Với các tiền đề, đặc trưng quản lý giáo dục hãy vận dụng vào một trong
các chức năng quản lý hoặc vào một cách tiếp cận trong quản lý giáo dục?
Liên hệ đơn vị đang công tác (Chỉ ra những điểm khác biệt).
BÀI LÀM:
1
PHẦN I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Giáo dục là một dạng hoạt động đặc biệt có nguồn gốc từ xã hội. Bản
chất của hoạt động giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm
lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối
tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc, nhân loại được kế thừa, bổ
sung, hoàn thiện và trên cơ sở đó không ngừng phát triển.
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý tới
khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Quản lý giáo dục hay quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có
mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tất cả các thành tố của quá
trình giáo dục và đào tạo nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra.
Trong thực tế thì quản lý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có
tổ chức của các cơ quan quản lý giáo dục các cấp tới các thành tố của quá
trình dạy học – giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và
đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đã đề ra.
Quản lý giáo dục có những tiền đề và đặc trưng sau đây:
1. Những tiền đề của quản lý giáo dục
- Quản lý giáo dục là một động từ chứ không phải là một danh từ.
- Quản lý giáo dục là một khái niệm có tính tình huống cụ thể.
- Quản lý giáo dục là một quá trình đòi hỏi sự chấp nhận, tích hợp và
đồng hóa
- Để trở thành nhà quản lý giáo dục giỏi cần học cách tham gia vào các
cuộc tranh luận về mục đích và giá trị.
- Học quản lý là một quá trình tìm tòi/gợi mở (heuristic process)
- Quản lý giáo dục được thể hiện trong hành vi của người quản lý
- Quản lý giáo dục lôi cuốn sự biến đổi.
2.1. Các mục đích cụ thể, tường minh, lượng hóa của các thiết chế giáo
dục rất khó xác định rõ ràng so với việc xác định mục đích của các cơ sở
sản xuất, kinh doanh.
Trên thực tế, thật khó mà có được những "định chuẩn" rành mạch – dứt
khoát đối với hoạt động giáo dục khi so sánh với các hoạt động sản xuất kinh
doanh vì sản phẩm của quá trình giáo dục là con người. Quản lý giáo dục là
quản lý quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người. Mà con người
luôn là một thực thể đa dạng và biến đổi. Trong khi đó các cơ sở sản xuất,
kinh doanh lại luôn đặt lợi nhuận lên hàng đầu (chẳng hạn như phải đạt lợi
nhuận cao nhất, doanh thu nhiều nhất, số lượng hàng hóa đa dạng phong phú
về mẫu mã và chủng loại ). Do đó những mục đích cụ thể, tường minh,
lượng hóa của các thiết chế giáo dục, các nhà trường rất khó xác định rõ ràng
so với việc xác định mục đích của các cơ sở sản xuất, kinh doanh. Đây là một
đặc trưng rất quan trọng tạo nên sự khác biệt giữa hoạt động giáo dục với hoạt
động sản xuất kinh doanh. Điều này được thể hiện rất rõ trong việc thực hiện
chức năng kế hoạch hóa.
Chức năng kế hoạch trong quản lý giáo dục là quá trình xác định các
mục tiêu phát triển giáo dục và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực
hiện các mục tiêu đó.
Chức năng kế hoạch là chức năng đầu tiên của một quá trình quản lý.
Thông thường, trong các hoạt động giáo dục, công việc đầu tiên phải làm
trong quá trình quản lý là chức năng kế hoạch. Chức năng kế hoạch giúp cho
toàn bộ hệ thống hình dung trước được kết quả cần đạt và con đường để đạt
tới kết quả đó. Nội dung của chức năng kế hoạch thể hiện ở 4 hoạt động cơ
bản sau:
4
2.1.1. Xác định và phân tích mục tiêu quản lý giáo dục
- Từ những căn cứ để thực hiện chức năng kế hoạch, các nhà quản lý có
đủ điều kiện để xác định hệ thống mục tiêu cần thiết của từng cấp hoặc từng
cơ sở giáo dục. Hệ thống mục tiêu quản lý giáo dục này cần thể hiện rõ 2
Khó khăn
(T)
Ảnh hưởng đến hoạt động
của nhà trường
- Cơ chế chính sách pháp luật
- Kinh tế
5
- Văn hoá
- Xã hội
- Công nghệ
- Quốc tế
Qua bảng ma trận chứa 2 nhóm yếu tố nêu trên sẽ giúp cho người quản lý
xác định được 4 tình huống: MT (mạnh và thuận lợi); MK (mạnh nhưng khó
khăn); YT (yếu nhưng thuận lợi); YK (yếu và khó khăn). Từ đó có đủ cơ sở để
xác định hướng đi và biện pháp cần thực hiện tương ứng với các mục tiêu và
điều kiện cụ thể.
2.1.2. Xây dựng kế hoạch thực hiện mục tiêu
- Khi đã lựa chọn được các mục tiêu hoạt động và xác định chiến lược
hành động cho mỗi mục tiêu cụ thể, các nhà quản lý giáo dục cần tiến hành
xây dựng kế hoạch cho các hoạt động.
- Xây dựng kế hoạch (hay lập kế hoạch là thiết kế trước các bước đi,
biện pháp thực hiện cho các hoạt động tương lai để đạt được những mục tiêu
đã xác định qua việc sử dụng hợp lý (tối ưu) những nguồn lực đã có và sẽ
được khai thác.
Có nhiều loại kế hoạch khác nhau sẽ được xây dựng:
+ Nếu dựa vào yếu tố thời gian có: Kế hoạch dài hạn (5-10 năm) hay
còn gọi là kế hoạch chiến lược; kế hoạch trung hạn (3-5 năm); kế hoạch ngắn
hạn (1-2 năm hoặc ngắn hơn).
+ Dựa vào quy mô quản lý có: Kế hoạch tổng thể (kế hoạch đổi mới
lập kế hoạch phải thể hiện mối quan hệ hợp tác.
Đối với việc lập kế hoạch chiến lược trong quản lý giáo dục phải xác
định được rõ tầm nhìn, sứ mạng và các giá trị của hệ thống/tổ chức (cấp lập
7
kế hoạch chiến lược), từ đó lựa chọn các mục tiêu chiến lược và hệ thống giải
pháp hợp lý.
Trên cơ sở kế hoạch chiến lược, hệ thống/tổ chức/các bộ phận lập các
kế hoạch hành động. Kế hoạch hành động phải làm rõ các nội dung:
+ Xác định các hoạt động cơ bản và xác định thứ tự các hoạt động sẽ thực
hiện
+ Xác định các quỹ thời gian cho việc thực hiện từng hoạt động
+ Tính toán nguồn lực cần thiết cho từng hoạt động
+ Phân công trách nhiệm cho các đơn vị, cá nhân phụ trách và thực
hiện
+ Quy định cơ chế phối hợp giữa các đơn vị hoặc cá nhân
+ Xác định yêu cầu, chuẩn kiểm tra, đánh giá tương ứng với các công
việc
+ Quy định chế độ báo cáo kết quả thực hiện công việc.
Khi lập kế hoạch trong quản lý giáo dục phải đảm bảo tính tối ưu và
cân đối; tính pháp lý và hiện thực; huy động được nhiều lực lượng tham gia
vào quá trình lập kế hoạch.
2.1.3. Triển khai thực hiện kế hoạch
Việc triển khai thực hiện các kế hoạch liên quan tới việc tổ chức thực
hiện các loại kế hoạch, bao gồm:
- Tổ chức cho các lực lượng trong và ngoài đơn vị giáo dục quán triệt
được kế hoạch cần được triển khai về các vấn đề: mục tiêu cần đạt; bước đi,
biện pháp cần thực hiện; các nguồn lực được sử dụng và các chế độ chính
sách hỗ trợ…
- Xây dựng lực lượng cốt cán trong việc triển khai từng hoạt động hoặc
từng nhiệm vụ, trong đó làm rõ mối quan hệ từng bộ phận, cá nhân và cơ chế
9
- Giai đoạn kết thúc việc thực hiện kế hoạch: Sản phẩm của giai đoạn
này là kiểm tra đánh giá, tổng kết thực hiện kế hoạch, là bản báo cáo về các
kết quả đã đạt được trong đó chỉ rõ cách đo lường, đánh giá và các bài học rút
ra trong quá trình thực hiện kế hoạch và chuẩn bị cho quá trình quản lý tiếp
theo.
Theo khía cạnh nội dung của vấn đề, chức năng kế hoạch phải tính tới
quá trình thực hiện các chức năng quản lý khác và kéo dài suốt quá trình quản
lý. Do đó, tính kế hoạch phải cao hơn, triệt để hơn để đảm bảo việc đạt tới các
mục tiêu, đó cũng chính là vai trò chủ yếu của chức năng kế hoạch khởi đầu
và định hướng cho mọi hoạt động trong quá trình quản lý giáo dục.
2.2. Trong giáo dục, rất khó đo lường, đánh giá việc đạt được các mục
đích.
Trong hoạt động giáo dục việc đo lường đánh giá các mục đích, mục
tiêu giáo dục là rất khó thực hiện. Trong các tổ chức sản xuất kinh doanh có
thể dễ dàng đo lường được mức độ đạt được mục tiêu thông qua những chỉ
tiêu tài chính, doanh số bán hàng, lợi nhuận thu được Còn trong các nhà
trường có nhiều nhân tố cản trở việc đánh giá mức độ đạt được mục tiêu.
Trước đây, khẩu hiệu của giáo dục, đào tạo là: Đào tạo ra những con người
vừa hồng vừa chuyên, hoặc: Đào tạo ra những con người có đủ tài đức,
hoặc: Mục tiêu giáo dục bao gồm các mặt đức, trí, thể, mỹ, lao động Mới
đây, điều 27 Luật Giáo dục (2009) ghi rõ “1. Mục tiêu của Giáo dục phổ
thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm
mỹ và các kỹ năng cơ bản. 2. Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình
thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức,
trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học
trung học cơ sở và các cấp học trên”. Song, nếu hỏi các nhà quản lý giáo dục
và các giáo viên hiểu và giải thích về mục tiêu trên như thế nào, đặc biệt nếu
10
hỏi về các kỹ năng, kiến thức và tư duy trí tuệ học sinh cần phải đạt được là gì
Chức năng kiểm tra là một trong những chức năng quan trọng của quá
trình quản lý có nhiều vai trò trong việc giúp hoàn thành các nhiệm vụ của các
đối tượng quản lý. Kiểm tra cần thực hiện các nội dung sau:
- Xác định các tiêu chuẩn để đánh giá ;
- Đo đạc kết quả thực tế: Thu thập thông tin về đối tượng được kiểm
tra;
- So sánh kết quả đo đạc thực tế với chuẩn để phát hiện mức độ thực
hiện tốt, vừa, xấu của các đối tượng quản lý;
- Điều chỉnh. Bao gồm: tư vấn (uốn nắn, sửa chữa), thúc đẩy (phát huy
thành tích tốt), hoặc xử lý.
Quá trình kiểm tra. Quá trình kiểm tra trong quản lý giáo dục có 4 bước cơ
bản:
* Chuẩn bị kiểm tra: Chuẩn bị lực lượng kiểm tra, xây dựng kế hoạch
kiểm tra, xác định chuẩn và phương pháp đo thành tích.
Bước này đòi hỏi người quản lý phải xây dựng hoặc xác định những
chuẩn cần đạt được của các đối tượng trong từng hoạt động cụ thể của quá
trình biến đổi.
- Tiêu chuẩn kiểm tra: Là những chuẩn mực mà các cá nhân, tập thể và
đơn vị phải thực hiện để đảm bảo cho toàn đơn vị hoạt động có hiệu quả.
Các tiêu chuẩn kiểm tra rất phong phú. Vì kiểm tra là phương thức để
thực hiện kế hoạch, nên mỗi kế hoạch, chương trình và ngân sách, mỗi chính
sách, quy tắc và thủ tục đều là tiêu chuẩn đối với việc thực hiện. Tuy nhiên do
các kế hoạch có thể rất khác nhau do tính phức tạp của các hoạt động thực hiện
kế hoạch, do các nhà quản lý thường không thể quan sát được mọi thức, nên có
những tiêu chuẩn đặc biết sẽ được xây dựng tại những khu vực hoạt động thiết
yếu và những kiểm tra thiết yếu.
12
- Các dạng tiêu chuẩn kiểm tra cơ bản: Trong giáo dục có thể kể đến một
số dạng tiêu chuẩn kiểm tra cơ bản như: Mục tiêu giáo dục, mục tiêu phát triển
nhà trường, các tiêu chuẩn thực hiện chương trình dạy học; các chỉ tiêu chất
đi lặp lại bằng những công cụ hợp lý. Tần số của sự đo lường phụ thuộc vào
dạng hoạt động bị kiểm tra – ví dụ để đánh giá chất lượng của giáo viên trong
một học kỳ hay một năm học, ngoài việc kiểm tra hồ sơ dạy học của họ thì
việc dự giờ đối với một giáo viên ít nhất phải dự 3 giờ thì mới có căn cứ để
xếp loại giáo viên đó.
Vì người tiến hành giám sát, đo lường sự thực hiện với người đánh giá ra
quyết định điều chỉnh có thể khác nhau nên phải xây dựng được mối quan hệ
hợp lý giữa họ.
* Đánh giá kết quả thông tin thu thập được qua kiểm tra:
Công việc ở đây là xem xét sự phù hợp giữa kết quả đo lường so với hệ
tiêu chuẩn. Đây là bước cơ bản của quá trình kiểm tra. Bước này đòi hỏi
người quản lý phải có kỹ năng, kỹ thuật cao; đồng thời nhạy bén để có khả
năng xác định đúng đắn giá trị của từng cá nhân, tập thể trong hoạt động cụ
thể. Đối với hoạt động của con người trong giáo dục, kết quả của việc so sánh
này cho được 3 giá trị cụ thể: Có phù hợp, chưa phù hợp và không phù hợp.
* Ra quyết định điều chỉnh
Trên cơ sở các giá trị cụ thể đã được khẳng định, người quản lý đưa ra
các quyết định điều chỉnh cho phù hợp.
- Phát huy thành tích: Nếu sự thực hiện là phù hợp với các tiêu chuẩn ở
mức độ tốt, cần có sự khuyến khích động viên kịp thời, nếu đạt ở mức độ xuất
sắc có thể đề nghị khen thưởng hoặc tổng kết thành các bài học tiên tiến để
truyền bá sâu rộng trong các đối tượng tương đồng khác.
- Uốn nắn sửa chữa: Nếu kiểm tra phát hiện thấy kết quả hoạt động của
cá nhân hay tập thể so với tiêu chuẩn đạt ở mức độ vừa phải, có ít lệch lạc so với
14
chuẩn qui định (lệch lạc trong giới hạn cho phép) thì người quản lý cần tác động
tới hành vi, thái độ của những người thừa hành để họ nỗ lực cao hơn, điều chỉnh
hoạt động của mình để đạt được yêu cầu đặt ra. Trường hợp đặc biệt có thể điều
chỉnh lại các chỉ tiêu định mức trong kế hoạch, hỗ trợ các điều kiện khác để cá
nhân hay tập thể hoàn thành các nhiệm vụ cần thiết. Sau khi uốn nắn sửa chữa