LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận Văn: “Nâng cao chất lượng cho vay đối với học
sinh, sinh viên tại Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam” là công trình nghiên
cứu của riêng tôi.
Các số liệu, thông tin được sử dụng trong luận văn này là trung thực.
Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này chưa từng được công
bố tại bất kỳ công trình nào khác.
Hà Nội ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Võ Thị Lan Hương
LỜI CẢM ƠN
Để làm được luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của
các thầy cô giáo, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình trong suốt thời gian
qua.
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới TS Lê Thị
Hương Lan, người hướng dẫn luận văn, đã định hướng, giúp tôi tiếp cận
thực tiễn và tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin cảm ơn đến Quý Thầy, Cô trong Viện Đào tạo sau Đại học -
trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã trang bị cho tôi nhiều kiến thức bổ ích và
giá trị trong suốt quá trình học tập.
Sau cùng, tôi xin cảm ơn những người bạn và người thân đã tận tình
hỗ trợ, góp ý và giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành tốt nhất luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
Xin chân thành cảm ơn! 2
MỤC LỤC 3
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân 66
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI
HSSV TẠI NHCSXH VIỆT NAM 77
3.1. Định hướng phát triển của NHCSXH Việt Nam 77
3.1.1. Định hướng phát triển chung 77
3.1.2. Định hướng hoạt động tín dụng đối với HSSV của NHCSXH Việt Nam từ
nay đến năm 2017 80
3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay học sinh, sinh viên tại NHCSXH
Việt Nam 81
3.2.1. Xây dựng quy trình kiểm tra, kiểm soát vốn vay và tăng cường công tác
kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay 81
3.2.2. Nghiên cứu điều chỉnh chính sách cho vay một cách hợp lý nhằm khuyến
khích và tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu học tập của HSSV 82
3.2.3. Chuẩn hóa lại các quy trình nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng cho vay
đối với HSSV của NHCSXH 84
3.2.4. tăng cường công tác phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, Ngành, các tổ chức
chính trị - xã hội, chính quyền địa phương các cấp 85
3.2.5. củng cố và hoàn thiện Tổ Tiết kiệm và vay vốn 87
3.2.6. Tăng cường công tác đào tạo nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ, công
nhân viên và phát triển nguồn nhân lực 89
3.2.7. Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền về chính sách cho vay đối với
HSSV có hoàn cảnh khó khăn 91
3.2.8. Công tác nguồn vốn 91
3.3. Một số kiến nghị 93
3.3.1. Kiến nghị với Chính phủ, Nhà nước 93
3.3.2. Kiến nghị với NHNN 94
3.3.3. Kiến nghị với Bộ Tài chính 95
3.3.4. Kiến nghị với liên ngành Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Thông tin tuyên
truyền, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và NHCSXH 95
3.3.5. Kiến nghị với Chính quyền địa phương 96
Biểu đồ:
Biểu đồ 2.1: Quy mô tín dụng HSSV 51
Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ nợ quá hạn cho vay HSSV so với một số chương trình khác 64
Sơ đồ:
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức của NHCSXH 38
Sơ đồ 2.2: Quy trình cho vay HSSV có hoàn cảnh khó khăn 49
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
NHCSXH được thành lập năm 2003 trên cơ sở hoàn thiện mô hình tổ chức
và hoạt động của Ngân hàng phục vụ người nghèo nhằm thống nhất các nguồn lực
tài chính, thiết lập một cơ chế tài trợ phù hợp, góp phần thực hiện mục tiêu hỗ trợ
các đối tượng chính sách xã hội. Sự ra đời của NHCSXH đã tạo cơ hội cho người
nghèo và các đối tượng chính sách khác được tiếp cận với dịch vụ tín dụng Ngân
hàng, giúp các hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác có việc làm, tăng thu
nhập, cải thiện đời sống và từng bước quen dần với nền sản xuất hàng hóa.
Trong các hoạt động của NHCSXH, tín dụng là hoạt động chủ yếu và quan
trọng nhất, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản của NHCSXH. Tín dụng là
hoạt động tạo ra thu nhập chủ yếu cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro. Rủi ro tín
dụng là một trong những loại rủi ro lâu đời và quan trọng nhất mà NHCSXH cũng
như các ngân hàng khác phải đối mặt. Hậu quả của rủi ro trong hoạt động tín dụng
luôn có tác động và ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống ngân hàng nói riêng và
cả nền kinh tế xã hội nói chung. Do đó bất cứ lúc nào rủi ro tín dụng cũng luôn
mang tính thời sự và việc nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế đến mức thấp nhất
rủi ro tín dụng là vấn đề bức xúc và cần thiết đối với NHCSXH.
Trong bối cảnh Việt Nam đang ở giai đoạn phát triển kinh tế, mở cửa hội
nhập kinh tế quốc tế, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng tới sự nghiệp giáo dục, đào
tạo. Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn
dân. Trong đó, xác định đào tạo bậc đại học, cao đẳng và đào tạo nghề nghiệp với
chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của xã hội đang là vấn đề có tính quyết định đối
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, sử dụng phương pháp phân tích logic hệ thống, thống kê, so
sánh, phương pháp thực chứng dựa trên những tư liệu thực tiễn của NHCSXH để
phân tích.
2
5. Kết cấu của luận văn
Kết cấu luận văn gồm những nội dung chính sau:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chất lượng cho vay đối với học sinh,
sinh viên tại NHCSXH.
Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay đối với học sinh, sinh viên tại
NHCSXH Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay đối với học sinh, sinh
viên tại NHCSXH Việt Nam.
3
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY
ĐỐI VỚI HỌC SINH, SINH VIÊN TẠI NHCSXH
1.1. Tổng quan về NHCSXH
1.1.1. Khái niệm NHCSXH
Trên thế giới, nhiều quốc gia có NHCSXH, nhưng nhận thức về mô hình
Ngân hàng tham gia thực hiện chính sách xã hội có nhiều quan điểm khác nhau:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng: Để có thể chuyển tải vốn tới các đối tượng
thụ hưởng chính sách xã hội phải là một loại hình ngân hàng chính sách của Chính
phủ được thành lập chỉ để thực hiện các chính sách tín dụng ưu đãi dành riêng cho
mục tiêu xóa đói giảm nghèo.
- Quan điểm thứ hai cho rằng: Để có thể chuyển tải vốn tới các đối tượng thụ
hưởng chính sách xã hội, Chính phủ có thể thông qua hệ thống NHTM thuộc sở hữu
Nhà nước để thực hiện các chương trình tín dụng chỉ định của Chính phủ.
- Quan điểm thứ ba cho rằng: Người nghèo và các đối tượng chính sách xã
thời gian dài (công trình cơ sở hạ tầng, đường xá…);
- Cho vay xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế nông thôn và các khu vực
xã hội.
Các ngân hàng được thiết lập để thực hiện các chương trình tín dụng chính
sách của Chính phủ được gọi là Ngân hàng Chính sách.
Ngân hàng Chính sách được chia làm 2 loại:
- Ngân hàng Chính sách phục vụ các chính sách phát triển được gọi là Ngân
hàng Phát triển.
5
- Ngân hàng Chính sách phục vụ các chính sách xã hội được gọi là Ngân
hàng Chính sách xã hội.
Từ những phân tích trên đây có thể đưa ra khái niệm chung nhất về
NHCSXH là loại hình Ngân hàng chuyên biệt được các Chính phủ thiết lập nhằm
cung cấp các khoản cho vay ưu đãi đối với các đối tượng khách hàng, ngành nghề,
khu vực kinh tế được đặc biệt quan tâm.
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của NHCSXH
NHCSXH là đơn vị hạch toán tập trung toàn hệ thống; tự chủ về tài chính, tự
chịu trách nhiệm về hoạt động tín dụng của mình trước pháp luật; thực hiện bảo tồn
và phát triển vốn; bù đắp chi phí và rủi ro hoạt động tín dụng. NHCSXH không
tham gia bảo hiểm tiền gửi, có tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%, được miễn thuế và
các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước.
Vốn điều lệ ban đầu là 5.000.000.000.000 đồng (Năm nghìn tỷ đồng) và
được cấp bổ sung phù hợp với yêu cầu hoạt động từng thời kỳ. Hiện nay, vốn điều
lệ của NHCSXH là 7.988.000.000.000 đồng.
NHCSXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện cho vay với lãi
suất và các điều kiện ưu đãi, mục tiêu chủ yếu là xoá đói giảm nghèo. Lãi suất cho
vay của NHCSXH theo Quyết định của Chính phủ từng thời kỳ. Hiện nay, lãi suất
của các chương trình cho vay của NHCSXH từ 0,5%/ tháng đến 0,9%/ tháng.
Các mức lãi suất ưu đãi do Thủ tướng Chính phủ quyết định cho từng thời kỳ,
những tổn thất trong cho vay sau khi bù đắp bằng quĩ dự phòng, chi phí hoạt động của
chỉ dựa vào nguồn vốn này khi mới đi vào hoạt động hoặc khi gặp khó khăn trong
thanh toán.
c) Vốn do Ngân sách các địa phương hỗ trợ
Hàng năm các địa phương đều có trích từ ngân sách của mình một lượng tiền
nhất định chuyển cho NHCSXH để thực hiện các chương trình tín dụng chính sách
7
trên địa bàn. Tuy nhiên nguồn vốn này thường rất ít và phụ thuộc vào điều kiện
riêng của từng địa phương.
d) Vốn vay lãi suất thấp
- Vốn vay ODA: Là nguồn vốn của các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ
trong và ngoài nước dành cho chương trình tín dụng chính sách của Chính phủ. Vốn
từ nguồn này có khối lượng lớn, lãi suất tương đối thấp, thời gian sử dụng dài, có
thời gian ân hạn, kèm theo chuyển giao công nghệ, chuyên gia, cung cấp thông tin
và đào tạo. Tuy vậy, nguồn vốn này thường kèm theo các điều kiện kinh tế, chính trị
mà ngân hàng không dễ thực hiện, nhiều khi những điều kiện này làm cho vốn đắt
lên, hiệu quả sử dụng thấp đi.
- Vốn vay Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc Nhà nước: NHCSXH tận dụng
nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức này để vay với lãi suất ưu đãi (thường
là không phải chịu lãi suất, hoặc lãi suất rất thấp so với thị trường) phục vụ cho các
chương trình cho vay của mình.
đ) Nguồn vốn huy động và vay lãi suất thị trường
Đây là nguồn vốn huy động từ vốn tạm thời nhàn rỗi của các cá nhân và các
tổ chức trong và ngoài nước dưới các hình thức như:
- Nhận tiền gửi từ các TCTD Nhà nước: NHCSXH tập trung vận động các
TCTD Nhà nước gửi tiền vào ngân hàng dưới hình thức tiền gửi thanh toán, tiền gửi
không hưởng lãi hoặc hưởng lãi suất hợp lý.
- Vốn huy động của Tổ chức, cá nhân trên thị trường, bao gồm: tiền gửi, tiết
kiệm, đi vay các tổ chức, nhận vốn ủy thác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nước, phát hành trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng có bảo lãnh của Chính phủ…Tuy
nhiên, khối lượng nguồn vốn huy động trên thị trường của NHCSXH phụ thuộc vào
trong các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Giải quyết việc
làm là chính sách xã hội cơ bản của đất nước nhằm mục tiêu phát triển bền vững vì
con người.
9
Nhằm góp phần tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị và
nâng cao tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn, chuyển dịch cơ cấu
lao động phù hợp với cơ cấu kinh tế, bảo đảm việc làm cho người lao động có nhu
cầu làm việc, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, NHCSXH thực hiện cho
vay đối với các đối tượng thuộc diện chính sách hoặc các dự án tạo việc làm mới
cho các đối tượng này.
(iv) Các đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài
Với mục đích nhằm giải quyết việc làm tăng thu nhập, nâng cao trình độ
nghề nghiệp cho người lao động, tăng nguồn thu cho đất nước và mở rộng quan hệ
hợp tác với các nước trên thế giới, NHCSXH cho vay ưu đãi cho các đối tượng
chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài.
(v) Hộ gia đình sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn
Chính sách cho vay ưu đãi đối với vùng khó khăn đã được triển khai từ khá
lâu tại các NHTM. Tuy nhiên do chưa có một chính sách nhất quán và các biện
pháp thống nhất trong công tác triển khai nên kết quả đạt được còn hạn chế, chưa
đáp ứng được nhu cầu phát triển.
NHCSXH ra đời phân định giữa vốn tín dụng chính sách và vốn tín dụng
thương mại thì việc hỗ trợ về lãi suất của các NHTM đối với các hộ sản xuất kinh
doanh và các đơn vị kinh tế ở vùng khó khăn không còn nữa, làm cho nhiều hộ gia
đình sản xuất kinh doanh và đơn vị kinh tế rất khó khăn về tài chính. Vì vậy
NHCSXH được giao trách nhiệm triển khai thực hiện tín dụng đối với hộ gia đình
sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn.
(vi) Đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn
NHCSXH thực hiện việc cho vay vốn đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số
đặc biệt khó khăn để phát triển sản xuất, ổn định đời sống, sớm vượt qua đói nghèo.
(vii) Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và doanh nghiệp sử dụng người
chính sách của Nhà nước vì vậy NHCSXH đóng một vai trò quan trọng trong nền
kinh tế, xã hội:
Thứ nhất, là công cụ để Nhà nước thực hiện các chương trình tín dụng chính
sách. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ngày càng hoàn chỉnh thì khoảng cách giàu
nghèo càng lớn, do đó mỗi quốc gia cần phải có chính sách hợp lý để quan tâm và bảo
đảm cho vấn đề con người, an sinh xã hội cho người nghèo, vùng nghèo … đó là vấn đề
sống còn của chế độ, công bằng và tiến bộ xã hội. Với mục đích hướng sự giúp đỡ đến
các đối tượng, khu vực trên, NHCSXH đã góp phần thực hiện mục tiêu của Chính phủ vì
sự phát triển cân đối của nền kinh tế và vì một xã hội ổn định, dân giàu, nước mạnh,
được thể hiện qua việc:
- Đối với các đối tượng chính sách: Đã tạo ra một kênh tín dụng được sử
dụng một cách hiệu quả cho những đối tượng, khu vực chính sách hơn các loại hình
cấp phát vốn hỗ trợ khác do:
+ Việc chuyển tải vốn được thực hiện theo phương thức cho vay có hoàn trả
nên nguồn vốn được người sử dụng vốn tính toán hiệu quả; vốn được sử dụng quay
vòng nhiều lần, giúp nhiều người được hưởng lợi từ nguốn tín dụng ưu đãi này. Mặt
khác, người vay vốn tìm cách sử dụng vốn vào mục đích sản xuất kinh doanh, tạo ra
thu nhập để cải thiện đời sống và trả được nợ.
+ Vốn cho vay giúp người vay vốn khắc phục tư tưởng tự ti, ỷ lại, tự nâng
cao năng lực sản xuất kinh doanh của mình tạo tiền đề hòa nhập sản xuất hàng hóa.
Từng bước giúp người dân nghèo tự vươn lên, nâng cao chất lượng cuộc sống của
mình, giảm sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội.
- Đối với khu vực khó khăn, những ngành nghề, những doanh nghiệp kinh
doanh trong lĩnh vực công cộng mà bản thân hoạt động đó không có lãi nhưng lại
rất cần cho sự phát triển chung của xã hội, đòi hỏi Nhà nước phải có sự trợ giúp
thông qua việc cho vay vốn với điều kiện ưu đãi, tạo tiền đề cho các vùng kinh tế
kém phát triển do môi trường và điều kiện tự nhiên khắc nghiệt có điều kiện tiếp
12
cận với nền kinh tế thị trường, rút ngắn khoảng cách lạc hậu với các ngành, vùng
kinh tế phát triển khác.
lợi nhuận, tạo sức cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường đối với tất cả các dịch vụ mà
NHTM cung ứng.
1.1.4.2. Về đối tượng vay vốn
NHCSXH thực hiện cho vay các đối tượng khách hàng, các dự án phát triển,
các đối tượng đầu tư theo chỉ định của Chính phủ.
Đối tượng khách hàng của NHCSXH có thể là: hộ gia đình nghèo, hộ sản
xuất, doanh nghiệp vừa và nhỏ ở vùng nghèo và các đối tượng thụ hưởng chính sách
xã hội khác. Đây là những khách hàng rất ít có các điều kiện để tiếp cận với dịch vụ
tín dụng của các NHTM; là các khách hàng dễ bị tổn thương, cần có sự hỗ trợ tài
chính từ Chính phủ và cộng đồng để vươn lên tự cải thiện điều kiện sống của chính
họ.
1.1.4.3. Về nguồn vốn
Trong khi hoạt động đặc trưng của các NHTM là huy động các nguồn vốn
nhàn rỗi để cho vay đáp ứng nhu cầu vốn cho sự phát triển kinh tế, thì nguồn vốn
của NHCSXH được tạo lập theo các hình thức như:
- Cấp vốn điều lệ và hàng năm được Ngân sách Trung ương, địa phương cấp
để thực hiện các chương trình tín dụng cho các đối tượng chính sách theo vùng,
theo đối tượng.
- Nguồn vốn ODA dành cho chương trình tín dụng chính sách của Chính phủ.
- Nguồn vốn của Chính phủ vay dân dưới các hình thức phát hành trái phiếu,
công trái hoặc từ Quỹ tiết kiệm bưu điện của Chính phủ để chỉ định thực hiện
chương trình tín dụng chính sách.
Do đặc điểm cơ cấu nguồn vốn có nguồn gốc hoặc phục thuộc vào Ngân
sách Nhà nước nên khối lượng nguồn vốn của NHCSXH tăng trưởng thường được
xác định theo kế hoạch được Chính phủ phê duyệt.
1.1.4.4. Về sử dụng vốn
14
Xuất phát từ đặc thù về đối tượng khách hàng vay vốn thường là những đối
tượng dễ bị tổn thương, gặp khó khăn, sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế kém
phát triển, ít có điều kiện tiếp cận với dịch vụ tín dụng của các NHTM … nên
Đối tượng cho vay rất đa dạng từ cá nhân, doanh nghiệp đến các tổ chức.
Từ quan điểm trên, khái niệm về cho vay HSSV được tổng kết lại như sau:
Cho vay HSSV là loại hình cho vay đối với đối tượng đặc biệt là HSSV có hoàn
cảnh khó khăn. Cho vay HSSV là việc NHCSXH sử dụng các nguồn lực tài chính do
Nhà nước huy động để cho vay HSSV đang học Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên
nghiệp và học nghề vay nhằm mua sắm phương tiện học tập và các chi phí khác phục
vụ cho việc học tập tại trường.
1.2.2. Vai trò của cho vay học sinh, sinh viên
1.2.2.1. Đối với học sinh, sinh viên
- Cho vay HSSV giúp HSSV giải quyết những khó khăn trong thời gian học
tập tại trường để tiếp tục theo học, giải quyết những khó khăn cho cha mẹ HSSV
không phải đi vay nặng lãi để cho con em mình ăn học.
- Giúp HSSV xác định rõ trách nhiệm của mình trong quan hệ vay mượn,
khuyến khích người vay sử dụng vốn vào mục đích học tập tốt để sau này ra trường
có việc làm tạo thu nhập trả nợ ngân hàng.
1.2.2.2. Đối với xã hội
- Tín dụng đào tạo cho HSSV góp phần giảm tỷ lệ thất học, phục vụ cho sự
phát triển nền kinh tế tri thức, đào tạo những tài năng cho đất nước, tạo điều kiện phát
triển giáo dục đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Góp phần cân đối đào tạo cho các vùng miền và các đối tượng là người
vươn lên; giảm bớt dần sự thiếu hụt cán bộ, thu hẹp dần khoảng cách chênh lệch về
dân trí, về kinh tế giữa các vùng miền, tạo ra khả năng đáp ứng yêu cầu sự nghiệp
16
xây dựng bảo vệ đất nước trong giai đoạn mới, cải tạo đời sống của một bộ phận
HSSV, góp phần đảm bảo an ninh, trật tự, hạn chế được những mặt tiêu cực.
- Tăng cường mối quan hệ giữa Nhà trường, Ngân hàng và HSSV. Nêu
cao tinh thần tương thân tương ái giúp đỡ nhau trong sinh hoạt và học tập, tạo
niềm tin của thế hệ trí thức trẻ vào đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước.
1.2.2.3. Đối với Ngân hàng
Trong quá trình thực hiện xóa đói giảm nghèo và thực hiện mục tiêu kinh tế -
Chính vì những lý do như trên mà tín dụng Ngân hàng đối với HSSV cũng
phải theo hướng thương mại nhưng không phải là thương mại thuần túy mà phải có
lộ trình cho từng giai đoạn theo sự phát triển chung của xã hội.
Ba là, người vay vốn không phải là người trực tiếp sử dụng vốn vay.
Trong các chương trình tín dụng thông thường, người vay vốn sẽ là người
trực tiếp điều hành nhận nợ và sử dụng vốn đã vay. Khác với các chương trình tín
dụng thông thường, NHCSXH cho HSSV vay vốn thông qua hộ gia đình, người
đứng ra vay vốn và trực tiếp nhận nợ là hộ gia đình, nhưng hộ gia đình không phải
là người trực tiếp sử dụng đồng vốn đã vay, mà hộ gia đình lại chuyển số tiền vốn
vay này cho con, em mình sử dụng phục vụ cho việc học tập như nộp học phí, ăn ở,
đi lại và chi phí học tập cho HSSV trong thời gian học tập tại trường.
Người trực tiếp vay vốn và trả nợ cho ngân hàng là cha mẹ HSSV, nhưng
nguồn thu nhập chính để trả nợ là nguồn thu nhập của HSSV sau khi ra trường có
việc làm.
Tuy nhiên, đối tượng vay vốn chương trình tín dụng HSSV là những hộ
nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, vì vậy, ngoài vay vốn từ chương trình tín dụng
HSSV, các hộ gia đình còn có thể đủ điều kiện và được vay vốn để sản xuất kinh
doanh từ các chương trình tín dụng khác như chương trình cho vay hộ nghèo,
18