạt cũng như phục vụ
các mục đích khác cho nhân dân trong thành phố Hà Nội. [14]
3.2. Biện pháp kĩ thuật:
3.2.1.Xử lý nước thải trước khi vào hồ:
1. Đổi hướng dòng nước thải và cải tạo hệ thống tiêu nước, thoát
nước cho các khu vực xung quanh hồ:
Việc đổi hướng dòng nước thải và cải tạo hệ thống tiêu nước,
thoát nước giúp giảm áp lực nước thải vào một hồ, hạn chế sự tập trung
nước thải vào hồ giúp hạn chế nguy cơ gây phú dưỡng.
2. Xử lý nước thải trước khi đổ ra hồ:
Như chúng ta đã biết, khả năng tự làm sạch các chất dinh dưỡng
của nguồn nước bị hạn chế vì vậy cần phải có những phương pháp thích
hợp để hạn chế hiện tượng phú dưỡng.
Phương pháp hiệu quả nhất là xử lí nước thải chứa các dinh dưỡng
với hàm lượng N, P lớn trước khi đổ ra nguồn nước.
Các nhà máy cần phải có hệ thông để xử lí nước thải:
+ Xử lí sơ cấp: vật thể rắn được lấy ra từ các màn chắn, chỉ loại bỏ
được 5 – 15% lượng dinh dưỡng có trong nước thải.
+ Xử lí thứ cấp: loại bỏ 30 -50% các chất dinh dưỡng, vẫn còn các
muối photphat, nitrat và amôn được thải ra sông, hồ.
P a g e 23 | 35
+ Xử lí tam cấp: cần thiết để loại bỏ phần lớn photpho co trong
nước thải, có các biện pháp xử lí hóa học, vật lí hoặc sinh học. Photphat
có thể kết tủa bằng vôi tôi, hợp chất nhôm, hoặc sắt. Kết tủa được tách ra
ở các bể lắng động. Quá trình này loại bỏ 90 – 95% lượng P. Xử lí sinh
học sử dụng khả năng một vài vi sinh vật hút P nhiều hơn nhu cầu dinh
hàm lượng P và tăng O
2
có thể hạn chế sinh trưởng của vi khuẩn lam đặc
biệt là tại các thủy vực nơi nguồn P nội tại chiếm ưu thế. Lớp nước
hypolimnion có thể được loại bỏ bằng ống oxy phông, bơm (đối với hồ)
hoặc loại bỏ chọn lọc (đối với hồ chứa). Ưu thế của phương pháp này là
giá thành tương đối thấp. Phương pháp này thường được sử dụng cho
những hồ hay hồ chứa nhỏ và sâu.
- Kết tủa và bất hoạt P: Kỹ thuật này nhằm làm giảm lượng P trong
hồ bằng cách loại P từ cột nước và làm chậm quá trình tái xuất P từ cặn
bùn bằng cách sử dụng các chất đông tụ (coagulants). Khi cho vào nước
các chất này kết tủa tạo thành các cụm (flocks), kết dính P lại và chuyển
thành dạng mà vi tảo không thể sử dụng được. Nhiều chất đông tụ có thể
gắn kết cả những phần tử nhỏ kể cả các tế bào tảo trong nước. Những
cụm kết dính này sau đó chìm xuống đáy hồ, do vậy loại P khỏi cột
nước, chúng cũng làm tăng khả năng gắn P của cặn đáy. Phương pháp
này có hiệu quả cao tại những hồ có thời gian lưu lớn, sau khi giảm thiểu
lượng P từ ngoài vào và khi lượng P trong hồ lấy chủ yếu từ nguồn cặn
đáy.
Có nhiều hợp chất hiện được sử dụng làm chất đông tụ như Al, Fe,
các muối Ca, các vật liệu từ đất sét….
- Oxy hóa cặn lắng – Riplox: Phương pháp này bao gồm xử lý bề
mặt cặn đáy bằng Ca(NO
3
)
2
, FeCl
3
và CaCO
3