tiềm năng và vai trò của đmtn đối với ngân hàng thương mại việt nam - Pdf 23

Chuyên đề năm 3 Tiềm năng và vai trò của ĐMTN đối với NHTM Việt Nam
PHẦN MỞ ĐẦU
I/ Lý do chọn đề tài:
Với nền kinh tế Việt Nam đang phát triển như hiện nay, sự tồn tại và cạnh tranh
giữa các doanh nghiệp “mạnh”–“yếu” khác nhau đã buộc các doanh nghiệp phải thực
sự biết mình là ai, đứng ở vị trí nào và phải hiểu về đối thủ cạnh tranh của mình. Vậy,
ai sẽ “bắt mạch” các doanh nghiệp này để đưa ra thông tin trung thực, khách quan, góp
phần trợ giúp cho hoạt động thương mại, hợp tác và đầu tư? Lúc này, sự ra đời của
một tổ chức có thể đánh giá được khả năng hoạt động và độ tin cậy của một doanh
nghiệp là rất cần thiết. Và đó cũng chính là nhiệm vụ trọng tâm của các tổ chức Định
mức tín nhiệm (ĐMTN).
Ở Việt Nam từ trước đến nay, ngoài cơ quan Nhà nước, ít có một tổ chức nào
“dám” đánh giá uy tín của một doanh nghiệp. Đó là một thói quen bao cấp làm ảnh
hưởng không ít đến bộ mặt của nền kinh tế đất nước, là một trong những lý do khiến
các nhà đầu tư nước ngoài chưa dám đầu tư mạnh mẽ vào thị trường Việt Nam. Tất
nhiên, khi luồng vốn chạy vào trong nước ít, với thị trường vốn nội địa còn non yếu thì
hoạt động của các NHTM ở Việt Nam cũng khó lòng mà phát huy hết năng lực của nó
để phát triển mạnh mẽ và ổn định. Như vậy, tổ chức ĐMTN ra đời sẽ thúc đẩy cho sự
lưu thông và phát triển của thị trường vốn, giúp các NHTM hoạt động tốt hơn, huy
động được vốn và cho vay một cách hiệu quả nhất.
Tóm lại, việc cung cấp những thông tin tín dụng, xếp hạng và đánh giá tín
nhiệm doanh nghiệp là một công việc hết sức cần thiết. Nó gắn liền với mọi mặt hoạt
động của nền kinh tế, tài chính và xã hội, giúp xây dựng hình ảnh và độ tín nhiệm của
các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập. Chính vì thế nên khi thực hiện
chuyên đề này, em đã chọn đề tài:“Tiềm năng và vai trò của Định mức tín nhiệm
đối với hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam”. Hi vọng qua chuyên đề có thể
mang đến cho quí thầy cô và các bạn có được một cái nhìn chung về ĐMTN. Từ đó để
thấy được những tiềm năng và vị trí của ĐMTN trong nền kinh tế khi đất nước ta
chuẩn bị bước vào một giai đoạn mới: Hội nhập và phát triển.
Chuyên đề năm 3 Tiềm năng và vai trò của ĐMTN đối với NHTM Việt Nam
II/ Mục tiêu nghiên cứu:

1/ Một số khái niệm
1.1/ Định mức tín nhiệm
ĐMTN được dùng để đo lường mức độ rủi ro gắn liền với một khoảng đầu tư
nào đó. ĐMTN là việc đánh giá về khả năng của một đơn vị phát hành trong việc thực
hiện thanh toán đúng hạn một nghĩa vụ tài chính. Nghĩa vụ tài chính gồm trái phiếu,
thương phiếu, cổ phiếu, các khoảng nợ và các khoảng tiền vay ngân hàng (NH).
Có nhiều loại ĐMTN khác nhau. ĐMTN đợt phát hành trái phiếu và ĐMTN
của đơn vị phát hành. Thông thường, người ta quan tâm nhiều đến đợt phát hành vì nó
không chỉ tính tới độ tín nhiệm của đơn vị phát hành mà còn tính tới độ tín nhiệm của
những tài sản thế chấp.
Ngoài ra còn có ĐMTN trong nước hay toàn cầu. Các tổ chức ĐMTN trong
nước sẽ ĐMTN các doanh nghiệp trong nước. Trong khi đó, các tổ chức ĐMTN quốc
tế sẽ định mức những đơn vị phát hành trên toàn cầu phục vụ cho các nhà đầu tư lớn.
1.2/ Tín nhiệm doanh nghiệp (DN)
Tín nhiệm DN là ý kiến được đưa ra bởi một tổ chức ĐMTN về khả năng của
DN trong việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính. Ý kiến này tập trung vào việc đánh giá
khả năng và mong muốn của DN trong việc thực hiện cam kết tài chính khi chúng tới
hạn. Ý kiến này không nhằm cung cấp đảm bảo khả năng trả nợ của DN được xếp
hạng với bất cứ một nghĩa vụ tài chính cụ thể nào. Tín nhiệm DN có thể tăng hoặc
giảm theo khả năng mà DN có đáp ứng được nghĩa vụ tài chính của mình hay không.
2/ Công ty ĐMTN (CRA)
2.1/ Khái niệm
Công ty ĐMTN hay một tổ chức ĐMTN (còn được gọi là CRA) là công ty
chuyên cung cấp quan điểm của họ về độ tín thác của một DN trong nghĩa vụ thanh
toán tài chính.
CRA là một tổ chức đánh giá trung gian, độc lập nhằm xem xét, phân tích và
đưa ra mức định hạng tín nhiệm đối với các công ty đang tìm kiếm nguồn vốn đầu tư.
Nó cung cấp ý kiến về mức độ tin cậy của một thể nhân cũng như khả năng hoàn thành
những nghĩa vụ tài chính của thể nhân đó.
Chuyên đề năm 3 Tiềm năng và vai trò của ĐMTN đối với NHTM Việt Nam

Chuyên đề năm 3 Tiềm năng và vai trò của ĐMTN đối với NHTM Việt Nam
● Thứ ba: Mô hình công ty cổ phần có sự tham gia của các cổ đông chiến lược
nước ngoài.
Với mô hình loại này thì CRA đóng vai trò là một công ty cổ phần, trong đó
ngoài các cổ đông trong nước còn có sự tham gia của các cổ đông chiến lược nước
ngoài. Họ là những nhà đầu tư lớn, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc chuyển
giao công nghệ, đào tạo nhân sự và cử người điều hành DN. Trong mô hình này không
có sự phân biệt đối xử giữa cổ đông trong nước và nước ngoài về tỷ lệ sở hữu. Nguyên
tắc phân bổ tỷ lệ sở hữu là tùy thuộc vào vai trò của từng nhà đầu tư trong việc hình
thành sự ra đời và hoạt động của CRA.
3/ Các hình thức của ĐMTN
Kinh doanh thông tin tín nhiệm từ lâu đã không còn xa lạ trên thế giới. Hoạt
động của các tổ chức ĐMTN rất đa dạng với nhiều hình thức và dịch vụ khác nhau. Về
cơ bản, có ba loại hình dịch vụ chính:
3.1/ Cung cấp thông tin tín nhiệm DN
● Thông tin tín nhiệm DN:
Thông tin tín nhiệm là những thông tin ngắn gọn, chính xác được kiểm chứng
bởi một tổ chức ĐMTN có uy tín. Thông tin tín nhiệm nhằm đánh giá khả năng thanh
toán, mức độ tín nhiệm của một cá nhân, một DN, một nghành hoặc một quốc gia.
Thông tin tín nhiệm DN giúp các nhà quản lý ra quyết định nhanh hơn và chính xác
hơn nhằm hạn chế rủi ro trong kinh doanh.
● Cung cấp thông tin tín nhiệm DN:
Đây là một dịch vụ mà các CRA có nghĩa vụ sẽ thường xuyên ĐMTN các công
ty có yêu cầu được định mức xếp hạng nhằm phục vụ cho nhà đầu tư của công ty.
Trong suốt thời gian hiệu lực của hợp đồng, CRA sẽ luôn cập nhật thông tin, theo sát
các công ty và nghành những sự kiện có ý nghĩa hoặc những sự phát triển có ảnh
hưởng tới kết quả định mức nhằm đảm bảo quá trình ĐMTN một cách chính xác. Ít
nhất một năm một lần, CRA sẽ đánh giá lại mỗi công ty. Bất cứ lúc nào trong suốt quá
trình giám sát, CRA cũng có thể ban hành hai loại công bố:
Chuyên đề năm 3 Tiềm năng và vai trò của ĐMTN đối với NHTM Việt Nam

Khi tham gia đánh giá tín nhiệm, DN sẽ được nhận những thông tin đánh giá
độc lập, khách quan về tình hình tài chính, khả năng thanh toán nợ. Mặt khác, các DN
Chuyên đề năm 3 Tiềm năng và vai trò của ĐMTN đối với NHTM Việt Nam
còn nhận được dich vụ tư vấn tài chính, quản lý, quan hệ công chúng (PR),…Tuy
nhiên, để có thể đánh giá tín nhiệm của một DN, các CRA phải dựa trên hai chỉ tiêu là
tài chính và phi tài chính. Có hơn 100 chỉ tiêu tính điểm và các phương pháp kiểm tra
chéo phức tạp để có thể đưa tới việc xếp hạng từ AAA, AA, BB,… cho mức độ tín
nhiệm của DN.
Chỉ tiêu tài chính bao gồm các con số về vốn, vòng vay, khả năng thanh toán,
tín dụng, thua lỗ, các chỉ số tài chính,… Các chỉ tiêu phi tài chính bao gồm những
thông tin liên quan tới giám đốc, ISO, thương hiệu hoặc nhân sự, những tai tiếng, uy
tín trên thương trường,…
Những chỉ tiêu tài chính sẽ được lượng hóa, còn những chỉ tiêu phi tài chính sẽ
qua sự đánh giá bởi các chuyên gia trong ngành.
4. Tiêu chuẩn của một tổ chức ĐMTN
Các tiêu chí tối thiểu của một CRA cần phải đạt được gồm: Khách quan, độc
lập, minh bạch, công khai và chuyên nghiệp. Những tiêu chuẩn này do NH Thanh toán
quốc tế đề ra và đã được các nhà đầu tư trên thế giới thừa nhận.
Điều cần lưu ý ở đây là, tuy nhiệm vụ chính của các CRA là đánh giá mức độ
tín nhiệm của các DN, nhưng khách hàng chủ chốt của các CRA là các nhà đầu tư chứ
không phải các DN hay các nhà phát hành mặc dù họ là người trả phí dịch vụ ĐMTN.
Vì vậy mà yêu cầu đối với tổ chức này là khá khắt khe.
Đó phải là một tổ chức hoạt động với tư cách độc lập. Độc lập là mình không
chịu sức ép của bất cứ quyền lực nào, không chịu sự chi phối trong các qui định được
đưa ra bởi bất cứ một cơ quan nào, không xung đột hay có mối quan hệ lợi ích với các
tổ chức được ĐMTN. Có như vậy các đánh giá tín nhiệm mới mang tính khách quan
và đáng tin cậy. Đó cũng là nhu cầu tồn tại của bản thân các CRA.
Ngoải ra, các CRA phải có một đội ngũ chuyên gia thực sự giỏi cùng với việc
xây dựng một qui trình đánh giá khoa học, khách quan và chính xác, phù hợp với từng
điều kiện của mỗi nền kinh tế. Kết quả xếp hạng phải được thực hiện bởi một đội ngũ

Hiện nay, hoạt động của C&R cũng đã được mở rộng thông qua cổng thông tin
của trang web “Doanh nhân Việt Nam” (www.doanhnhanvietnam.com). Khi là thành
viên của website này, các DN có quyền cung cấp thông tin về mình và cũng có quyền
tiếp cận các thông tin tín nhiệm về các DN khác trên hầu hết các lĩnh vực kinh tế ở
Việt Nam và trên thế giới.
Chuyên đề năm 3 Tiềm năng và vai trò của ĐMTN đối với NHTM Việt Nam
Cho đến nay, VN mới có hai DN hoạt động trong lĩnh vực ĐMTN. Một là
Công ty Thông tin tín nhiệm và Xếp hạng DN (C&R) - được tách ra từ Công ty Giải
pháp VN năm 2004. Hai là Trung tâm đánh giá tín nhiệm Vietnamnet (Credit Ratings
Vietnamnet Center - CRVC) thuộc công ty phần mềm truyền thông VASC, vừa đi vào
hoạt động trong gần một năm qua. (Bắt đầu hoạt động chính thức từ ngày 4/6/2005).
Những dịch vụ chủ yếu của C&R là cung cấp thông tin tín nhiệm, xếp hạng tín nhiệm
DN và điều tra thị trường theo ngành kinh tế.
Trong khi đó, dù mới ra đời, CRVC cũng đã cung cấp khá nhiều dịch vụ đa
dạng liên quan đến loại hình ĐMTN. CRVC sẽ là tổ chức chuyên cung cấp cho DN
các dịch vụ thu thập thông tin; đánh giá xếp hạng; ĐMTN các tổ chức tài chính; xếp
hạng DN. Đồng thời, đơn vị này cũng nhận tư vấn, hỗ trợ DN trong việc tạo dựng uy
tín trên thị trường, xây dựng thương hiệu có sức cạnh tranh; thẩm định lại các thông
tin; xây dựng cơ sở dữ liệu về các DN, doanh nhân, từ đó phát triển dịch vụ tư vấn tài
chính, môi giới đầu tư
Đối tượng phục vụ chính của C&R và CRVC là các nhà đầu tư, các DN hay hệ
thống các NH trong nước và quốc tế. Trong quá trình xây dựng các chỉ tiêu, cả C&R
và CRV đều tham khảo đánh giá của các tổ chức định giá tín nhiệm lớn nhất trên thế
giới là Standard & Poor's, Moody's và Equifax… và xây dựng được hệ thống đánh giá
riêng, phù hợp với điều kiện của VN. Theo đó, hơn 100 chỉ tiêu tính điểm và các
phương pháp kiểm tra chéo phức tạp để có thể đưa tới việc xếp hạng từ AAA, AA,
BB cho mức độ tín nhiệm của DN.
Sau một thời gian hoạt động, dù số lượng không nhiều nhưng những hợp đồng
mà C&R nhận được cũng cho thấy các DNVN cũng bắt đầu có sự quan tâm tới lĩnh
vực này. Tính đến nay, C&R đã cung cấp rất nhiều báo cáo tín nhiệm cho các DN

đạt cao nhất gần 5%.
Chuyên đề năm 3 Tiềm năng và vai trò của ĐMTN đối với NHTM Việt Nam
Bảng 1: Tỷ lệ Vốn tự có/ Tổng tài sản có của 4 NHTM Việt Nam
ĐVT: %
Chỉ tiêu 2000 2001 2002
NH Nông nghiệp & PTNT
NH Ngoại thương
NH Đầu tư & PT
NH Công thương
4,7
1,79
2,6
2,33
3,09
1,39
1,74
1,47
4,57
3,08
3,38
3,00
Tổng 2,8 1,92 3,57
Nguồn: Đề án cơ cấu lại NHTM Nhà nước
Nhìn chung, qua bảng số liệu ta có thể thấy được tỷ lệ vốn tự có trong các
NHTM Việt Nam vẫn còn khá nhỏ bé, thậm chí trong các NHTM lớn của Việt Nam
và tỷ lệ này lại tăng giảm không đều qua các năm trong các NH Việt Nam. Cao nhất
cũng chỉ có 4,7% ở NH NN & PTNT. Nhưng tỷ lệ này cũng giảm dần trong năm tiếp
đó. Năm 2001 chỉ còn 3,09% và đến năm 2002 lại tăng trở lại với 4,57%.
Ở các NH khác cũng diễn ra với tình hình tương tự. Đặc biệt là trong năm
2001, tỷ lệ vốn tự có của các NH hầu như đều giảm đồng loạt. Đó là nguyên nhân làm

22.135
381.445
90.938
32.841
22,22
39,20
12,04
24,72
10,23
48,37
TỔNG CỘNG 329.261 140.475 505.224 24,67 23,08
Nguồn: www.sbv.gov.vn (Ngân hàng nhà nước Việt Nam)
Nhìn chung, nguồn vốn huy động từ các NHTM qua 3 năm đều tăng. Trong đó,
năm 2005 tổng vốn huy động toàn ngành đạt đến 505.224 tỷ đồng, có tốc độ tăng so
với năm 2004 là 23,08%. Nhưng tốc độ tăng của năm này lại thấp hơn tốc độ tăng của
năm 2004 so với năm 2003 là 24,67%, với số vốn huy động tăng đến 46.620 tỷ đồng.
Riêng đối với từng khối NH lại có sự chênh lệch nhau rất lớn. Nhìn về mặt
tuyệt đối, ta có thể thấy rõ số vốn huy động trong các khối NHQD là cao nhất. Trong
đó, năm 2003 là 250.238 tỷ đồng và cao nhất là vào năm 2005 đạt đến 381.445 tỷ
đồng. Kế đến là khối NHCP với số vốn huy động được cao nhất trong năm 2005 là
90.938 tỷ, thấp nhất là khối NH nước ngoài, chỉ có 32.841 tỷ trong năm 2005.
Thực tế số vốn huy động như trên là hoàn toàn hợp lý. Các NHQD vốn là các
NH thuộc Nhà nước nên có được nguồn hỗ trợ mạnh mẽ. Còn các NHCP và NH
Nước ngoài chỉ mới xuất hiện được vài năm. Nhất là các NH Nước ngoài, chỉ mới
được Nhà nước ta cho phép tham gia vào thị trường trong thời gian gần đây. Vì vậy số
vốn huy động được từ các khối NH này còn khá thấp. Nhưng nếu nhìn vào tốc độ tăng
trưởng, ta sẽ dễ dàng thấy được tiềm năng mạnh mẽ từ các NH Nước ngoài. Tốc độ
tăng của số vốn huy động qua các năm rất cao. Từ năm 2003 đến 2004 tăng 12,04%
và đến năm 2005 là 48,37%, cao nhất trong toàn ngành. Còn đối với khối các NHQD
Chuyên đề năm 3 Tiềm năng và vai trò của ĐMTN đối với NHTM Việt Nam

239.071
36.525
56.448
72
11
17
302.989
53.957
58.108
73
13
14
398.712
78.657
65.096
73,5
14,5
12
TỔNG CỘNG 332.044 100 415.054 100 542.465 100
Nguồn: www.sbv.gov.vn (Ngân hàng nhà nước Việt Nam)
Qua bảng số liệu ta có thể thấy, khối NHQD chiếm tỷ lệ dư nợ cao nhất trong
toàn ngành. Còn lại là 2 khối NHCP và NH Nước ngoài có sự đổi chỗ cho nhau qua
các năm.
Chuyên đề năm 3 Tiềm năng và vai trò của ĐMTN đối với NHTM Việt Nam
Trong năm 2003, NHQD đứng đầu về số dư nợ với 239.071 tỷ, chiếm 72%. Là
NH có vị trí cao nhất. Kế đến là khối NH Nước ngoài với 56.488 tỷ đồng, đạt 17%.
Thấp nhất là khối NHCP, chỉ cho vay được 36.525 tỷ, chiếm khoảng 11% toàn ngành.
Nhưng đến năm 2004, giữa các khối NHCP và NH Nước ngoài lại có sự thay
đổi lớn. Trong khi tỷ lệ dư nợ trong các NH Nước ngoài bắt đầu giảm xuống chỉ còn
chiếm 14% thì các NHCP lại tăng lên đến 13% với số dư nợ 53.957 tỷ. Như vậy,

chênh lệch về tỷ lệ Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ từ năm 2000 là 12,1% đến T8/2002 chỉ
còn là 5,5%, tức là số nợ quá hạn đã giảm được đến 50%, nhưng vẫn còn lớn hơn rất
nhiều so với tỷ lệ an toàn là 5%.
■ Một vài nguyên nhân:
Thực trạng hoạt động yếu kém của hệ thống NHTM Việt Nam trong thời gian
qua là do có nhiều nguyên nhân khác nhau. Một trong những nguyên nhân chính gây
ra sự kém hiệu quả của hoạt động NHTM Việt Nam trong giai đoạn này chính là
quyền tự chủ của các NH chưa được tôn trọng. Việc cho vay của các NH này chịu ảnh
hưởng của những yếu tố kinh tế, đặc biệt là các khoảng cho vay đối với các doanh
nghiệp Nhà nước (DNNN). Chẳng hạn như cho phép cung ứng các khoản vay mà
không phải thế chấp các tài sản cũng như gia hạn thêm đối với một số khoản nợ,
chuyển các khoản nợ NH thành vốn ngân sách cấp. Tình hình trên là một trong những
tồn tại còn hạn chế của hệ thống NHTM Việt Nam.
Bảng 5: Dư nợ cho vay của 4 NHTM Việt Nam với các DNNN
ĐVT: Tỷ đồng
DNNN (Theo các ngành sản xuất) Tổng dư nợ Ngân hàng
Mía đường
Sắt thép
Phân bón
Xi măng
Giấy
3.881
896
858
2.900
746
TỔNG CỘNG 9281
Nguồn: Tạp chí Ngân Hàng, số 9/2004 – trang 14
Từ bảng số liệu cho thấy, số dư nợ mà các NHTM dành cho các DNNN là rất
lớn. Lớn nhất là ngành mía đường với 3.881 tỷ đồng; hai ngành sắt thép và phân bón

2/ Thực trạng tham gia vào ĐMTN của các NHTM Việt Nam:
Chuyên đề năm 3 Tiềm năng và vai trò của ĐMTN đối với NHTM Việt Nam
Từ khi loại hình kinh doanh ĐMTN được ra đời ở Việt Nam cho đến nay, dù số
lượng các doanh nghiệp Việt Nam tham gia ngày càng tăng lên, song các NHTM Việt
Nam hầu như vẫn chưa chú ý nhiều đến loại hình kinh doanh này. Trước tiên vì nó là
một dịch vụ còn quá mới ở Việt Nam. Hơn nữa, các CRA Việt Nam vẫn chưa tạo được
sự tin tưởng cho các NHTM. Có lẽ vì vậy mà loại hình kinh doanh này vẫn chưa thu
hút được các NHTM Việt Nam tham gia. Gần đây nhất là Ngân hàng Đầu tư & Phát
triển Việt Nam, ngân hàng này đã thuê hẳn một tổ chức ĐMTN Quốc tế Moody’s để
đánh giá năng lực của mình. Trong đó:
+ Tín nhiệm của Tiền gửi tiền Đồng: Ba1
+ Tín nhiệm Nhà phát hành bằng tiền Đồng: Ba1
+ Tín nhiệm bằng Tiền gửi ngoại tệ: B1
+ Tín nhiệm Nhà phát hành bằng ngoại tệ: Ba3
+ Sức mạnh Tài chính độc lập: E với Triển vọng tích cực
Trong năm tiêu chí đánh giá của Moody’s, tiêu chí "năng lực tài chính độc lập"
của BIDV là hạng E với “Triển vọng tích cực”. Hạng E cho thấy tiềm lực tài chính của
BIDV là rất yếu so với chuẩn mực chung. (Cao nhất là A, đến B, C, D và E,…).
Tuy nhiên, đây không phải là điều đáng quan tâm hay lo ngại vì hầu như ai
cùng biết tiềm lực tài chính hay vấn đề quản trị công ty của nhiều DN Việt Nam, nhất
là các DNNN là rất yếu. Có đánh giá hay không thực tế vẫn vậy. Nhưng ở đây, cái lợi
mà BIDV đạt được nó lại thuộc một khía cạnh khác và nó mang một ý nghĩa to lớn
hơn.
Từ trước đến nay, các NHTM Việt Nam thường có một thói quen chung là rất ít
khi chịu công bố những điểm yếu, những mặt hạn chế của bản thân ngân hàng. Nhưng
ở đây, BIDV đã hoàn toàn làm ngược lại điều đó. Tuy nhiên nếu xem kỹ một chút thì
đây là một việc làm hết sức đúng đắn và cần thiết. Rõ ràng là trước khi thuê Moody's
đánh giá, BIDV vẫn biết là họ yếu, nhưng không biết là yếu cỡ nào. Đến khi có kết
quả đánh giá, họ biết rõ so với chuẩn mực thì tiềm lực tài chính của họ yếu ở mức nào.
Nhưng ở đây, chúng ta cần chú ý một điều là đối với những nước phát triển,

làm.
Ở góc độ vi mô của một ngân hàng là như vậy. Còn ở góc độ vĩ mô điều này
càng có ý nghĩa hơn, vì khi việc đánh giá tín nhiệm các ngân hàng trở thành thông lệ
và phổ biến thì nền kinh tế sẽ có một hệ thống tài chính các ngân hàng mạnh. Đây
chính là nền tảng quan trọng trong việc xây dựng một hệ thống ngân hàng phát triển
lâu dài, ổn định, tạo điều kiện cho mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững.
Nhất là trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế chuẩn bị cho gia nhập WTO đang
Chuyên đề năm 3 Tiềm năng và vai trò của ĐMTN đối với NHTM Việt Nam
tới cận kề, hệ thống ngân hàng còn nhiều bất cập, đặc biệt là vấn đề minh bạch tài
chính - điều mà khách hàng cần thông tin nhất.
Minh bạch hóa hoạt động ngân hàng, trong đó công khai tài chính là cải cách tất
yếu, bắt buộc trong giai đoạn hiện nay. Sự bắt buộc đó xuất phát từ thực tế các ngân
hàng của Việt Nam còn nhỏ bé về tiềm lực tài chính và thiếu kinh nghiệm trong các
hoạt động tài chính quốc tế. Mặt khác, các thông tin về hoạt động tài chính của ngân
hàng không được công khai cũng là một rào cản trong quá trình hội nhập quốc tế. Điều
đó đã khiến cho không ít nhà đầu tư nước ngoài e ngại trong việc đầu tư vào các
NHTM Việt Nam. Từ thực trạng đó có thể thấy rõ, ảnh hưởng của các tổ chức ĐMTN
đối với hệ thống NHTM Việt Nam là rất lớn, có một vai trò quan trọng trong việc cải
tổ hệ thống NHTM Việt Nam.
Với số lượng khoảng 15.000 DN trong nền kinh tế hiện nay và hệ thống pháp
luật ngày càng đổi mới, cởi mở hơn thì việc thành lập các DN mới sẽ ngày càng tăng
lên, nhu cầu vốn trong nền kinh tế cũng sẽ rất lớn. Khi đó, sự ra đời của một tổ chức
có thể đánh giá khả năng hoạt động và độ tín nhiệm của một DN, một ngân hàng là rất
cần thiết. Hiện nay, loại hình hoạt động của ĐMTN đang rất được nhà nước và các
NHTM Việt Nam quan tâm. Tuy nhiên, việc lựa chọn một mô hình hoạt động của
CRA sao cho thích hợp với những đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam hiện nay không
phải là dễ. Mô hình công ty cổ phần có các cổ đông chiến lược nước ngoài đang được
xem là một lựa chọn mang tính khả thi cao. Việc lựa chọn đúng các cổ đông chiến
lược nước ngoài và vận động họ tham gia thành lập các CRA đầu tiên của Việt Nam
là con đường nhanh nhất để hình thành một tổ chức ĐMTN đủ uy tín và đảm bảo vai

hệ thống NHTM Việt Nam cần phải có sự đột phá vững mạnh, đổi mới công nghệ, đa
dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm. Nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro, giảm
bớt tỷ lệ nợ quá hạn hiện nay tại các NH còn khá cao. Các NH cần thận trọng, am
hiểu rõ khách hàng của mình là người đang kinh doanh như thế nào. Vì vậy, việc phân
tích tài chính, xếp loại DN là kỹ thuật nghiệp vụ không thể thiếu được trong hoạt
động tín dụng NH và đóng vai trò trong việc quyết định chất lượng tín dụng NH, cho
phép NH chủ động lựa chọn tín dụng NH và xây dựng chính sách tín dụng hợp lý
hơn.
Tuy nhiên, với trình độ chuyên môn và khả năng am hiểu khách hành, phân
tích kinh tế cũng như thẩm định dự án của khách hàng trong các NHTM Việt nam
hiện nay còn rất yếu kém, vì vậy sự ra đời của một tổ chức ĐMTN hoạt động độc lập
và chuyên nghiệp là rất cần thiết cho hệ thống NHTM Việt Nam ta.
Chuyên đề năm 3 Tiềm năng và vai trò của ĐMTN đối với NHTM Việt Nam
2.2/ Vai trò của ĐMTN đối với hoạt động của NHTM Việt Nam:
Trong một nền kinh tế, nếu vốn luôn được coi là điều kiện vật chất để duy trì
các hoạt động kinh tế thì sự tồn tại của các NH lại được coi là điều kiện cần thiết cho
việc lưu thông các nguồn vốn trong xã hội. Vì thế, việc tổ chức và đảm bảo sự an toàn
cho các hoạt động của NH luôn được xem là vấn đề quan trọng, có ảnh hưởng sâu sắc
đến quá trình phát triển của một đất nước. Với nhu cầu vốn ngày càng tăng cho các
hoạt động kinh tế thị trường thì khả năng huy động vốn trong các NH lại trở thành vấn
đề cần thiết và cấp bách. Do mối tương quan mật thiết đó mà giữa thị trường vốn và
hệ thống các NH luôn có những ảnh hưởng nhất định qua lại lẫn nhau. Sự phát triển
của hệ thống NH sẽ là điều kiện để thúc đẩy lưu thông của thị trường vốn và ngược
lại, một thị trường vốn phát triển sẽ là động lực giúp cho hoạt động của NH ngày càng
tốt hơn. Vì vậy, khi nói đến vai trò của ĐMTN đối với hệ thống NH cũng chính là vai
trò của nó đối với thị trường vốn Việt Nam.
► Thứ nhất, nó là cơ sở giúp các NH nâng cao hiệu quả trong hoạt động cho
vay tín dụng, góp phần làm giảm tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn trong các NH.
Vì sự ra đời của các CRA có nhiệm vụ là đánh giá tín nhiệm của các DN. Nó
cũng giống như việc phân tích tài chính và đánh giá rủi ro tín dụng trong các NH.

hoạt động cho đến việc quản lý hành chính, quản lý rủi ro tín dụng mà cả về mặt nhân
sự. Khi một NH được CRA đánh giá tốt, có mức độ tín nhiệm cao nghĩa là NH đã làm
tốt các khâu trên. Điều đó không chỉ giúp cho NH thấy được những mặt mạnh, mặt
yếu của mình để có những hướng điều chỉnh đúng đắn và hợp lý hơn. Mặt khác, nó
còn làm cho các nhà đầu tư cảm thấy yên tâm hơn khi gửi tiền hay đầu tư vào các cổ
phiếu hoặc dự án của NH. Lúc này, việc huy động vốn đối với các NH sẽ không còn
quá khó khăn như trước đây. Và khi vốn được huy động càng ngày càng nhiều, nghĩa
là nó đã cung cấp cho nhu cầu của thị trường vốn Việt Nam đang ngày càng tăng, góp
phần thúc đẩy sự phát triển chung của cả nền kinh tế.
► Thứ ba, trong bối cảnh chung như hiện nay, khi mà các NHTM Việt Nam
đang được cổ phần hóa ngày càng nhiều và chuẩn bị được đưa lên các sàn giao dịch
chứng khoán, thì đây có thể sẽ là một kênh huy động vốn rất lớn của các NH trong
tương lai, không chỉ có các nhà đầu tư trong nước mà còn có sự tham gia của cả các
Chuyên đề năm 3 Tiềm năng và vai trò của ĐMTN đối với NHTM Việt Nam
tập đoàn đầu tư tài chính nước ngoài. Tuy nhiên, TTCK Việt Nam hiện nay vẫn còn
rất non trẻ. Vấn đề thông tin luôn là một nhu cầu không bao giờ đáp ứng đủ cho các
nhà đầu tư. Vì vậy, việc nắm giữ thông tin sẽ là một yếu tố rất quan trọng giữ vai trò
quyết định đối với các nhà đầu tư Việt Nam. Trong điều kiện mức độ hiểu biết của
công chúng đầu tư còn hạn chế, các kênh cung cấp thông tin và đánh giá đúng rủi ro
còn rất ít hoặc chưa có, sự xuất hiện của các CRA sẽ cung cấp thêm nhiều thông tin
cho cộng đồng đầu tư, và chính bảng xếp hạng của các CRA sẽ làm cho nhà đầu tư
yên tâm hơn khi tiếp cận với thị trường (nghĩa là giúp họ có cơ sở và tự tin hơn khi
thực hiện quyết định đầu tư vào một loại chứng khoán nợ nào đó). Việt Nam đã có
TTCK, song hoạt động của các tổ chức ĐMTN vẫn chưa xuất hiện. Nhưng vì vai trò
của tổ chức này là rất quan trọng, trong khi đó Việt Nam lại đang trong quá trình hội
nhập quốc tế, tự do hoá tài chính và phát triển triển TTCK, nên việc thành lập và đưa
tổ chức ĐMTN vào hoạt động tại Việt Nam là vấn đề hết sức cấp thiết.
► Thứ tư, nó thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn, là động lực gián tiếp
cho sự phát triển của hệ thống NHTM Việt Nam.
Hiện nay, Việt Nam đang nổ lực để xây dựng một nền kinh tế thị trường trong

thêm công ăn việc làm, nâng cao và chuẩn hoá kiến thức về phân tích kinh tế, tài
chính, kế toán Hệ quả của những nhân tố kể trên sẽ mang lại luồng sinh khí cho sự
phát triển mạnh mẽ và hoàn thiện TTCK. Điều này đặc biệt có ý nghĩa hết sức quan
trọng đối với TTCK Việt Nam vốn còn rất non trẻ và sơ khai.
Tóm lại, hiệu quả hoạt động và chất lượng tín dụng của một NH được chứng
minh bằng khả năng huy động vốn, hoạt động cho vay và tình hình dư nợ của bản
thân NH. Vì vậy, vai trò của các CRA đối với hệ thống NHTM Việt Nam là rất lớn.
Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam đang sắp bước vào giai đoạn hội nhập
và phát triển. Tuy nhiên, hoạt động của các NHTM Việt Nam vẫn còn rất yếu và có
nhiều hạn chế. Sự xuất hiện của các CRA sẽ là động lực to lớn giúp cho hoạt động
của các NHTM được tốt hơn, tạo điều kiện cho các NH phát triển mạnh mẽ và ổn
định.
Chuyên đề năm 3 Tiềm năng và vai trò của ĐMTN đối với NHTM Việt Nam
III/ MỘT SỐ THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN VÀ GIẢI PHÁP
1/ Thuận lợi:
Có thể nói, việc hình thành và phát triển ĐMTN Việt Nam mới đáp ứng được
xu hướng và nhu cầu của thị trường về một nền kinh tế minh bạch và phát triển ổn
định. Vì thế mà hoạt động của ĐMTN ở Việt Nam hiện nay đang rất được Nhà nước
và các DN quan tâm đúng đắn, sự ủng hộ từ các tập đoàn đầu tư tài chính nước ngoài,
và đặc biệt là hệ thống các NH trong nước.
Hiện nay, Nhà nước ta và các tổ chức có liên quan như Bộ Kế hoạch & Đầu tư,
Bộ Tài chính, các ngành chức năng có liên quan như NHNN, UBCKNN,… đã và
đang lên một kế hoạch cụ thể, trong đó có việc ban hành một khung pháp lý, các qui
định nhằm hỗ trợ cho việc xây dựng một CRA phù hợp với nền kinh tế Việt Nam
nhưng vẫn không quá lệch lạc so với các tiêu chuẩn quốc tế.
Ngoài ra, còn có rất nhiều cuộc hội thảo bàn về các vấn đề liên quan đến việc
hình thành các CRA tại Việt Nam, trong đó có sự tham gia của các chuyên gia kinh tế
nước ngoài, các tập đoàn CRA quốc tế để trao đổi kinh nghiệm hoạt động và làm việc.
Một thuận lợi lớn nữa là Việt Nam đã nhận được sự tài trợ và giúp đỡ kỹ thuật
thông qua dự án “Hỗ trợ kỹ thuật” do Ban thư ký ASEAN và Bộ Tài chính Nhật Bản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status