So sánh 3 chỉ số tỷ lệ biết chữ ở người lớn, tỷ lệ đi học đại học, tỷ lệ người thoả mãn với chất lượng giáo dục giữa việt nam với singapore - Pdf 23

MỤC LỤC TRANG
LỜI NÓI ĐẦU…………………………………………………………… …6
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu………………………………… … 6
2. Mục đích nghiên cứu……………………………………………………….7
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……………………………………….…7
4. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………… 8
5. Kết cấu của tiểu luận:………………………………………………………8
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT HỆ THỐNG GIÁO DỤC VIỆT NAM VÀ
HỆ THỐNG GIÁO DỤC SINGAPORE………………………………… 9
1.1. Khái quát hệ thống giáo dục Việt Nam………………………………… 9
1.1.1. Cơ cấu hệ thống - Mạng lưới nhà trường …………………….…9
1.1.2. Giáo dục mầm non và việc thực hiện quyền trẻ em……….… 11
1.1.3. Giáo dục tiểu học………………………………………… ….12
1.1.4. Giáo dục trung học……………………………………………. 15
1.1.5. Giáo dục nghề nghiệp - trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề 16
1.1.6. Giáo dục đại học……………………………………………….18
1.1.7. Giáo dục thường xuyên……………………………… ………19
1.2. Khái quát hệ thống giáo dục Singapore…………………………………21
1.2.1. Giáo dục tiểu học………………………………………………22
1.2.2. Giáo dục trung học…………………………………………… 22
1.2.3. Giáo dục sau trung học và giáo dục đại học……………………22
CHƯƠNG 2. SO SÁNH 3 CHỈ SỐ (TỶ LỆ BIẾT CHỮ Ở NGƯỜI LỚN, TỶ
LỆ ĐI HỌC ĐẠI HỌC, TỶ LỆ NGƯỜI THOẢ MÃN VỚI CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC) NĂM 2013 GIỮA VIỆT NAM VỚI SINGAPORE
2.1. Bảng số liệu và biểu đồ so sánh 3 chỉ số (tỷ lệ biết chữ ở người lớn, tỷ lệ đi
học đại học, tỷ lệ người thoả mãn với chất lượng giáo dục) năm 2013 giữa Việt
Nam với Singapore…………………………………………………… 25
2.2. Nhận xét…………………………………………………………………27
CHƯƠNG 3. NHỮNG NHẬN XÉT VỀ ƯU NHƯỢC ĐIỂM VÀ PHƯƠNG
HƯỚNG PHẤN ĐẦU CỦA VIỆT NAM………………… …31
3.1. Những thành tựu đã đạt được của giáo dục Việt Nam trong những năm

Xếp hạng 3 chỉ số (tỷ lệ biết chữ ở người lớn, tỷ lệ
đi học đại học, tỷ lệ người thoả mãn với chất lượng
giáo dục) năm 2013 giữa Việt Nam với Singapore.
27
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Giáo dục so sánh (Comparative Education) là một lĩnh vực nghiên cứu
tập hợp của nhiều môn học khác nhau.

thẩm định, đánh giá nền giáo dục
của các nước đã phát triển cũng như đang phát
triển, đồng thời
đánh giá vai
trò của nền giáo dục ấy với sự phát triển của cả cá nhân và đất nước.

cũng
nghiên cứu các hệ thống giáo dục và thẩm định các giá trị xã hội ảnh hưởng
đến
hệ
thống giáo dục đó như thế nào. Giáo dục so sánh đề cập đến vai trò,
mục tiêu của một nền giáo dục

hiệu quả của nó đối với xã hội. Đặc biệt khi
nghiên cứu, chú ý nhiều tới các chính
sách
và hoạch định cộng đồng của một
nền giáo
dục.
Phát triển Giáo dục so sánh là một đòi hỏi cấp bách đối với giáo dục Việt
Nam. Việc nghiên cứu so sánh sẽ làm cho những nghiên cứu về giáo dục trong

Ở Việt Nam, chưa lúc nào chất lượng giáo dục lại được đặt ra như một
nhu cầu bức
thiết
như hiện nay. Đổi mới là con đường duy nhất để giáo dục
phát triển và phát triển
bền vững.
Xuất phát từ những yêu cầu trên sau khi học xong môn Giáo dục so sánh
em đã chọn đề tài nghiên cứu: “So sánh 3 chỉ số (tỷ lệ biết chữ ở người lớn, tỷ lệ
đi học đại học, tỷ lệ người thoả mãn với chất lượng giáo dục) năm 2013 giữa
Việt Nam với Singapore, từ đó rút ra những nhận xét và nêu lên phương
hướng phấn đấu của Việt Nam”.
2. Mục đích nghiên cứu
Là một học viên cao học chuyên ngành Quản lí giáo dục, mục đích nghiên
cứu là bước đầu tìm hiểu vị trí giáo dục Việt Nam trên bản đồ Đông Nam Á. Từ
đó rút ra những nhận xét và nêu lên phương hướng phấn đấu của Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: giáo dục Việt Nam và giáo dục Singapore
- Nghiên cứu, so sánh 3 chỉ số: tỷ lệ biết chữ ở người lớn, tỷ lệ đi học đại
học, tỷ lệ người thoả mãn với chất lượng giáo dục.
- Phạm vi nghiên cứu: Với xu hướng thu hẹp phạm vi của so sánh giáo dục
chuyển từ quốc tế sang quốc nội, giải quyết những hạn chế vướng mắc của nền
giáo dục Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng lý luận về giáo dục so sánh, quản lý giáo dục trên lĩnh vực
GD-ĐT và sử dụng phương pháp thống kê chọn mẫu, phương pháp phân tích
đánh giá trên biểu đồ, phương pháp so sánh tổng hợp.
Tiểu luận đã sử dụng các số liệu đã được thầy giáo Nguyễn Tiến Đạt cung
cấp, gồm:
Bảng 2. So sánh tỷ lệ biết chữ người lớn ALR (Adult Literacy Rate)
Bảng 5: So sánh tỷ lệ đi học đại học TEGER (Tertiary Education Gross

xuyên”. [1] Như vậy, giáo dục thường xuyên vừa có thể hiểu như một phương
thức giáo dục, vừa có thể xem là một tiểu hệ thống/phân hệ của hệ thống giáo dục
quốc dân.
- Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:
a) Giáo dục mầm non, có nhà trẻ và mẫu giáo;
b) Giáo dục phổ thông, có 3 cấp học: tiểu học (từ lớp 1 đến lớp 5), trung
học cơ sở (từ lớp 6 đến lớp 9), trung học phổ thông (từ lớp 10 đến lớp 12);
c) Giáo dục nghề nghiệp, gồm 3 trình độ đào tạo: sơ cấp, trung cấp (trung
cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề), cao đẳng;
d) Giáo dục đại học, gồm 4 trình độ đào tạo: cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến
sĩ.
* Về mạng lưới trường/ lớp, theo nguyên tắc phân bố trường gần dân, đến
nay trên các địa bàn dân cư đều có các cơ sở giáo dục. Cụ thể là:
- Mỗi xã, phường hoặc thị trấn đều có ít nhất một cơ sở giáo dục mầm non,
một trường tiểu học, một trường trung học cơ sở hoặc một trường liên cấp tiểu
học và trung học cơ sở (hình thức này chỉ có ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn); phần lớn các xã có trung tâm học tập cộng đồng.
- Mỗi quận, huyện, thị xã hoặc thành phố thuộc tỉnh đã có một hoặc một số
trường trung học phổ thông, có một trung tâm giáo dục thường xuyên của huyện.
Các thị xã, các quận và nhiều huyện đã có trung tâm kỹ thuật tổng hợp-hướng
nghiệp. Các huyện miền núi, hải đảo đều có một trường trung học cơ sở nội trú
dành cho học sinh dân tộc thiểu số và trường phổ thông có nhiều cấp học.
- Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều có một trường trung học
phổ thông chuyên dành cho học sinh xuất sắc trong việc học tập một trong các
các môn học, có trường trung cấp hoặc/và một trường cao đẳng (junior college),
một trung tâm giáo dục thường xuyên của tỉnh. Các tỉnh miền núi và các tỉnh có
nhiều huyện miền núi đều có trường trung học phổ thông nội trú dành cho học
sinh dân tộc thiểu số. Một số tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương còn có
trường năng khiếu nghệ thuật, trường năng khiếu thể dục-thể thao và trường dành
cho người khuyết tật, tàn tật.

đường tư thục. Các trường này được hưởng các chính sách ưu đãi như được giao
hoặc cho thuê đất, được giao hoặc cho thuê cơ sở vật chất, được hưởng ưu đãi về
thuế và tín dụng.
Về quy mô giáo dục mầm non, trong năm học 2007-2008, cả nước có
3.057.718 trẻ em được bố mẹ gửi vào 11.620 cơ sở giáo dục mầm non; trong đó
có 5.678 cơ sở giáo dục mầm non công lập tiếp nhận 1.336.824 trẻ em, 5.942 cơ
sở giáo dục mầm non ngoài công lập tiếp nhận 1.720.894 trẻ em.
* Mục tiêu phát triển của giáo dục mầm non đến 2015 là:
- Nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ em trước 6 tuổi. Giảm tỷ lệ
suy dinh dưỡng của trẻ em trong các cơ sở giáo dục tiền học đường xuống dưới
15%.
- Mở rộng hệ thống nhà trẻ, trường mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư, đặc
biệt ở nông thôn và vùng khó khăn để hệ thống này có thể thu hút 18% trẻ em
dưới 3 tuổi, 67% trẻ em trẻ em từ 3 đến 5 tuổi. Phổ cập trẻ 5 tuổi, tích cực thu hút
95% - 100% trẻ 5 tuổi đến trường để chuẩn bị cho các em có kỹ năng vào học lớp
một.
- Tăng cường các hoạt động phổ biến kiến thức, tuyên truyền và tư vấn cho
các bậc ông bà, cha mẹ về nuôi dạy trẻ em theo khoa học.
1.1.3. Giáo dục tiểu học
Cấp tiểu học gồm 5 lớp, thu nhận trẻ em từ 6 tuổi. Như vậy, nếu trẻ
không lưu ban, bỏ học thì đến 11 tuổi sẽ tốt nghiệp tiểu học.
Mục tiêu giáo dục của cấp tiểu học là giúp học sinh hình thành những cơ sở
ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ
và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học lên cấp trung học cơ sở. Trong
chương trình tiểu học hiện hành, ở lớp 1, lớp 2 và lớp 3 có 6 môn học là: Tiếng Việt,
Toán, Tự nhiên và xã hội, Đạo đức, Thể dục, Nghệ thuật (Mỹ thuật, Âm Nhạc);
trong đó, chỉ có Tiếng Việt và Toán có sách giáo khoa (để học sinh sử dụng), bốn
môn còn lại có tài liệu hướng dẫn giảng dạy (để giáo viên sử dụng); ở lớp 4 và lớp 5
có 7 môn học là: Tiếng Việt, Toán, Lịch sử và Địa lý, Khoa học, Đạo đức, Thể dục,
Nghệ thuật; trong đó, bốn môn có sách giáo khoa là Tiếng Việt, Toán, Lịch sử và

Trung học phổ thông gồm 3 lớp (từ lớp 10 đến lớp 12). Mục tiêu giáo dục
của cấp trung học phổ thông là giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả
của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết
thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá
nhân để lựa chọn hướng phát triển, hoặc học lên đại học, cao đẳng, hoặc học
nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
Năm học 2007-2008, cả nước có 10.491 trường trung học cơ sở với
5.791.229 học sinh; trong đó, số trường công lập là 10.458 với 5.791.229 học
sinh và số trường ngoài công lập là 33 với 68.297 học sinh. Cũng trong năm học
này, số trường trung học phổ thông là 2.476 với 3.070.023 học sinh; trong đó, số
trường công lập là 1.826 với 2.238.141 học sinh và số trường ngoài công lập là
831.882 học sinh.
Tại các tỉnh có đông người dân tộc thiểu số (tỉnh miền núi và tỉnh có huyện
miền núi) trong các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông có một số
trường nội trú. Theo thống kê năm 2005, tổng số trường nội trú dành cho con em
dân tộc thiểu số là 325; trong đó có 11 trường dân tộc nội trú trung ương với
4.400 học sinh; 48 trường tỉnh (trung học phổ thông) với khoảng 20 nghìn học
sinh; và 266 trường huyện (trung học cơ sở) với khoảng 60 nghìn học sinh.
Triển khai chương trình phân ban ở trung học phổ thông là một nội
dung đổi mới quan trọng ở giáo dục phổ thông. Từ năm học 2006-2007, cấp
trung học phổ thông có ba ban: (i) Ban cơ bản, (ii) Ban khoa học tự nhiên,
(iii) Ban khoa học xã hội và nhân văn. Chương trình của cả ba ban đều gồm
các môn học: Văn học, Lịch sử, Địa lý, Toán học, Vật lý, Hoá học, Ngoại
ngữ, Chính trị và Giáo dục công dân, Thể dục thể thao Yêu cầu của ban cơ
bản chính là chuẩn kiến thức và kỹ năng (nghĩa là yêu cầu tối thiểu cần
thiết) đối với tất cả các môn học thuộc chương trình của cấp học. Yêu cầu
của Ban khoa học tự nhiên là nâng cao đối với bốn bộ môn: Toán, Vật lý,
Hoá học và Sinh học. Yêu cầu của ban khoa học xã hội và nhân văn là nâng
cao đối với bốn bộ môn: Văn học, Lịch sử, Địa lý và Ngoại ngữ.
Đối với một trường, việc giảng dạy, học tập theo mấy ban, là ban nào

xuất ngũ. Về các trường trung học chuyên nghiệp (thuộc quyền quản lý của Bộ
Giáo dục và Đào tạo), mặc dầu nhiều trường mạnh lần lượt chuyển thành trường
cao đẳng nhưng trong 5 năm (từ 2001 đến 2005) tổng số các trường trung học
chuyên nghiệp vẫn tăng. Cụ thể, năm học 2001 có 253 trường đến năm học 2005
có 285 trường, với 283.335 học sinh. Trong đó, có 238 trường công lập và 47
trường tư thục; có trường thuộc các bộ và có trường thuộc địa phương, mỗi tỉnh
trung bình có từ 3 đến 5 trường (trừ 3 tỉnh mới thành lập).
* Mục tiêu phát triển của giáo dục nghề nghiệp đến năm 2015 là:
- Thiết lập hệ thống đào tạo nghề nghiệp thực hành đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội, chú trọng đào tạo nghề ngắn hạn và đào tạo công nhân lành
1
nghề, đội ngũ kỹ thuật viên và cán bộ chuyên môn ở trình độ cao đẳng từ những
người tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề.
- Thu hút 30% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào học các trường
trung cấp và 10% học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông vào học các cao đẳng
nghề.
1.1.6. Giáo dục đại học
Giáo dục đại học đào tạo bốn trình độ: cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến
sĩ. Cụ thể:
- Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ 2-3 năm, đối với người
tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp
nghề; 1-2 năm đối với người tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành;
- Đào tạo trình độ đại học được thực hiện từ 4-6 năm đối với người tốt
nghiệp trung học phổ thông hoặc trung cấp; từ 2
1
/
2
- 4 năm đối với người tốt
nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành; từ 1
1

giáo dục đại học, đặc biệt là áp dụng công nghệ thông tin và truyền thông; hình
thành trung tâm dữ liệu quốc gia về đào tạo và nghiên cứu khoa học, và hệ thống
thư viện điện tử.
- Nâng cao rõ rệt quy mô và hiệu quả của các hoạt động khoa học công
nghệ trong các trường đại học. Các trường đại học lớn phải là các trung tâm
nghiên cứu khoa học mạnh của cả nước. Nguồn thu từ các hoạt động khoa học -
công nghệ, sản xuất và dịch vụ đạt khoảng 15% tổng nguồn thu của các trường.
Nhà nước dành hơn 1% ngân sách để các trường đại học thực hiện nhiệm vụ
nghiên cứu khoa học.
- Bảo đảm quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của nhà trường về tất cả các
mặt. Bảo đảm vai trò quản lý của nhà nước và vai trò giám sát, đánh giá của xã
hội đối với các hoạt động của nhà trường.
1.1.7. Giáo dục thường xuyên
Trong suốt một thời gian dài, nhân dân ta kiên trì tiến hành công cuộc
chống nạn mù chữ, phát triển giáo dục người lớn (lúc đầu là giáo dục bình dân,
rồi giáo dục bổ túc và ngày nay là giáo dục thường xuyên). Kết quả là hàng chục
triệu người đã thoát khỏi nạn mù chữ. Hàng triệu người, thông qua các lớp bổ túc
văn hoá và các khoá đào tạo tại chức mà tiếp tục mở mang sự hiểu biết, vươn tới
ánh sáng của tri thức.
Ngày nay, giáo dục thường xuyên có chức năng giúp mọi người vừa làm
vừa học, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao
trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm
việc làm và tự tạo việc làm, thích nghi với đời sống xã hội.
Trong phạm vi chức năng, giáo dục thường xuyên có các chương trình sau:
- Chương trình xoá mù chữ và sau xoá mù chữ;
- Chương trình giáo dục cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công
nghệ theo yêu cầu của người học;
- Chương trình đào tạo, đào tạo lại và nâng cao trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ;
- Chương trình giáo dục để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân.

- Giáo dục lấy hiệu quả làm động lực (1979-1996);
- Giáo dục lấy năng lực làm động lực (1997-2005);
- Giáo dục lấy đổi mới làm động lực (từ 2006).
Những giai đoạn khác nhau không tách rời mà tạo thành một chuỗi liên
tục, thời điểm chỉ có ý nghĩa đánh dấu cho thuận tiện.
Mục đích của nền giáo dục chính thống ở Singapore là trang bị cho thanh
thiếu niên những kỹ năng kiếm sống, có giá trị đạo đức lành mạnh, và khi trưởng
thành trở thành những con người có trách nhiệm và những công dân trung thành.
Quá trình học tập nhằm nuôi dưỡng những tố chất tốt nhất của mỗi trẻ, giúp cho
từng em phát huy tối đa tiềm năng của mình.
Hiện nay, hệ thống học tập chủ yếu là tập trung giám sát khoảng 165
trường tiểu học (trường công và trường được chính phủ hỗ trợ), 156 trường trung
học, 12 trường hỗn hợp đào tạo, 7 trường độc lập, 13 trường cao đẳng và 1
trường dự bị đại học tập trung. Giáo dục tiểu học là bắt buộc, với tất cả trẻ em từ
6 tuổi. Các em được hưởng 10 năm giáo dục miễn phí: 6 năm ở bậc tiểu học và 4
năm ở bậc trung học. Giáo dục sau trung học chuyên về học thuật được đưa vào
các trường cao đẳng và một trường dự bị đại học tập trung, trong khi đào tạo trực
tiếp chuẩn bị cho thế giới việc làm được giao cho các cơ sở và các trường đào tạo
thuộc Viện Giáo dục Kỹ thuật và 5 trường kỹ thuật bách nghệ. Hiện nay ở
Singapore có 4 trường đại học. Hệ thống trường học ở Singapore được xây dựng
nhằm khuyến khích học sinh hoàn chỉnh ít nhất 10 năm giáo dục cơ sở trước khi
bước vào thế giới việc làm.
1.2.1. Giáo dục tiểu học
Ở bậc tiểu học học sinh học qua giai đoạn cơ bản trong 4 năm, từ lớp 1 đến
lớp 4, và học qua giai đoạn định hướng trong 2 năm từ lớp 5 đến lớp 6. Để phát
huy tối đa tiềm năng của mỗi cá nhân, trước khi bước vào giai đoạn định hướng,
học sinh chính thức được sắp xếp lớp theo năng lực học tập.
1.2.2. Giáo dục trung học
Ở bậc trung học, học sinh lựa chọn 3 chương trình học (Đặc
biệt/Nhanh/Bình thường) được thiết kế phù hợp với năng lực và sở thích của mỗi

NĂM 2013 GIỮA VIỆT NAM VỚI SINGAPORE
2.1. Bảng số liệu và biểu đồ so sánh 3 chỉ số (tỷ lệ biết chữ ở người lớn,
tỷ lệ đi học đại học, tỷ lệ người thoả mãn với chất lượng giáo dục) năm 2013
giữa Việt Nam với Singapore.
Nước
Tỷ lệ biết chữ
ở người lớn ALR
(Adult Literacy
Rate)
Tỷ lệ đi học đại học
TEGER
(Tertiary Education
Gross Enrolment Ratio)
Tỷ lệ người thoả mãn
với chất lượng giáo
dục SEQ
(Satisfaction with
Education Quality)
Hạng Tỷ lệ
(%)
Hạng Tỷ lệ
(%)
Hạng Tỷ lệ
(%)
Việt Nam 59/154 93.2 91/171 22.3 15/145 80.4
Singapo 44/154 96.1 18/171 71.0 2/145 91.8
(Nguồn: Human Development Report 2013).
Bảng 2.1. Bảng số liệu so sánh 3 chỉ số (tỷ lệ biết chữ ở người lớn, tỷ lệ đi học
đại học, tỷ lệ người thoả mãn với chất lượng giáo dục) năm 2013
giữa Việt Nam với Singapore.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status