TRƯờNG ĐạI HọC LƯƠNG THỊ VINH
KHOA KINH Tế
o0o
KHóA LUậN TốT NGHIệP
Đề tài:
giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng
ngắn hạn tại chi nhánh ngân hàng đầu tư & phát triển yên bái - ngân hàng
đầu tư và phát triển việt nam
Giảng viên hướng dẫn : cao cù bốn
Sinh viên thực hiện : bùi thị thu trang
Lớp : tcnh - 1c - k5
nam định - 2012
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
MỤC LỤC
Đề tài: 1
nam định - 2012 1
MỤC LỤC 1
B.Đánh giá các mặt hoạt động 31
2.1.Tổng tài sản: 31
Tổng tài sản đạt 22.654 tỷ đồng, tăng 2198 tỷ đồng (tương đương tăng
10,7 % ) so với 2009. Các cơ cấu về Tài sản Nợ - Có đã được cải thiện tích
cực 31
2.2 Công tác huy động vốn: 31
a. Về quy mô, tăng trưởng: 31
3.3.3. Đối với Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam 60
Tín dụng: 61
Đề nghị các ban đầu mối phụ trách công tác Quản lý rủi ro tại H.O chủ động
hơn trong việc cảnh báo, hỗ trợ và phối hợp với chi nhánh để xử lý, phòng
ngừa rủi ro 61
Việc tuân thủ đầy đủ, đúng trình tự cấp tín dụng theo quy trình TA2 đã kéo
dài thời gian giao dịch với khách hàng. Đề nghị H.O nghiên cứu cải tiến mẫu
2.2.3 Tỷ lệ nợ, nợ xấu, thu nhập lợi nhuận 38
2.3 Tình hình tăng giảm nguồn vốn 40
2.3 Cơ cấu tín dụng 41
3.1.2 Một số chỉ tiêu kinh doanh 46
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
3
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
LỜI MỞ ĐẦ
Ngày nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới nền kinh tế
ViệtNam cũng đã phát triển nhanh chóng cùng với sự phát triển của hệ thống
ngân hàng. Trên thế giới nói chung và mỗi quốc gia nói riêng thì hệ thống
ngân hàng luôn là trung tâm thần kinh, là hệ thống tuần hoàn của toàn bộ nền
kinh tế. Nó có ảnh hưởng rất lớn đếns ự phồn vinh của quốc gia đ
Thế kỉ XXI là thế kỉ của sự mở cửa và hội nhập, đất nước chúng ta đang ngày
một đổi mới cùng với sự phát triển chung của thế giới. Trong quá trình mở cửa
chúng ta mở rộng mối quan hệ với rất nhiều nước trên thế giới. Đặc biệt vào
tháng 7/2006 nước ta đã ra nhập WTO. Đây là một cơ hội vô cùng thuận lợi cho
các NHTM có điều kiện phát triển chính mình. Trong những năm qua, hoạt động
của hệ thống NHTM Việt Nam trong đó hoạt động tín dụng đã có những đóng
góp rất tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế, kiềm chế lạm phát, huy động
đựơc nguồn vốn nhàn rỗi của các tầng lớp dân cư và tổ chức kinh tế xã hội vào
công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Trong hoạt động của các NHTM thì hoạt động tín dụng là một trong
những nghiệp vụ quan trọng đem lại tới 80% lợi nhuận kinh doanh cho các
NHTM. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt được thì hoạt động tín dụng
của NHTM cũng đã bộc lộ những yếu điểm của nó. Nền kinh tế nước ta, một
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đang trong thời kì phát triển, đang đói
vốn và rất cần vốn đầu tư của tín dụng ngân hàng, thì các NHTM lại thừa vốn,
ứ đọng vốn, bên cạnh đó cơ cấu và cơ chế cho vay của nhiều NHTM còn chưa
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
5
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
CỰ BỐN, và cán bộ phòng quan hệ khách hàng thuộc Chi nhánh ngân hàng đt
và pt Yên Bái, Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, đã giúp đỡ chỉ bảo
tận tình để em hoàn thành bài chuyên đề một cách tốt nhất.
Nam Định, tháng 5/2012
SV: Bùi Thị Thu Trang
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tín dụng ngân hàng và vai trò của tín dụng ngân hàng.
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của tín dụng ngân hàng.
1.1.1.1.Khái niệm:
Thuật ngữ tín dụng ngân hàng xuất phát từ chữ la tinh “credium” có
nghĩa là lòng tin, sự tin tưởng, sự tín nhiệm. Lòng tin ở đây không chỉ là
người đi vay mà cả người cho vay. Do đó, hiểu theo nghĩa hẹp thì tín dụng là
sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định dưới hình thức
tiền tệ hay hiện vật trong một thời gian nhất định từ người sở hữu sang người
sử dụng và khi đến hạn thì người sử dụng phải hoàn trả lại cho người sở hữu
với một lượng giá trị lớn hơn mà khoản dôi ra gọi là khoản lợi tức tín dụng.
Còn hiểu theo nghĩa rộng thì tín dụng gồm hai mặt: Huy động vốn và cho vay.
Từ đó, ta có thể khái niệm về tín dụng như sau: Tín dụng là quan hệ
vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả.
Do đó, ta có khái niệm về tín dụng ngân hàng: Tín dụng ngân hàng là
quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác với các doanh
nghiệp, các tầng lớp dân cư được thực hiện dưới hình thức vốn tín dụng bằng
tiền bao gồm tiền mặt và bút tệ.
1.1.1.2. Đặc điểm tín dụng ngân hàng:
cho khách hàng, ngân hàng thường kí với khách hàng hợp đồng chiết khấu
(cấp cho khách hàng hạn mức chiết khấu trong kì). Khi cần chiết khấu khách
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
7
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
hàng chỉ cần gửi thương phiếu lên ngân hàng xin chiết khấu. Ngân hàng sẽ
kiểm tra chất lượng thương phiếu và thực hiện chiết khấu. Do tối thiểu có hai
người cam kết trả tiền cho ngân hàng nên độ an toàn của thương phiếu tương
đối cao (Trừ trường hợp ngân hàng miễn truy đòi đối với khách hàng). Hơn
nữa ngân hàng thương mại có thể tái chiết khấu thương phiếu tại ngân hàng nhà
nước để đáp ứng nhu cầu thanh toán với chi phí thấp (vì vậy thương phiếu còn
được coi là loại tài sản có khả năng chuyển nhượng - có tính thanh khoản cao).
1.1.2.1.2. Tín dụng ngân quỹ:
- Tín dụng ứng trước: Là nghiệp vụ tín dụng được thực hiện trên cơ sở
hợp đồng tín dụng trong đó khách hàng được sử dụng một khoản mức cho vay
trong một thời hạn nhất định.
- Tín dụng thấu chi: Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng
cho phép người vay được chi trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của
mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn
này được coi là hạn mức thấu chi.
Để được thấu chi khách hàng phải làm đơn xin ngân hàng hạn mức
thấu chi và thời gian thấu chi (có thể phải trả phí cam kết cho ngân hàng).
Trong quá trình hoạt động, khách hàng có thể kí séc, lập uỷ nhiệm chi, mua
thẻ séc Vượt quá số dư tiền gửi để chi trả (song trong hạn mức thấu chi).
Khi khách hàng có tiền nhập về tài khoản tiền gửi ngân hàng sẽ thu nợ gốc và
lãi. Số lãi mà khách hàng phải trả:
Lãi suất thấu chi* thời gian thấu chi*số tiền thấu chi.
Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn linh hoạt, thủ tục đơn giản
phần lớn không có bảo đảm, có thể cấp cho cả doanh nghiệp lẫn cá nhân vài
ngày trong tháng, vài tháng trong năm dựng để trả lương, chi các khoản phải
định kỳ trong hạn mức năm hay hàng năm.
Tín dụng là khoản sinh lời chủ yếu cho NHTM song tín dụng cũng
mang lại sự rủi ro lớn, chủ yếu của NHTM. Vì vậy, để hoạt động tín dụng
trong NHTM được bảo đảm, được an toàn và cho hiệu quả cao. Thì NHTM
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
9
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
cần phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc cho vay, cho vay phải có kế
hoạch, mục đích và hiệu quả kinh tế. Tiền vay phải đảm bảo trả đúng hạn, cả
gốc và lãi.
1.1.2.3. Vai trò của tín dụng ngắn hạn.
Ngân hàng thương mại hoạt động chủ yếu là tài trợ cho khách hàng trên
cơ sở tín nhiệm (tín dụng). Hình thức tín dụng truyền thống củạ Ngân hàng
thương mại là cho vay ngắn hạn có đảm bảo bằng tài sản, giúp khách hàng
mua hàng hoá, nguyên nhiên vật liệu, sau đó mở rộng thành nhiều hình thức
khác nhau như cho vay thế chấp bằng bất động sản, bằng các chứng khoán,
bằng các giấy tờ lưu kho hoặc không cần thế chấp.
- Đối với chính ngân hàng:
Vì cho vay ngắn hạn nên vốn quay vòng nhanh, nó thích ứng với kết cấu
nguồn vốn huy động, do đó tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của
NHTM.
- Đối với khách hàng:
Đây là hoạt động tài trợ vốn lưu động thường xuyên của khách hàng không đủ
trang trải các nhu cầu về loại vốn này thì khách hàng đó phải xin vay tín dụng.
- Đối với nền kinh tế:
Có ý nghĩa lớn đối với chủ thể kinh tế và nền kinh tế.
1.2. Chất lượng tín dụng ngắn hạn.
1.2.1. Khái niệm chất lượng tín dụng ngắn hạn.
Chất lượng hoạt động tín dụng ngắn hạn là vốn vay ngân hàng đáp ứng kịp
thời đầy đủ cho doanh nghiệp và được doanh nghiệp đưa vào quá trình sản
nếu được so sánh với số liệu của toàn ngành mà cao hơn cho thấy chất lượng
của các khoản cho vay của ngân hàng còn thấp hơn so với mặt bằng chung
của toàn ngành ngân hàng, ngân hàng dựa vào đó để làm cơ sở để phân tích,
đánh giá cho những chính sách tín dụng sau này của ngân hàng.
Ngoài ra, chất lượng tín dụng ngắn hạn còn thể hiện:
- Đối với NHTM: Chất lượng tín dụng phải thể hiện ở chỉ tiêu lợi
nhuận hợp lý và gia tăng, dư nợ ngày càng tăng trưởng, tỷ lệ nợ quá hạn đảm
bảo đúng quy định và hợp lý. Nợ xấu giảm xuống
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
11
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
- Đối với khách hàng: Khách hàng là một trong những chủ thể quan
trọng tạo lên khoản vay đó có hay không có chất lượng.
- Đối với nền kinh tế: Chất lượng tín dụng phải tạo ra được các hiệu
quả xã hội, như phục vụ sản xuất kinh doanh tạo việc làm cho người lao động,
tăng thêm sản phẩm cho xã hội góp phần tăng trưởng kinh tế, thu hút tối đa
vốn nhàn rỗi trong nước, tranh thủ vốn vay nước ngoài có lợi cho nền kinh tế.
Từ những lý do trên ta có thể rút ra: Chất lượng tín dụng ngắn hạn là
một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ thích nghi của NHTM và sự thay
đổi của môi trường bên ngoài. Chất lượng tín dụng được xác định qua nhiều
yếu tố như: thu hút được khách hàng tốt, thủ tục đơn giản, thuận tiện, mức độ
an toàn của vốn tín dụng
1.2.2. Sự cần thiết nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn.
Ngân hàng là ngành dịch vụ có lịch sử tồn tại và phát triển hàng trăm
năm. Hoạt động tín dụng mang lại nguồn lợi nhuận cho ngành (chiếm 80% lợi
nhuận kinh doanh của ngân hàng). Song nó cũng chứa đựng sự rủi ro rất cao.
Trong thập kỷ 90 chúng ta đã chứng kiến một loạt các đợt khủng hoảng
ngân hàng. Có nhiều nguyên nhân gây lên song nguyên nhân chính là từ hoạt
động tín dụng của ngân hàng. Cho tới nay chưa có một ngân hàng, một quốc
gia nào dám khẳng định họ có đủ kinh nghiệm và kiến thức để thực hiện hoạt
thác ngân hàng. Đây là một yêu cầu của người gửi tiền đối với ngân hàng. Có
thể nói chính yêu cầu an toàn các khoản tiền là tiền đề cho sự ra đời của hệ
thống ngân hàng.
Cho đến nay nhu cầu này càng cấp thiết hơn. Bởi lẽ nếu ngân hàng gặp
phải tình trạng cho vay không đòi lại được tức là bị mất vốn, điều đó cũng có
nghĩa là nhà đầu tư cho ngân hàng cũng bị mất vốn đầu tư, mất mát các khoản
tiền gửi, gây thiệt hại trực tiếp cho người gửi tiền, những người đã góp phần
tạo nên nguồn vốn để ngân hàng nhờ đó mới tiến hành được cho vay sinh lợi
nhuận.
* Chất lượng tín dụng đối với xã hội.
Các ngân hàng hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận và để tối đa hoá lợi
nhuận ngân hàng đa dạng hoá các dịch vụ cung cấp cho khách hàng trong đó
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
13
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
có hoạt động tín dụng, sự phát triển của ngân hàng phụ thuộc chặt chẽ vào tốc
độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. Thông qua chính sách tín dụng
của mình, các ngân hàng đã góp phần vào sự phát triển của các ngành, các
lĩnh vực sản xuất kinh doanh và do đó tạo ra những điều kiện và công ăn việc
làm và cải thiện mức sống cho người lao động.
Ngõn hàng có đặc thù so với các ngành kinh tế khác ở chỗ hoạt động
của nó liên quan tới nhiều đối tượng ở mọi ngành nghề. Điều này tất yếu dẫn
tới việc ngân hàng có ảnh hưởng to lớn đến đời sống kinh tế xã hội.
Tóm lại, nâng cao chất lượng cho vay tín dụng ngân hàng là vấn đề vô
cùng quan trọng, không chỉ là công việc hàng đầu của mỗi ngân hàng riêng lẻ
mà là toàn bộ hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế.
Đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay các doanh nghiệp đang rất
cần nguồn vốn lớn để phát triển sản xuất theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hoá chỉ có thể tạo vốn thông qua con đường vay ngân hàng. Thế nhưng
tồn tại nghịch lý trong khi doanh nghiệp thiếu vốn thì ngân hàng lại thừa vốn
này đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng, đánh giá mức độ hiệu quả sử
dụng tài sản của nhà quản lý.
Đây là lợi nhuận mà ngân hàng thu được từ hoạt động cho vay đối với
khách hàng. Trong hoạt động cho vay phải thực hiện đựơc lãi suất dương, có
nghĩa là lãi suất đầu ra phải cao hơn lãi suất đầu vào cộng với các chi phí
nghiệp vụ ngân hàng. Ngân hàng có thể tuỳ thời gian, điều kiện kinh doanh cụ
thể để có chính sách khách hàng hợp lý, nhằm mở rộng đầu tư tín dụng thu
hút khách hàng mà vẫn đảm bảo cho hoạt động tín dụng đạt hiệu quả cao
nhất. Lợi nhuận do tín dụng mang lại chứng tỏ các khoản vay đã thu hồi được
cả gốc và lãi, đảm bảo được an toàn đồng vốn cho vay. Bằng việc so sánh các
chỉ tiêu này giữa các ngân hàng nên có thể đánh giá, xếp loại chất lượng tín
dụng của các ngân hàng.
* Chỉ tiêu nợ quá hạn.
Chỉ tiêu này có thể nói là quan trọng nhất khi xem xét chất lượng tín
dụng của một ngân hàng. Chỉ tiêu này được tính:
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
15
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
Tỷ lệ nợ quá hạn = (Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ)*100
Chỉ tiêu này phản ánh rõ nét nhất về chất lượng tín dụng ngân hàng. Nếu tỷ lệ
nợ quá hạn trên tổng dư nợ cao chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng
thấp, rủi ro cao vì với một số lớn các khoản nợ không được hoàn trả đúng hạn
thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc phân phối luồng vốn vào, ra. Với
việc không thu được nợ thì ngân hàng sẽ phải đối mặt với việc mất khả năng
thanh toán hoặc tệ hơn là phá sản. Nếu tỷ lệ nợ quá hạn thấp biểu hiện chất
lượng tín dụng ở ngân hàng cao, mức độ an toàn cao hay rủi ro thấp vì nó nói
lên trong các khoản cho vay của ngân hàng chỉ có một số ít các khoản vay
không hoàn trả đúng thời hạn.
* Chỉ tiêu tổng dư nợ.
Phản ánh doanh số cho vay của ngân hàng trong một kỳ (1 năm) bao
người nào vay tiền nếu đưa ra được yêu cầu xin vay hợp lệ, hợp pháp và lành
mạnh về kinh tế, như theo chủ trương của nhà nước.
Tóm lại hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói
riêng đạt hiệu quả cao hay thấp, rủi ro nhiều hay ít có quan hệ hữu cơ với sự
phát triển kinh tế của quốc gia.
1.2.4.2. Môi trường pháp lý.
Nhân tố pháp lý có vị trí hết sức quan trọng đối với chất lượng hoạt
động tín dụng nó tạo môi trường hành lang pháp lý cho hoạt động của ngân
hàng. Nhân tố pháp luật ở đây bao gồm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật,
tính đầy đủ, tính thống nhất của các văn bản dưới luật, đồng thời với quá trình
chấp hành luật pháp và trình độ dân trí.
Việc hoàn chỉnh cơ chế, thể lệ tín dụng của ngành đúng với luật ngân
hàng, phù hợp với thực tiễn là một điều kiện quan trọng để nâng cao chất
lượng tín dụng. Bất kì một điều khoản nào, một quy định nào chưa phù hợp
với thực tiễn đều ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng.
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
17
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
Hiện nay nước ta có nhiều bộ luật tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập chưa
sát với thực tế gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế xã hội nói chung và hoạt
động tín dụng ngân hàng nói riêng. Trong điều kiện như vậy việc vận dụng
thực thi các bộ luật đã có như thế nào để tạo được hành lang pháp lý đầy đủ
cho hoạt động ngân hàng là vấn đề có nhiều ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động
tín dụng của ngân hàng.
1.2.4.3. Về phía của khách hàng vay vốn.
Trong khi doanh nghiệp ở các ngành kinh tế khác trực tiếp sử dụng
quản lý vốn của mình thì ngân hàng sử dụng vốn của mình dưới hình thức
gián tiếp: Đó là giao vốn cho doanh nghiệp không được trực tiếp quản lý vốn
của mình mà thông qua hình thức giám sát doanh nghiệp vay vốn.
Do vậy, chất lượng tín dụng ngân hàng chịu nhiều chi phối rất lớn từ
nghiệp ở mức độ nào, đã đáp ứng được mức độ nào trong điều kiện kinh tế
hiện thời. Một doanh nghiệp trở nên hưng thịnh, phát triển trong khi một
doanh nghiệp khác bị thua lỗ, suy sụp. Sự khác biệt này có nguyên nhân chính
xuất phát từ trình độ chất lượng quản lý và đây cũng là yếu tố quyết định
khiến cho doanh nghiệp có được vay vốn ngân hàng hay không và qua đó để
đánh giá phần nào chất lượng tín dụng của ngân hàng.
Như vậy, có thể nói việc quản lý sử dụng vốn vay sao cho có hiệu quả,
đảm bảo trả nợ ngân hàng và có lợi nhuận cho người vay các doanh nghiệp có
trình độ quản lý tốt, năng lực sản xuất kinh doanh tốt, bảo tồn và phát triển
được vốn vay thì chất lượng đầu tư tín dụng của ngân hàng sẽ cao và ngược lại.
1.2.4.4. Nhân tố chủ quan của ngân hàng.
Năng lực, trình độ hiểu biết của đội ngũ cán bộ ngõn hàng trong cơ chế
thị trường có ảnh hưởng to lớn tới chất lượng món vay của ngân hàng.
Chúng ta đang đứng trước một thực trạng chung là xu thế toàn cầu hoá
nền kinh tế thế giới. Xu thế này ngày càng hình thành rõ rệt mà nét nổi bật là
nền kinh tế quốc tế thị trường đang trở thành một không gian chung cho tất cả
các nước, các thị trường tài chính mở rộng phạm vi hoạt động dường như
không biên giới, vừa tạo điều kiện có cơ hội mới cho ngân hàng vừa làm sâu
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
19
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
sắc thêm quá trình cạnh tranh, đặt ngân hàng trước những thử thách mới. Bởi
vậy nếu ngân hàng nào không nhận thức được vấn đề này, không tự đổi mới,
tìm cách tạo dựng và phát triển thế mạnh của riêng mình, có hướng đi vào
chính sách tín dụng thích hợp thì sẽ khó lòng tồn tại và phát triển trong đó
chiến lựơc con người giữ vai trò chỉ đạo.
Thực tế, cho thấy nếu ngân hàng có đội ngũ cán bộ nhanh nhạy sáng
tạo trong công việc, có tinh thần tập thể vì lợi ích của ngân hàng thì ngân
hàng đó có thể đứng vững và phát triển, ngày nay có uy tín. Trong khi đó có
những cán bộ tín dụng gian dối trong thẩm định tín dụng của ngân hàng, đánh
QĐ/TCCB của Tổng giám đốc Ngân hàng ĐT&PT VN, có trụ sở chính tại tổ
48,phường Minh Tân, đường Điện Biên, thanh phố Yên Bái. Đây là đơn vị
chủ lực trong việc xây dựng và phát triển quan hệ hợp tác với khách hàng Tập
đoàn, Tổng công ty, thực hiện phục vụ đầu tư phát triển các dự án lớn và
trọng điểm của đất nước. Trong mô hình Tổng công ty Nhà nước hạng đặc
biệt, CN ngân hàng đt và pt Yên Bái đã trưởng thành vượt bậc, đóng góp quan
trọng vào thành quả chung của toàn hệ thống BIDV. Đó là về tăng trưởng
toàn diện, chất lượng và hiệu quả kinh doanh cao. CN ngân hàng đt và pt Yên
Bái luôn chiếm tỷ trọng trên 10% về tổng tài sản và về lợi nhuận của toàn hệ
thống BIDV, đóng góp nhiều nhất vào kết quả hoạt động kinh doanh của toàn
ngành.
Nét nổi bật trong những năm đầu gắn liền với cơ chế mới về tín dụng đầu tư
và quá trình chuyển ngân hàng sang kinh doanh, CN ngân hàng đt và pt Yên
Bái đã đi đầu thử nghiệm và thực thi có hiệu quả nhiều hình thức huy động
vốn mới như: kỳ phiếu VND và USD, kỳ phiếu bảo đảm giá trị theo giá vàng,
tiết kiệm xây dựng nhà ở, trái phiếu BIDV bằng VND và USD… Cùng với
việc đẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc tế, vay hợp vốn, vay song phương, vay
tài trợ XNK…kết quả huy động vốn trong nước với sự đóng góp tích cực của
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
21
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
CN ngân hàng đt và pt Yên Bái đã giúp BIDV giải được bài toán vốn để cho
vay và kinh doanh, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp đầu tư phát triển, xây dựng
và phát triển kinh tế- xã hội, thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, ngân hàng
kinh doanh có lãi.
* Từ ngày đầu thành lập, CN ngân hàng đt và pt Yên Bái có 2 phòng và
1 tổ nghiệp vụ, chủ yếu làm nghiệp vụ cấp phát vốn ngân sách đầu tư cho các
dự án.
* Giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2000: với 167 cán bộ nhân viên, CN
ngân hàng đt và pt Yên Bái đã có 12 phòng nghiệp vụ, 1 chi nhánh khu vực, 2
2.1.1 Mô hình cơ cấu tổ chức trong ngân hàng.
Mô hình tổ chức của Chi nhánh ngân hàng dt và pt yên bái Ngân hàng
ĐT&PT Việt Nam gồm có các phòng ban, nghiệp vụ như sau:
* Phòng tài chính kế toán.
Đây là phòng tổ chức thực hiện và kiểm tra công tác kế toán chi tiết, kế
toán tổng hợp và chế độ báo cáo kế toán, theo dõi quản lý tài sản (giá trị) vốn,
quỹ, thực hiện công tác hậu kiểm, thực hiện quản lý tài chính, đề xuất tham
mưu với giám đốc Chi nhánh ngân hàng dt và pt yên bái về việc hướng dẫn
thực hiện chế độ kế toán, xây dựng chế độ quản lý tài sản, định mức và quản
lý tài chính, nộp thuế…
Các đơn vị này trực tiếp thực hiện một số hoạt động ngân hàng gồm hoạt
động huy động vốn, cấp tín dụng, thanh toán và các hoạt động khác có liên
quan trong phạm vi uỷ quyền của chi nhánh phù hợp với các quy định của
pháp luật, của BIDV.
* Phòng kế hoạch tổng hợp.
Thực hiện công tác kế hoạch tổng hợp: thu nhập thông tin phục vụ công
tác kế hoạch tổng hợp, tổ chức và thực hiện điều hành nguồn vốn, chính sách,
biện pháp, giải pháp phát triển nguồn vốn, xây dựng kế hoạch kinh doanh
dịch vụ của chi nhánh ngân hàng dt và pt yên bái , đề xuất các biện pháp, các
chính sách phát triển dịch vụ của Chi nhánh ngân hàng dt và pt yên bái; tiến
SV: Bùi Thị Thu Trang Lớp: TCNH1C-K5
23
Khóa luận tốt nghiệp Đại học Lương Thế Vinh
hành các hoạt động nghiên cứu thị trường, phân tích mức độ cạnh tranh trong
thị trường dịch vụ Ngân hàng; xây dựng chính sách Marketing, chính sách
phát triển khách hàng của chi nhánh ngân hàng dt và pt yên bái; xây dựng,
triển khai các chương trình quảng bá, xúc tiến kinh doanh các sản phẩm dịch
vụ mới
* Phòng tổ chức nhân sự.
Đề xuất, tham mưu, giúp việc Giám đốc về triển khai thực hiện công tác