giải pháp marketing nhằm mở rộng huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển việt nam – chi nhánh bắc ninh - Pdf 23

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
ĐỖ DŨNG TRÁNG
GIẢI PHÁP MARKETING NHẰM MỞ RỘNG
HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
CHI NHÁNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hà Nội 2013–
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
ĐỖ DŨNG TRÁNG
GIẢI PHÁP MARKETING NHẰM MỞ RỘNG
HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
CHI NHÁNH BẮC NINH
Chuyªn ngµnh : Tµi chÝnh - Ng©n hµng
M· sè : 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngêi híng dÉn khoa häc: NGƯT.PGS.TS NGUYỄN THỊ MINH HIỀN
Hà Nội - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Luận văn “ Giải pháp Marketing nhằm mở rộng huy động vốn tại
Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi
nhánh Bắc Ninh’’ là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, có
nguồn gốc rõ ràng xuất phát từ tình hình thực tế của cơ quan nghiên cứu.
Người thực hiện
Đỗ Dũng Tráng
MỤC LỤC

VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT
TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH BẮC NINH 34
2.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT
NAM – CHI NHÁNH BẮC NINH 34
2.1.1 Giới thiệu tổng quan về Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển
Việt Nam 34
2.1.2. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của BIDV Bắc Ninh 36
2.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư
và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Ninh 38
2.2. THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG TMCP
ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH BẮC NINH 41
2.2.1. Quy mô, tốc độ tăng trưởng và hiệu quả hoạt động huy động vốn 41
2.2.2. Đánh giá chi tiết cơ cấu nguồn vốn theo từng đối tượng khách hàng của
BIDV Bắc Ninh 43
2.3. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG MARKETING TRONG MỞ RỘNG HUY ĐỘNG
VỐN CỦA NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI
NHÁNH BẮC NINH 46
2.3.1.Thực trạng công tác phân đoạn thị trường huy động vốn 47
2.3.2. Công tác định vị và phân biệt hoá các sản phẩm huy động vốn 47
2.3.3. Duy trì chính sách lãi suất cạnh tranh 49
2.3.4. Hoạt động phát triển mạng lưới kênh phân phối, các phòng giao dịch, quỹ tiết
kiệm 51
2.3.5. Hoạt động truyền thông, quảng cáo 52
2.3.6. Hoạt động đào tạo, nâng cao trình độ marketing cho đội nhũ cán bộ, nhân sự
54
2.3.7 Thực trạng đầu tư môi trường vật chất, trang thiết bị 56
2.4. ĐÁNH GIÁ VIỆC SỬ DỤNG MARKETING TRONG CÔNG TÁC MỞ
RỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM – CHI NHÁNH BẮC NINH 57
2.4.1. Những kết quả đạt được 57

– Chi nhánh Bắc Ninh
IBMB Dịch vụ Ngân hàng trực tuyến của BIDV Việt Nam
KHCN Khách hàng cá nhân
KHDN Khách hàng doanh nghiệp
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
POS Máy thanh toán tại các quầy bán lẻ
SMS Banking Tự động thông báo giao dịch thẻ qua tin nhắn
TMCP Thương mại cổ phần
VNtopup Dịch vụ nạp tiền điện thoại trả trước
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH , SƠ ĐỒ
Tên bảng Nội dung Trang
Bảng 2.1 Bảng KQKD giai đoạn 2010 - 2012 của BIDV Bắc
Ninh
38
Bảng 2.2 Tình hình huy động vốn dân cư tại BIDV Bắc Ninh giai
đoạn 2010- 2012
42
Bảng 2.3 Huy động vốn theo kỳ hạn 43
Bảng 2.4 Huy động vốn dân cư theo loại tiền 44
Bảng 2.5 Lãi suất huy động các kì hạn của BIDV Bắc Ninh áp
dụng từ ngày 09/05/2013.
49
Bảng 2.6 So sánh lãi suất huy động bằng VNĐ của BIDV Bắc
Ninh với một số NHTM trên địa bàn
49
Bảng 2.7 Tình hình nhân sự của BIDV Bắc Ninh 53
Biểu đồ 2.1 Biểu đồ thu nhập - chi phí - lợi nhuận giai đoạn 2010 -
2012 của BIDV Bắc Ninh
38

nhiều biện pháp, biện pháp hữu hiệu nhất là sử dụng Marketing trong huy động vốn.
Trong những năm qua, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam –
Chi nhánh Bắc Ninh ( Chi nhánh) đã nhận thức được tầm quan trọng và đã triển khai
nhiều hoạt động marketing trong mở rộng huy động vốn. Những ứng dụng marketing
huy động vốn trong ngân hàng đã được nghiên cứu, triển khai dưới nhiều hình thức
1
như mở rộng hệ thống phân phối, thông tin quảng cáo, tài trợ, tiếp thị, khuyến mãi…
bước đầu đã có tác dụng tích cực đến hoạt động mở rộng huy động vốn của Chi
nhánh. Tuy nhiên, việc sử dụng marketing trong mở rộng huy động vốn của Chi
nhánh còn bộc lộ những hạn chế, bất cập, nhất là Chi nhánh chưa xây dựng được một
chiến lược marketing riêng cho đoạn thị trường huy động vốn. Chính vì vậy, Chi
nhánh chưa phát huy được tác dụng tích cực của marketing trong mở rộng nguồn vốn
của ngân hàng.
Từ thực tiễn trên, tác giả đã chọn đề tài “Giải pháp Marketing nhằm mở
rộng huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt
Nam – Chi nhánh Bắc Ninh” làm đề tài luận văn thạc sĩ.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:
Luận văn nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản sau:
- Hệ thống hóa và làm rõ thêm một số vấn đề cơ bản về sử dụng Marketing để mở
rộng huy động vốn của ngân hàng thương mại.
- Phân tích thực trạng việc sử dụng Marketing trong mở rộng huy động vốn tại
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Ninh trên 2 góc độ:
những kết quả đạt được, những hạn chế cùng các nguyên nhân.
- Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động Marketing trong
việc mở rộng huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam –
Chi nhánh Bắc Ninh.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Marketting ngân hàng là linh vực rộng lớn, Luận văn chỉ tập trung nghiên
cứu việc sử dụng Marketing trong việc mở rộng huy động vốn của ngân hàng. Lấy
thực tiễn từ hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt

ngân hàng nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, phù hợp với sự biến động
của môi trường. Trên cơ sở đó mà thực hiện các mục tiêu của ngân hàng [5, tr.14].
Quan điểm thứ hai cho rằng: Marketing ngân hàng là trạng thái tinh thần của
khách hàng mà ngân hàng phải thỏa mãn hay là việc thỏa mãn nhu cầu của khách
hàng, trên cơ sở đó, ngân hàng đạt được lợi nhuận tối ưu [5, tr.15].
Quan niệm thứ ba lại cho rằng: Marketing ngân hàng là toàn bộ quá trình tổ
chức và quản lý của một ngân hàng, từ việc phát hiện ra nhu cầu của các nhóm
khách hàng đã chọn và thỏa mãn nhu cầu của họ bằng hệ thống các chính sách, biện
pháp nhằm đạt mục tiêu lợi nhuận như dự kiến [5, tr.15].
Quan điểm thứ tư, lại khẳng định: Marketing ngân hàng là một tập hợp các
hoạt động khác nhau của chủ ngân hàng nhằm hướng mọi nguồn lực hiện có của
ngân hàng vào việc phục vụ tốt hơn nhu cầu khách hàng, trên cơ sở đó mà thực hiện
các mục tiêu của ngân hàng [5, tr.15].
Mỗi quan điểm đều xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau và
được khai thác ở những nội dung, khía cạnh khác nhau song đều có sự thống nhất
về những vấn đề cơ bản của marketing ngân hàng sau đây:
* Việc sử dụng marketing vào lĩnh vực ngân hàng phải dựa trên những
nguyên tắc, nội dung và phương châm của marketing hiện đại.
4
* Quá trình marketing ngân hàng thể hiện sự thống nhất cao độ giữa nhận
thức và hành động của các nhà ngân hàng về thị trường, nhu cầu của khách hàng và
năng lực của ngân hàng.
Do vậy, marketing ngân hàng phải hướng toàn thể nhân viên ngân hàng vào
việc tạo dựng, duy trì và phát triển mối quan hệ với khách hàng - yếu tố quyết định
sự sống còn của ngân hàng trên thị trường.
* Nhiệm vụ then chốt của marketing ngân hàng là xác định được nhu cầu,
mong muốn của khách hàng và cách thức đáp ứng nó một cách hiệu quả hơn các đối
thủ cạnh tranh.
Như vậy, có thể khẳng định, marketing là một triết lý kinh doanh, mục tiêu
hàng đầu là thỏa mãn tốt nhất nhu cầu và mong muốn khách hàng làm phương

- Tính không tách rời của sản phẩm dịch vụ ngân hàng được thể hiện trong
quá trình cung ứng sản phẩm của ngân hàng. Thực tế cho thấy, quá trình cung ứng
sản phẩm dịch vụ của ngân hàng diễn ra đồng thời với quá trình tiêu thụ. Chính điều
này đã làm cho sản phẩm dịch vụ ngân hàng không có khả năng lưu trữ. Lý do này
đòi hỏi ngân hàng phải có hệ thống, phương pháp phục vụ nhanh với nhiều quầy và
địa điểm giao dịch. Mỗi quầy phải giải quyết đầy đủ, kịp thời nhu cầu của khách
hàng, đồng thời phải luôn luôn được hoàn thiện để phù hợp với sự đòi hỏi ngày
càng cao của khách hàng.
- Hoạt động cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng còn có một đặc điểm có
liên quan chặt chẽ đến hoạt động Marketing, đó là trách nhiệm liên đới và dòng
thông tin hai chiều giữa khách hàng và ngân hàng. Trách nhiệm liên đới là trách
nhiệm không thành văn bản của ngân hàng trong quản lý tiền của khách hàng,
nhưng vẫn đòi hỏi ngân hàng và khách hàng phải có trách nhiệm với nhau trong các
giao dịch. Dòng thông tin hai chiều đòi hỏi ngân hàng và khách hàng đều phải cung
cấp cho nhau những thông tin cần thiết, đầy đủ, chính xác. Đây sẽ là căn cứ để
quyết định các giao dịch và là cơ sở của lòng tin để duy trì mối quan hệ lâu dài giữa
khách hàng và ngân hàng.
6
1.1.2.2. Marketing ngân hàng là loại hình marketing hướng nội
Thực tế cho thấy rằng, so với marketing các lĩnh vực khác, marketing ngân
hàng phức tạp hơn nhiều bởi tính đa dạng, nhạy cảm của hoạt động ngân hàng, đặc
biệt là quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng có sự tham gia đồng thời của
cả cơ sở vật chất, khách hàng và nhân viên ngân hàng. Nhân viên là yếu tố quan
trọng trong quá trình cung ứng, chuyển giao sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Họ giữ
vai trò quyết định cả về số lượng, chất lượng sản phẩm dịch vụ cung ứng và cả mối
quan hệ giữa khách hàng với ngân hàng. Chính họ đã tạo nên sự khác biệt hóa, tính
cách của sản phẩm dịch vụ ngân hàng, nâng cao giá trị thực tế của sản phẩm dịch vụ
cung ứng, tăng khả năng thu hút khách hàng và nâng cao vị thế cạnh tranh của ngân
hàng trên thị trường.
Hiện nay, các chủ ngân hàng đều tập trung vào việc đào tạo nâng cao trình

Hoạt động Marketing của NHTM bao gồm rất nhiều hoạt động cung cấp các
dịch vụ tài chính, phức tạp và thường xuyên thay đổi. Hiện nay các ngân hàng
thương mại thường tập trung hoạt động marketing vào 2 nội dung cơ bản sau:
1.1.3.1. Nghiên cứu thị trường và xác định nhu cầu, sự biến động của thị trường
Thứ nhất, nghiên cứu và xác định nhu cầu thị trường là khâu đầu tiên và
quan trọng của hoạt động Marketing ngân hàng. Qua nghiên cứu và xác định nhu
cầu của thị trường, nhà quản trị ngân hàng có thể đưa ra các giải pháp hiệu quả
trong việc xây dựng chiến lược kinh doanh, tập trung nâng cao hiệu quả marketing
ngân hàng cho đoạn thị trường mục tiêu.
Thứ hai, nghiên cứu chính sách marketing của đối thủ cạnh tranh. Hiểu rõ
chính sách marketing của đối thủ cạnh tranh giúp nhà quản trị ngân hàng xây dựng
được chiến lược cạnh tranh hiệu quả trên các đoạn thị trường.
Thứ ba, xác định mong muốn và sự thay đổi nhu cầu của khách hàng. Khách
hàng là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng bởi họ vừa tham gia
trực tiếp vào quá trình cung ứng sản phẩm ngân hàng, vừa trực tiếp sử dụng, hưởng
thụ các sản phẩm dịch vụ đó. Vì vậy, nhu cầu, mong muốn và cách thức sử dụng
8
sản phẩm dịch vụ của khách hàng sẽ là yếu tố quyết định cả về số lượng, kết cấu,
chất lượng sản phẩm và kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Xác định rõ
mong muốn và sự thay đổi nhu cầu của khách hàng là yếu tố quyết định hiệu quả
của hoạt động maketing của ngân hàng.
Thứ tư, tổ chức nghiên cứu môi trường hoạt động của ngân hàng. Khả năng
huy động vốn của ngân hàng bị tác động, chi phối bởi các yếu tố thuộc môi trường
vĩ mô và vi mô. Do đó, đòi hỏi bộ phận Marketing phải chủ động điều chỉnh các kỹ
thuật Marketing huy động vốn cho phù hợp với sự thay đổi của thị trường vốn, đây
là điều kiện đảm bảo cho hiệu quả mở rộng huy động vốn của ngân hàng. Đánh giá
nội lực của ngân hàng, bao gồm đánh giá về vốn tự có và tiềm năng phát triển của
hoạt động huy động vốn, trình độ kỹ thuật công nghệ, trình độ cán bộ quản lý và đội
ngũ nhân viên, hệ thống mạng lưới phân phối, số lượng các bộ phận và mối quan hệ
giữa các bộ phận trong hoạt động huy động vốn của ngân hàng. Các yếu tố trên

Áp dụng chính sách hớt bọt (skimming); Áp dụng chính sách thâm nhập
(penetration). Giá cả trong hoạt động ngân hàng chính là một khoản nào đó mà
khách hàng phải trả cho ngân hàng để được sử dụng các dịch vụ do ngân hàng cung
cấp. Nó được thể hiện rõ nhất ở lãi suất của ngân hàng. Đây là nhân tố thứ hai của
Marketing và là nhân tố chủ yếu xác định thu nhập của ngân hàng trên cơ sở đánh
giá các chi phí mà ngân hàng bỏ ra.
Chiến lược về xúc tiến thương mại: Thay đổi nội dung quảng cáo hoặc
khuyến mại; Thay đổi định vị cho thương hiệu; Thay đổi phương thức truyền thông;
Thay đổi cách tiếp cận…Trong môi trường hoạt động kinh doanh, ngân hàng có
một hệ thống các mối giao tiếp phức tạp: với khách hàng, với các định chế tài chính
khác nhau, với các công chúng Vì các mối quan hệ đó có các phương hướng khác
nhau và đan chéo nhau nên ngân hàng có nhiệm vụ phải tiến hành hình thành và
duy trì hình ảnh các sản phẩm cũng như tổ chức mình trong con mắt của xã hội và
khách hàng tiềm năng. Muốn vậy, ngân hàng phải tiến hành các hoạt động xúc tiến
hỗn hợp.
10
Chiến lược về kênh phân phối: Thay đổi phương thức giao hàng hoặc phân
phối; Thay đổi dịch vụ; Thay đổi kênh phân phối. Yêu cầu đối với hoạt động
Marketing ngân hàng không chỉ là việc có các sản phẩm có chất lượng đáp ứng nhu
cầu của khách hàng, không chỉ là việc xác định đúng đắn giá cả sản phẩm đó mà
còn phải phân phối các sản phẩm đó tới người tiêu dùng cuối cùng. Do đó cần phải
có hệ thống các kênh phân phối sản phẩm phù hợp với khách hàng, địa điểm và thời
gian cung ứng dịch vụ ngân hàng cũng như chất lượng phục vụ.
Chiến lược về con người: Nhân lực có đủ kiến thức, kinh nghiệm cần thiết
mà công việc đòi hỏi; Huấn luyện bổ sung để nâng cao chuyên môn về kiến thức
sản phẩm khi có sản phẩm mới; Chuẩn hoá dịch vụ khách hàng; Đánh giá năng lực
và hiệu quả công việc thông qua nhận xét của khách hàng về mức độ hài lòng.
Chiến lược về quy trình: Áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế như ISO nhằm
chuẩn hoá qui trình và tăng hiệu quả; Cải tiến, rút ngắn qui trình nhằm tạo ra tiện lợi
hơn cho khách hàng như qui trình đặt hàng, qui trình thu tiền, qui trình nhận tiền,

thuộc vào vốn đi vay: vay để cho vay, vay để đầu tư, vay để thanh toán Nguồn
vốn huy động lớn làm tăng khả năng hoạt động của ngân hàng như chủ động đa
dạng hoá các hoạt động kinh doanh nhằm phân tán rủi ro và tăng thu nhập, đạt mục
tiêu cuối cùng của ngân hàng là an toàn và sinh lợi.
Thứ tư, huy động vốn giúp ngân hàng quyết định năng lực thanh toán và đảm
bảo uy tín của mình trên thị trường. Với tiềm năng vốn và khả năng huy động vốn
lớn, ngân hàng có thể hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng tăng, tiến hành
cạnh tranh có hiệu quả; vừa giữ chữ tín vừa nâng cao thanh thế của ngân hàng trên
thị trường.
Thứ năm, huy động vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Khả
năng vốn lớn là điều kiện thuận lợi đối với ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ
tín dụng đối với các thành phần kinh tế cả về quy mô tín dụng, lẫn việc chủ động về
12
thời hạn cho vay và thậm chí trong khi quyết định lãi suất phù hợp với khách hàng.
Nguồn vốn của ngân hàng lớn sẽ giúp cho ngân hàng có đủ năng lực tài chính kinh
doanh đa năng trên thị trường không chỉ cho vay mà còn đầu tư trên thị trường tiền
tệ, liên doanh, liên kết, thực hiện dịch vụ thuê mua Và chính sự đa dạng hoá hoạt
động sẽ góp phần phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh và tạo lợi nhuận cho
ngân hàng, đặc biệt là tăng sức mạnh cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường.
Để ngân hàng tồn tại và phát triển, ngoài vốn chủ sở hữu (thường chiếm tỷ
trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn) các ngân hàng phải chú trọng tới việc tăng
trưởng nguồn vốn nghĩa là phải làm tốt công tác mở rộng huy động vốn.
1.2.2 Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại
Hiên nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, việc mở rộng hoạt động của
các ngân hàng ngày càng diễn ra mạnh mẽ. Để phục vụ cho các mục tiêu kinh
doanh của mình yêu cầu bắt buộc là các ngân hàng phải tăng cường huy động vốn.
Các hình thức nhận tiền gửi của các ngân hàng thương mại tuỳ thuộc vào các tiêu
thức khác nhau mà được chia thành từng loại khác nhau:
Phân loại theo tiêu thức kỳ hạn.
Ngày nay, người ta thường phân chia các khoản tiền gửi theo tiêu thức này

tiếp chuyển vào ngân hàng: Cá nhân gửi tiền tiết kiệm, doanh nghiệp nộp tiền bán
hàng, Đây là các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế được ngân hàng
tập trung lại. Các cá nhân và tổ chức thường gửi tiền với mục đích và kỳ hạn khác
nhau. Cá nhân gửi tiền thường với mục đích là để hưởng lãi, các doanh nghiệp
thường là để sử dụng các dịch vụ của ngân hàng.
- Tín dụng tạo tiền gửi: Đây cũng là một hình thức nhận tiền gửi, khi ngân
hàng cho khách hàng vay tiền thì ngân hàng chuyển số tiền này vào tài khoản tiền
gửi của khách hàng ngay trong ngân hàng. Khi khách hàng chưa có nhu cầu rút tiền
ngay lập tức thì ngân hàng có thể sử dụng số tiền đó mặc dù với thời hạn rất ngắn.
Phân loại theo tiêu thức mục đích sử dụng.
14
- Tiền gửi tiết kiệm: Phần lớn là các khoản ký gửi của các cá nhân với mục
đích là tìm kiếm một khoản thu nhập. Thường thì mỗi khoản tiền gửi tiết kiệm có
khối lượng nhỏ, thời hạn ngắn. Những người gửi tiền tiết kiệm là những đối tượng
giảm chi tiêu trong hiện tại với hy vọng là sẽ tăng được chi tiêu trong tương lai.
- Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: Loại hình này khá phổ biến ở các nước
phát triển, thường được sử dụng với những hộ có thu nhập thấp và trung bình.
Người gửi để dành một khoản tiền gửi vào ngân hàng (thường là các khoản tiết
kiệm đều đặn hàng năm) với ý định tích luỹ tiền cho một mục đích nhất định. Đây
là hình thức huy động vốn trung và dài hạn khá hiệu quả, có tính ổn định, đồng thời
có tác dụng tích cực trong việc hỗ trợ cho người dân mua sắm nhà cửa, phương tiện.
- Tiền gửi thanh toán: Là khoản ký gửi của các cá nhân, tổ chức, doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh. Họ gửi tiền mục đích không phải là để hưởng thu nhập
mà là hưởng các dịch vụ của ngân hàng. Thông thường các khoản tiền gửi thanh
toán có khối lượng lớn. Do đó, khi các khoản tiền này tạm thời chưa sử dụng thì
ngân hàng có thể sử dụng vào kinh doanh.
Phân loại theo tiêu thức loại tiền gửi.
- Tiền gửi nội tệ: Đây là khoản tiền gửi quan trọng của các ngân hàng, nó
phụ thuộc vào thu nhập trong nước và chiếm tỷ trong rất lớn trong tổng lượng tiền
gửi.

khách hàng. Mỗi yếu tố trên đều tác động trực tiếp đến chất lượng quá trình cung
ứng sản phẩm huy động vốn và mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng. Bộ
phận Marketing huy động vốn của ngân hàng có nhiều biện pháp khác nhau để kết
hợp chặt chẽ giữa các yếu tố, các bộ phận, đặc biệt là khai thác lợi thế của từng yếu
tố thông qua các chiến lược phát triển công nghệ, đào tạo nhân lực và chiến lược
khách hàng phù hợp với từng ngân hàng. Do đó, Marketing huy động vốn đã góp
phần to lớn trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, tạo uy tín hình ảnh,
tăng sức cạnh tranh của ngân hàng.
Thứ ba, giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích giữa khách hàng, nhân
viên và chủ ngân hàng. Bộ phận Marketing giúp chủ ngân hàng giải quyết tốt các
16
mối quan hệ trên thông qua các hoạt động như tham gia xây dựng và điều hành
chính sách lãi suất, phí; đưa ra chế độ ưu đãi phù hợp đối với từng loại khách hàng
tiền gửi; khuyến khích nhân viên phát huy sáng kiến, cải tiến các hoạt động, thủ tục
nghiệp vụ nhằm cung cấp cho khách hàng nhiều tiện ích khi sử dụng sản phẩm huy
động vốn của ngân hàng. Bộ phận này còn tham gia vào việc xây dựng các cơ chế
chính sách có liên quan trực tiếp đến lợi ích của khách hàng, nhân viên ngân hàng
như chính sách tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp phúc lợi, dịch vụ dành cho nhân
viên; cơ chế phân phối tài chính, chính sách ưu đãi khách hàng và các mối quan hệ
giao tiếp khác…
Các mối quan hệ trên nếu được giải quyết tốt không chỉ là động lực thúc đẩy
mạnh mẽ hoạt động và kết quả hoạt động của cả ngân hàng lẫn khách hàng, mà nó
còn trở thành công cụ để duy trì và phát triển mối quan hệ bền vững giữa ngân hàng
và khách hàng qua đó giúp ngân hàng mở rộng hoạt động huy động vốn.
1.3.1.2 Marketing là cầu nối gắn kết ngân hàng với thị trường huy động vốn
Thị trường huy động vốn vừa là đối tượng phục vụ, vừa là môi trường hoạt
động của ngân hàng. Hoạt động của ngân hàng và thị trường huy động vốn có mối
quan hệ tác động hữu cơ và ảnh hưởng trực tiếp lẫn nhau. Do vậy, hiểu được nhu
cầu của thị trường để gắn kết chặt chẽ hoạt động của ngân hàng với thị trường sẽ
làm cho hoạt động huy động vốn của ngân hàng có hiệu quả cao. Điều này sẽ được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status