LỜI NÓI ĐẦU
Trên thế giới ngày nay, nền kinh tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ ,mỗi
quốc gia cần phải chủ động tham gia khai thác lợi thế của mình trong phân
công lao động quốc tế .Do đo, xuất nhập khẩu trở thành hoạt động thương
mại cực kỳ quan trọng đối với mổi quốc gia . ở mổi nước doanh nghiệp có
rất nhiều cơ hội đễ phát triển song họ cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn ,
thách thức khi tiến hành hoạt động kinh doanh . Sự cạnh tranh mạnh mẽ từ
các doanh nghiệp trong và ngoài nước khiến cho họ luôn phải tiến hành công
tác phát triển thị trường nhằm bảo vệ thị trường truyền thống và phát triển
sang thị trường mới.
Các doanh nghiệp rất chú trọng đến công tác phát triển thị trường , song
họ vẫn còn gặp nhiều khó khăn khi thực hiện . Xác định đúng phương hướng
và giải pháp phát triển thị trường phù hợp với tình hình kinh doanh của
doanh nghiệp là điều không mấy dễ dàng . Nhưng đễ có đầy đủ nguồn lực
thực hiện kế hoạch đặt ra lại càng khó khăn hơn. Bằng nhận thức từ tình
hình thực hiện và sau một thời gian thực tập tại công ty xuất nhập khẩu
Nông sản thực phẩm Hà Nội em đã chọn đề tài “Một số biện pháp phát
triển thị trường xuất khẩu của công ty xuất nhập khẩu nông sản thực
phẩm Ha Nội ”.
Với mong muốn củng cố thêm kiến thức đã tiếp thu áp dụng vào thực tế
và góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty .
Nội dung bài viết được chia làm 3 chương:
Chương 1: Giới thiệu khái quát về công ty xuất nhập khẩu nông sản
thực phẩm Hà Nội
Chương 2: Thực trạng phát triển thị trường của công ty xuất nhập khẩu
nông sản thực phẩm Hà Nội
1
Chương3: Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển thị trường xuất
nhập khẩu tại công ty xuất nhập khẩu nông sản thực phẩm Hà Nội
Do thời gian có hạn nên chuyen đề của em vẩn còn nhiều thiếu sót . Em
rất mong nhận được nhiều ý kiến phê bình , góp ý của các thầy trong khoa
mặt hàng, có những mặt hàng đặt hàng vạn tấn, riêng gạo đạt từ 15 đến 20
vạn tấn. Về nhập khẩu thì chủ yếu là hàng viện trợ của các nước XHCN đó
là các mặt hàng về lương thực (như gạo, ngô, lúa mì, bột mì…) và thực
phẩm (đậu tương, thịt hộp, cá hộp…) của nhân dân. Do vậy mà tổng kim
ngạch nhập khẩu là một con số rất lớn 950 triệu USD.
Sau khi miền nam hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nước thì nhà
nước thực hiện cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp trong giai đoạn từ
1975 đến năm 1995. Thời gian này, tổng công ty được độc quyền trong lĩnh
vực kinh doanh XHCN hàng nông sản, nên có địa bàn hoạt động rộng lớn
trên phạm vi cả nước, đặc biệt là vùng nông nghiệp phía nam với một số
hàng lương thực, hàng nông sản chế biến.
Tổng công ty có hợp tác chặt chẽ với Bộ nông nghiệp, Bộ lương thực,
UBND của các tỉnh trong cả nước và các tổ chức ngoại thương địa phương
để ký kết hợp đồng thu mua hàng nông sản xuất khẩu như: gạo ở các tỉnh
miền Tây Nam Bộ, đậu tương ở Đông Nai, An Giang, lạc ở Nghệ An, Thanh
Hóa, Tây Ninh, Long An cùng các sản phẩm công nghiệp như rượu, bia, chè,
đường, thuốc lá…Nên tổng kim ngạch xuất khẩu đạt được trong thời kì này
là 1411,2 triệu USD, còn tổng kim ngạch nhập khẩu vẫn tăng lên và đạt
13600 triệu USD. Khối lượng nhập khẩu chủ yếu là lương thực từ Liên Xô
cũ và đường từ Cu Ba.
Trong thời kì đầu quá trình đổi mới nền kinh tế đất nước (1986 –
1990) nhiệm vụ chủ yếu trong xuất nhập khẩu của công ty vẫn là thực hiện
nghị định của nước ta và các nước XHCN như Liên Xô cũ, CHDC Đức, Ba
Lan…
4
Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là phân bón, hàng tiêu dùng như : mì
chính, các thiết bị phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và nhu cầu xã hội.
Trong thời kì này thực hiện chủ trương của nhà nước và Bộ, tổng
công ty đã giao một số mặt hàng cho đơn vị quản lý chuyên ngành.
Năm 1985 bộ phận xuất nhập khẩu lương thực chuyển sang Bộ lương
Đến năm 1995, tổng công ty xuất nhập khẩu nông sản được đổi tên
thành công ty xuất nhập khẩu nông sản thực phẩm Hà Nội
II. CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY
Trụ sở văn phòng: công ty Agrexport có trụ sở văn phòng tại số 6
Tràng Tiền – Hoàn Kiếm – Hà Nội.
Công ty Agrexport – HN thuộc sự quản lý của Nhà nước, hiện nay
trực thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn nhưng chưa được tự chủ
trong hoạt động kinh doanh.
6
Công ty có bộ máy tổ chức được thực hiện theo cơ cấu trực tuyến
chức năng nghĩa là công ty quản lý theo chế độ một thủ trưởng và các nhân
viên được nhóm vào các bộ phận phòng ban trên cơ sở sự thành thạo tay
nghề hoặc các hoạt động giống nhau.
1. Ban giám đốc
Giám đốc là người trực tiếp điều hành và chỉ đạo mọi hoạt động của
công ty.
Phó giám đốc giúp giám đốc quản lý điều hành các mảng hoạt động
mà giám đốc giao. Phó giám đốc thay mặt giám đốc quản lý điều hành các
công việc khi được giao.
Sơ đồ tổ chức bộ máy của công ty:
Ban giám đốc
Phòng tổ
chức hành
chính
Phòng tài
chính kế
toán
Phòng
công nợ
Các phòng
3. Phòng tổ chức hành chính
Phòng này có nhiệm vụ tham mưu lên giám đốc để bố trí sắp xếp bộ
máy tổ chức và công tác cán bộ của công ty, nhằm thực hiện có hiệu quả
nhiệm vụ kinh doanh của đơn vị, giúp giám đốc trong các hoạt động thanh
tra, kiểm tra và các hoạt động kinh tế của các đơn vị cơ sở thực hiện các chế
độ chính sách đào tạo bồi dưỡng về cán bộ, giúp giám đốc thực hiện các mặt
công tác bảo vệ nội bộ, an toàn cơ quan, khen thưởng, kỉ luật lao động.
8
4. Phòng kế toán tài chính
Chức năng nhiệm chủ yếu của phòng là giúp cho giám đốc quản lý chỉ
đạo điều hành, kiểm tra các hoạt động tài chính tiền tệ của công ty và các
đơn vị cơ sở. Hoạch toán hiệu quả kinh tế trong kinh doanh, cân đối giữa
vốn và nguồn, kiểm tra việc quản lý sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn nhằm
phát huy quyền chủ động trong kinh doanh và tự chủ tài chính của công ty
và cơ sở, phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hoạt động tiêu cực vi phạm
chính sách chế độ kinh tế tài chính của Nhà nước trong hoạt động kinh
doanh xuất nhập khẩu của công ty và các đơn vị trực thuộc.
5. Phòng công nợ
Phòng công nợ có chức năng xây dựng và đề xuất các phương án thu
hồi công nợ còn tồn đọng ở các địa phương trình giám đốc duyệt, đồng thời
phối hợp cùng phòng kế toán tài chính đối số nợ cũ và phòng kế hoạch thị
trường đàm phán, thương lượng với khách hàng trong nước cũng như
thương nhân ở nước ngoài nhằm giải quyết tốt công tác thanh toán công nợ,
duy trì và phát triển mối quan hệ hợp tác với các bạn hàng.
Phòng công nợ còn phối hợp với các phòng, cá nhân có liên quan,
cung cấp chứng từ cần thiết để làm sáng tỏ các chứng lý giúp công tác thanh
toán công nợ tiến hành thuận lợi.
Một chức năng nữa đó là tổng hợp các báo cáo định kì về tình hình
thu hồi công nợ và thanh toán công nợ cho lãnh đạo, công ty, cũng như cho
cơ quan quản lý chức năng cấp trên biết để có sự chỉ đạo sâu sắc triệt để
Bảng :giá trị xuất nhập khẩu năm 2000 – 2004
Đơn vị tính: nghìn USD
chỉ
tiêu/năm
Tổng giá
trị XNK
Giá trị xuất khẩu giá trị nhập khẩu kế hoạch
(%)
Số lượng tỉ trọng
(%)
số lượng Tỉ trọng
(%)
2000 20.224 9.157 45,28 11.067 54,72 118,26
2001 24.202 15.055 62,20 9.148 37,80 100,8
2002 14.475 3.004 20,75 11.471 79,25 96.49
2003 14.132 3.065 21,69 11.067 78,31 94,20
2004 14.030 4.347 30,98 9.683 69,02 144,8
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy quy mô xuất nhập khẩu của công ty
trong thời kì 2000- 2004 có nhiều biến động. Trong hai năm đầu của thơi kì,
lượng hàng xuất khẩu chiếm tỉ lệ cao so với lượng hàng nhập khẩu. Nó phản
ánh mặt hàng xuất khẩu của công ty rất đa dạng. nguyên nhân là công ty đã
mở thêm nhà máy Bắc Giang với hai day chuyền sản xuất mới. Cụ thể là:
Năm 2000 giá trị xuất khẩu đa đạt 9.157.321USD chiếm 45,28% tổng
giá trị xuất nhập khẩu gần đủi kịp được giá trị nhập khẩu là 54,72%.
Năm 2001 công ty lại có con số đột biến với tổng giá trị xuất nhập
khẩu cao nhất là 24.202.522 và giá trị xuất khẩu lại cao hơn giá trị nhập
khẩu, nó chiếm 62,20% so với giá trị nhậplà37,8% đó là do hàng xuất
khẩu Trung Quốc chiếm tỉ trọng lớn. tuy kim ngạch xuất khẩu cao hơn kế
hoạch (trong đó có hàng năm 2000chuyển qua) nhưng lợi nhuận chưa cao
11
chôm chôm, nhãn các loại, vải thiều.Tuy nhiên, hai năm gần đây mặt hàng
này không được chú trọng. Số lượng ý zĩ cũng được xuất đều và khá cao qua
ba năm. Tuy nhiên mặt hàng này đã không được xuất khẩu qua hai năm gần
đây trong đó có cả lạc nhân, vừng, hàng thực phẩm. Ngoài ra còn có rất
nhiều mặt hàng nông sản khác được xuất khẩu nhưng không đều và số lượng
không lớn như : bột sắn, ngô, hành củ…Điều này được thể hiện ở bảng sau:
Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản
Năm
Mặt hàng
Đơn vị 2000 2001 2002 2003 2004
Lạc nhân Tấn 1.373 36 23
ý zĩ Tấn 420 779 735
Hàng thực phẩm USD 25.212
Vừng Tấn 435 607
Hoa quả tươi các loại Tấn 2400 2.114 136
2.1.2. Nhóm hàng lâm sản xuất khẩu
Trong giai đoạn 2000 – 2004 thì cao su là mặt hàng chiếm tỉ trọng
xuất khẩu lớn nhất. Đặc biệt là xuất khẩu đều đặn và khá cao chiếm 60% so
với tổng kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên trong hai năm gần đây sản lượng
13
cao su đã giảm mạnh cụ thể là sản lượng giảm từ 960 tấn vào năm 2003
xuống 272 tấn vào năm 2004. Nguyên nhân là do thị trường cao su thế giới
cuối năm 2003 và năm 2004 có nhiều biến động.
Chè, quế, hoa hồi, hạt điều cũng là các mặt hàng xuất khẩu lớn sau
cao su. Trung bình hàng năm chiếm khoảng 40% so với kim ngạch xuất
khẩu lâm sản. Các thị trường xuất khẩu chính của các mặt hàng lâm sản là
Trung Quốc, Hàn Quốc, ấn Độ, Đài Loan, Hồng Kông, Đức, Philipin…Đó
cũng là các mặt hàng xuất khẩu truyền thống của công ty.
Ngoài các mặt hàng nông lâm sản xuất khẩu truyền thống công ty còn
xuất khẩu một vài mặt hàng thuỷ sản như: cá mực khô, bột tôm khô,cá cơm
1.238.265
Rượu các
loại
USD 308.799 23.563.300 43.209.577 333.476
Ô tô Chiếc 28 14 9
Dầu bơ Tấn 46 370
Van nước Tấn 29.342 15.840
Lúa mì Tấn 15.115 3.542 2300
Hiện nay do xu hướng phát triển của các ngành sản xuất, chế biến, xây
dựng, giao thông vận tải, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, công ty đã
đa dạng hóa các mặt hàng nhập khẩu như: men bia, ô tô, hóa chất… Kể từ
năm 2000 – 2004 do đời sống được nâng cao nên nhu cầu dùng rượu bia
ngày càng nâng cao, công ty đã nhập men bia và rượu tương đối lớn.
Năm 2002 men bia đạt số lượng nhập khẩu kỉ lục với 8549 tấn chiếm
60% và năm 2003 là 7515 tấn chiếm 36% so với kim ngạch nhập khẩu tư
liệu sản xuất của năm. Còn rượu các loại năm 2001 đạt 23.563.300 đến năm
2003 đạt 43.209.577 tương ứng 56%.
Ngoài các nhóm hàng vật liệu sản xuất và tiêu dùng công ty còn nhập
các hàng khác như: sữa, lúa mì, ô tô…
CHƯƠNG 2
15
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CỦA CÔNG
TY XUẤT NHẬP KHẨU NÔNG SẢN THỰC PHẨM HÀ NỘI
I.CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CỦA CÔNG
TY
1.ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài
Các nhân tố bên ngoài có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh
xuất nhập khẩu của công ty. Nó quyết định giá các sản phẩm của công ty
tăng hay giảm, lượng hàng sản xuất thấp hay cao, tiêu thụ nhanh hay
chậm… Là công ty hoạt động trong lĩnh vực xuấtnhập khẩu nên thường phải
tác đọng mạnh mẽ đến khả năng cạnh tranh của congo ty. Hiện nay coong ty
chưa có nhiều bạn hàng nội ngoại vững chắc , tin tưởng để xuất khẩu các
mặt hàng chủ lực, các bạn hàng tự klàm lấy ngày một nhiều hơn. Vì vậy,
việc thay đổi công nghệ là yếu tố mà công ty cần hết sức chú ý. Bởi, có năng
cao kĩ thuật công nghệ mới có khả năng cạnh tranh với các nước bạn, mới có
được vị thế tót trên thương trường.
Thứ tư, yếu tố thuộc môi trường kinh tế quốc dân đó là nhân tố luật
pháp và quản lí nhà nước về kinh tế. Quản lí nhà nước về kinhtế là nhân tố
tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh của công ty. Trước đây , trong cơ
chế nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, công ty không chịu nhiều ảnh hưởng
mấy. Nhưng ngày nay, cơ chế của nhà nước được mở rộng nên các đơn vị
kinh doanh tham gia trựoc tiếp nhiều hơn, ngày càng có nhiều công ty mới
ra đời nên việc cạnh tranh trở nên ngày càng gay gắt hơn. Là một công ty
nhà nước nên công ty càng phải chú ý đến hoạt động kinh doanh của mình
17
nhiều hơn, bởi hiện nay nhà nước đang ráo riết tổ chức cổ phần hoá các
doanh nghiệp nhà nước, ngoài ra sẽ thi hành chính sách bán, hoặc cho thuê
những doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả. Vì vậy hành năm công ty phải
có những chiến lược phù hợp với tình hình kinh tế, các hoạt động cụ thể đẻ
nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty .
Thư năm,nhân tố văn hoá xã hội cũng co ảnh hưởng rất lớn đến hoạt
động xuất nhập khẩu của công ty. Các vấn đề về phong tục tập quán,lối sống
,trình độ dân trí, tôn giáo ,tín ngửỡng… có ảnh hưởng sâu sắc đến cơ cấu của
cầu trên thị trường.Để chiếm được nhiều thị phần trên thế giới,công ty cần
hết sức chú trọng đến yếu tố này.Bởi nó có quyết định công ty có xuất khẩu
được nhiều mặt hàng haykhông,lượng hàng tiêu thụ của công ty tăng hay
giảm…
Thứ sáu,đó là các yếu tố tự nhiên,nó bao gồm các nguồn lực tài nguyên
thiên nhiên có thể khai thác được,các điều kiện về địa lý nhu địa hình đất đai
,thời tiết, khí hậu... Các nhân tố này quyết định đến chất lượng cũng như sản
giá tính hiệu quả của cơ cấu tổ chức thông qua các chỉ tiêu: Tốc độ ra quyết
định, tính kịp thời và độ chính xác của các quyết định...
2.3.Tình hình tài chính của công ty
19
Tình hình tài chính của công ty tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả
kinh doanh trong mọi giai đoạn phát triển của công ty.Đối với
AGREXPORT-HN ngoài vốn do ngân sách nhà nước,cong ty còn phải huy
động rất nhiều vốn ở các nơi khác mới có thể trang trải cho hoạt động kinh
doanh của công ty .trong năm qua các dự án như nhà máy Bắc Giang ,liên
doanh OPERA chiếm nhiều thời gian cả tiền vốn của công ty (trong khi chưa
giải ngân được phải mươn vốn của công ty )nhưng chưa hiệu quả hoặc
không khởi công được.Ngoài ra ,các khoản nợ cũ để lại còn nhiều phức
tạp .Tuy nhiên,công ty vẫn bảo đảm đủ vốn cho kinh doanh và cho sản xuất
của nhà máy ,xí nghiệp và bảo toàn được vốn quy định ,không bị mất hay
chiếm dụng vốn ,đảm bảo khâu thanh toán nội ngoại không sai xót ,mặc dù
có lô hàng tới vài tỉ đồng.Một số vấn đề về hoàn thuế VAT hàng đi Trung
Quốc đến nay vẫn đang tiếp tục Dược giải quyết .Nói chung hoạt đọng tài
chính là hoạt đọng rất phức tạp .Vì vậy công ty cần phải xem xét một cách kĩ
lưỡng tất cả các khoản trong kinh doanh, tính toán được khả năng thanh toán
và khả năng dòi nợ... để đảm bảo cho sự phát triển của công ty.
Nói tóm lại, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh
của công ty. Có các tác nhân tố trực tiếp như: Các các nhân tố về nguồn lực,
các nhân tố tự nhiên, nhân tố văn hoá hã hội... Và cũng có nhân tố ảnh
hưởng gián tiếp như: Tình hình kinh tế chính trị trên thế giới, các quy định
quốc gia, thông lệ quốc tế tuỳ từng thời điểm cụ thể mà nó ảnh hưởng trực
tiếp hay gián tiếp đến công ty công ty phải giải quyết trước và nhan gọn
những nhân tố nào ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của mình
và đối phó tốt với các nhân tố ảnh hưởng gián tiếp tới công ty nhằm đảm bảo
và duy trì thế ổn định, phát triển lâu dài cho công ty.
II. THỊ TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA CÔNG
các nước Châu á khác như :Hồng Kông, Trung Quốc , Đoài Loan ,Hàn Quốc
, Nhật Bản….và thị trường Mỹ .
Bảng: thị trường xuất khẩu của công ty
Đơn vị : Nghìn USD
Thị
trường/năm
2000 2001 2002 2003 2004
1. Nhật 202 503 642 9 226
2. Trung quốc 6.844 12.121 877 199
3.hàn quốc 121 42 295
4.Đức 138 147 562 43
5. Mỹ 1.793 3.571
6. Hồng kông 54 489 768 490
7. Nga 122 207
8. ấn độ 234 412 276 36
9. Đài Loan 872 358 33 285
10. Lào 69 144 61 302 227
11. Singapore 57 112
12.úc 24 12
13. Philipine 399
14. Bỉ 175 27 10
15. Indonesia 85 165
Qua bảng trên ta thấy công ty mặc dù có quan hệ với nhiều nước trên thế
giới, nhưng không phải lúc nào công ty cũng giữ được kim ngạch xuất nhập
khẩu với các thị trường truyền thống như Indonesia. Trước đây Indonesia là
thị trường có tiềm năng phát triển các mặt hàng nông sản xuất khẩu như lạc
nhân , nhưng do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ mà Indonesia là
nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất nên kim ngạch xuất khẩu sang nước
này rất thấp và không đều như trước đây. Ngoài ra còn một lượng nhỏ xuất
khẩu sang Singapore và Philipine
năm gàn đây hoạt động kinh doanh củacông ty co phần thay đổi . Công ty
đang cố gắng mở rộng ngày càng lớn danh mục các mặt hàng tiêu thụ ở các
thị trường khác nhau .
Chúng ta có thể thấy việc điều tra và nghiên cứu và phát triển thị
trường sản phẩm , chính sách giá cả và khuyếch trương sản phẩm của công
ty qua nhưng năm gàn đây .
1. công tác điều tra và nghiên cứu thị trường .
hiện nay , công ty có phòng kế hoạch thị trường có nhiệm vụ bảo đảm lên kế
hoạch , nghiên cứu thị trường , thực hiện các hoạt động đối ngoại ,
Marketing có cố vấn sản xuất hàng nông sản trong nước , đưa ra các dự báo
về tình hình hàng xuất khẩu và mức giá trong thời gian tới . Từ nhận định đó
, các phòng xuất nhập khẩu có cơ sở tiến hành giao dịch , buôn bán và đề ra
các phương án kinh doanh phù hợp . TRong công tác nghiên cứu thị trường
nước ngoài các thông tin vè thị trường được phòng tổng hợp phân tích từ
báo cáo chuyên nghành kinh tế , nông nghiệp ... các văn bản pháp quy của
nhà nước , và từ nguồn thông tin nội bộ của công ty .
2. Công tác phát triển sản phẩm .
phương thức hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu thường là kí kết
hợp đồng bán hàng với khách rồi mới thu mua . Vì thế dù đã hoạt động lâu
năm trong lĩnh vực xuất nhập khẩu song công ty đã không được người nước
ngoài biêt đến , nên rất khó khăn trong việc tạo dựng thị trường . Hiện nay
danh mục hàng xuất khẩu của công ty còn nhỏ , độ đa dạng của chủng loại
hàng thấp . Các mặt hàng có kim nghạch xuất khẩu cao trong 5 năm qua vẫn
chỉ là : Lạc , Hoa hồi , chè với mõi loai đạt từ 300.000 - 700.000 USD .
24
Nhận thức được sự phát triển sản phẩm . Công ty đang nghiên cứu khả năng
nhằm phát triển sản phẩm . Công ty đang nghiên cứu khả năng nhằm phát
triển sản phẩm , tăng độ đa dạng của từng chủng hàng đầu tư vào sản xuất
các sản phẩm chế biến .
3. Chính sách gía cả .