GVHD: Cô Trương Khánh Vĩnh Xuyên Chuyên đề Kinh Tế
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
Việt Nam có truyền thống lâu đời trong các hoạt động khai thác và nuôi trồng
thuỷ sản. Ngành thuỷ sản đóng góp hơn 3% GDP trong hơn mười năm qua và được xem
là một trong những ngành có bước trưởng thành nhanh chóng nhất trong thập kỷ vừa
rồi. Hiện nay, ngành thuỷ sản đang không ngừng tăng trưởng cả về số lượng và chất
luợng. Ngoài ra, ngành thủy sản đang là ngành có thế mạnh về xuất khẩu mang về một
lượng ngoại tệ lớn cho Việt Nam.
Đặc biệt, năm 2007 Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại
Thế Giới WTO – World Trade Organization. Ngành thuỷ sản đã bước đầu hoàn thiện
môi trường pháp lý nhằm chủ động hợp tác và hội nhập quốc tế và triển khai một số
Hiệp định hợp tác với các Tổ chức quốc tế, khu vực và các nước. Bộ Thuỷ sản đang có
gắng xây dựng Chiến lược Hợp tác quốc tế và Hội nhập kinh tế quốc tế ngành thuỷ sản
đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
Để hiểu rõ hơn về xuất khẩu thủy sản Việt Nam, em đã chọn đề tài nghiên cứu
cho chuyên đề Kinh Tế của mình là “Xuất khẩu thủy sản Việt Nam – Thách thức &
Cơ hội sau khi gia nhập WTO”.
II. Mục tiêu của đề tài:
1) Mục tiêu chung:
Đánh giá tình hình xuất khẩu thủy Việt Nam trong những năm qua (2003 – 2007).
Từ đó, phân tích những lợi thế và nhận diện những thách thức trở ngại trong việc xuất
khẩu thủy sản sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Trên cơ sở đó, đưa ra các chiến lược
đẩy mạnh hoạt động thương mại xuất khẩu thủy sản Việt Nam càng phát triển hơn.
2) Mục tiêu cụ thể:
- Nghiên cứu thực trạng sản xuất, chế biến, xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong
những năm qua.
- Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành thủy sản Việt Nam.
- Đề ra giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu thủy sản Việt Nam.
III. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp thu thập số liệu:
GVHD: Cô Trương Khánh Vĩnh Xuyên Chuyên đề Kinh Tế
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Lý thuyết về xuất nhập khẩu:
1.1. Xuất nhập khẩu:
Xuất khẩu, trong lý luận thương mại quốc tế là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho
nước ngoài, trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo IMF là việc bán hàng hóa
cho nước ngoài.
Nhập khẩu, trong lý luận thương mại quốc tế, là việc quốc gia này mua hàng hóa
và dịch vụ từ quốc gia khác. Nói cách khác, đây chính là việc nhà sản xuất nước ngoài
cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người cư trú trong nước. Tuy nhiên, theo cách thức
biên soạn cán cân thanh toán quốc tế của IMF, chỉ có việc mua các hàng hóa hữu hình
mới được coi là nhập khẩu và đưa vào mục cán cân thương mại. Còn việc mua dịch vụ
được tính vào mục cán cân phi thương mại.
Ngoại thương (hay còn gọi là thương mại quốc tế) là quá trình trao đổi hàng
hóa, dịch vụ giữa các quốc gia chủ yếu thông qua hoạt động xuất, nhập khẩu và các hoạt
động gia công với nước ngoài. Ngoại thương giữ vị trí trung tâm trong nền kinh tế đối
ngoại.
Quan hệ kinh tế quốc tế là tổng thể các quan hệ về mặt vật chất và tài chính, các
quan hệ diễn ra không những trong lĩnh vực kinh tế mà còn trong lĩnh vực khoa học –
công nghệ có liên quan đến tất cả giai đoạn của quá trình sản xuất, giữa các quốc gia với
nhau và giữa các quốc gia với các tổ chức kinh tế quốc tế.
1.2. Xuất nhập khẩu thủy sản:
Các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu thủy sản là khi mà hàng hóa (các
mặt hàng thủy sản: tôm, cá, mực …) được thực hiện mua bán từ quốc gia này sang quốc
gia khác, từ phạm vi lãnh thổ này sang lãnh thổ khác.
Ý nghĩa của hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu:
• Đây là một hoạt động không thể thiếu ở các quốc gia bởi vì không một quốc gia
nào có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người dân trong nước.
• Nguồn tài nguyên có hạn và mỗi quốc gia có một lợi thế riêng.
đặc biệt về thuế NK theo thể chế khu vực thương mại tự do, liên minh quan thuế, hoặc
để tạo thuận lợi cho giao lưu thương mại biên giới và trường hợp ưu đãi đặc biệt khác.
3. Những lợi thế của ngành thủy sản Việt Nam:
3.1. Lợi thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên ở Việt Nam:
3.1.1. Vị trí địa lý:
Việt Nam là dải đất cong hình chữ S, chạy dọc phía Đông bán đảo Đông
Dương, thuộc khu vực Đông Nam Á. Phía Đông, Nam và Tây Nam giáp biển Thái Bình
Dương; phía Tây và phía Bắc gắn liền với lục địa châu Á. Phần đất liền của Việt Nam
trải dài từ 23
o
23' đến 08
o
02' vĩ độ Bắc và chiều ngang từ 102
o
08' đến 109
o
28' kinh độ
Đông. Chiều dài tính theo đường thẳng trong đất liền từ Bắc xuống Nam khoảng 1.650
km. Chiều ngang từ Đông sang Tây nơi rộng nhất trên đất liền là 600 km, nơi hẹp nhất
50 km.
Sinh viên thực hiện: Phạm Lê Đông Hậu - 4054388
4
GVHD: Cô Trương Khánh Vĩnh Xuyên Chuyên đề Kinh Tế
Việt Nam có biên giới đất liền dài 3.730 km. Phía Bắc giáp nước Cộng
hòa Nhân dân Trung Hoa với chiều dài biên giới 1.150 km. Phía Tây giáp Cộng hòa Dân
chủ Nhân dân Lào trên chiều dài biên giới 1.650 km và giáp Vương quốc Cămpuchia -
930 km. Qua biển Đông và vịnh Thái Lan là Cộng hòa Philippin, Cộng hòa Inđônêxia,
Cộng hòa Singapo, Cộng hòa Brunây và Liên bang Malaixia.
Ngoài ra, có bờ biển dài 3260 km và vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng
1 triệu km
Lan. Bờ biển Việt Nam trải dài hơn 3.260 km, uốn lượn - chỗ nhô ra tạo nên bán đảo
nhỏ, chỗ vòng lại hình thành vùng vịnh và cảng lớn. Trung bình khoảng 20 km chiều dài
Sinh viên thực hiện: Phạm Lê Đông Hậu - 4054388
5
GVHD: Cô Trương Khánh Vĩnh Xuyên Chuyên đề Kinh Tế
bờ biển có một cửa sông thông ra biển. Các cửa sông này chịu ảnh hưởng của chế độ
thuỷ triều khá phức tạp. Ngoài những con sông chảy trực tiếp vào biển, có một số sông
chảy qua các đầm phá lớn như phá Tam Giang, Cầu Hai, Lăng Cô, Ô Loan, Thị Nại.
d) Sông ngòi:
Trên lãnh thổ Việt Nam có khoảng 2.860 sông ngòi lớn nhỏ, nhìn chung
chảy xiết, do vậy thường làm xói mòn địa hình.
Việt Nam có nhiều hồ tự nhiên như Hồ Tây (đại diện cho hồ miền đồng
bằng); Biển Hồ, Hồ Ba Bể, Hồ Lắk (đại diện cho hồ miền núi). Các hồ đó có mực nước
quanh năm ổn định, chu trình vật chất khép kín tự có trong hồ là chính. Diện tích các hồ
tự nhiên ở Việt Nam là 20.000 ha. Việt Nam có rất nhiều hồ chứa cỡ trung bình và cỡ
nhỏ (hiện chưa kiểm kê hết), một số hồ chứa lớn là Thác Bà, Hoà Bình (ở miền Bắc),
Dầu Tiếng, Trị An, Thác Mơ, Sông Hinh (ở miền Nam). Diện tích hồ chứa trên 180
nghìn ha. Tuy nhiên, với vai trò quan trọng trong công tác thuỷ lợi, thuỷ điện và phân lũ,
hiện nay nhiều hồ chứa mới đang tiếp tục được xây dựng.
e) Đảo và quần đảo:
Việt Nam là một quốc gia có nhiều đảo và quần đảo. Hệ thống đảo ven bờ
gồm có 2.773 hòn đảo lớn nhỏ diện tích từ 0,001 km
2
đến 100 km
2
, diện tích tổng cộng
lên đến 1.720 km
2
. Về mặt phân bố, 83,7% số đảo ở ven biển tỉnh Quảng Ninh và Hải
Phòng, nơi tập trung thứ hai là các tỉnh Kiên Giang và Cà Mau trên vịnh Thái Lan. Có
vùng ven biển đang có xu hướng không muốn theo nghề khai thác, vì cường độ lao động
cao, năng suất đánh bắt thấp và thu nhập giảm. Việc đẩy mạnh khai thác xa bờ đang gặp
khó khăn về nguồn nhân lực. Đội ngũ thuyền trưởng, thuỷ thủ giỏi, có trình độ và kỹ
thuật khai thác xa bờ rất thiếu, nhất là các tỉnh Bắc Bộ và Nam Bộ, dẫn tới nhiều nơi tàu
đã đóng xong nhưng không tuyển được người có đủ trình độ ra khơi.
3.3. Vị trí của ngành thủy sản trong nền kinh tế quốc dân:
Ngành Thuỷ sản Việt Nam đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh
tế đất nước. Quy mô của Ngành Thuỷ sản ngày càng mở rộng và vai trò của Ngành
Thuỷ sản cũng tăng lên không ngừng trong nền kinh tế quốc dân.
Từ cuối thập kỷ 80 đến nay, tốc độ tăng trưởng GDP của Ngành Thuỷ sản cao
hơn các ngành kinh tế khác cả về trị số tuyệt đối và tương đối, đặc biệt so với ngành có
quan hệ gần gũi nhất là nông nghiệp. Ngành Thuỷ sản là một ngành kinh tế kĩ thuật đặc
thù bao gồm nhiều lĩnh vực hoạt động mang những tính chất công nghiệp, nông nghiệp,
thương mại và dịch vụ, cơ cấu thành một hệ thống thống nhất có liên quan chặt chẽ và
hữu cơ với nhau. Trong khi các ngành khai thác, đóng sửa tàu thuyền cá, sản xuất ngư
lưới cụ, các thiết bị chế biến và bảo quản thuỷ sản trực thuộc công nghiệp nhóm A,
ngành chế biến thuỷ sản thuộc nhóm công nghiệp B, ngành thương mại và nhiều hoạt
động dịch vụ hậu cần như cung cấp vật tư và chuyên chở đặc dụng thuộc lĩnh vực dịch
vụ thì nuôi trồng thuỷ sản lại mang nhiều đặc tính của ngành nông nghiệp.
Vì vai trò ngày càng quan trọng của Ngành Thuỷ sản trong sản xuất hàng hoá
phục vụ nhu cầu tiêu dùng thực phẩm trong nước và thu ngoại tệ, từ những năm cuối
của thập kỉ 90, Chính phủ đã có những chú ý trong qui hoạch hệ thống thuỷ lợi để
không những phục vụ tốt cho phát triển nông nghiệp mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho
phát triển mạnh về nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt đối với vùng Đồng bằng Sông Cửu
Long.
Trên thế giới, ước tính có khoảng 150 triệu người sống phụ thuộc hoàn toàn hay
một phần vào Ngành Thuỷ sản. Ngành Thuỷ sản được coi là ngành có thể tạo ra nguồn
ngoại tệ lớn cho nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam
Sinh viên thực hiện: Phạm Lê Đông Hậu - 4054388
7
đã tạo công ăn việc làm cho 48.000 lao động ở 249 xã ven sông.
c) Xoá đói giảm nghèo
Ngành Thuỷ sản đã lập nhiều chương trình xóa đói giảm nghèo bằng việc phát
triển các mô hình nuôi trồng thuỷ sản đến cả vùng sâu, vùng xa, không những cung cấp
nguồn dinh dưỡng, đảm bảo an ninh thực phẩm mà còn góp phần xoá đói giảm nghèo.
Tại các vùng duyên hải, từ năm 2000, nuôi thuỷ sản nước lợ đã chuyển mạnh từ
phương thức nuôi quảng canh sang quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh,
Sinh viên thực hiện: Phạm Lê Đông Hậu - 4054388
8
GVHD: Cô Trương Khánh Vĩnh Xuyên Chuyên đề Kinh Tế
thậm chí nhiều nơi đã áp dụng mô hình nuôi thâm canh theo công nghệ nuôi công
nghiệp. Các vùng nuôi tôm rộng lớn, hoạt động theo quy mô sản xuất hàng hoá lớn đã
hình thành, một bộ phận dân cư các vùng ven biển đã giàu lên nhanh chóng, rất nhiều
gia đình thoát khỏi cảnh đói nghèo nhờ nuôi trồng thuỷ sản.
Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản ở các mặt nước lớn như nuôi cá hồ chứa cũng đã
phát triển, hoạt động này luôn được gắn kết với các chương trình phát triển trung du
miền núi, các chính sách xoá đói giảm nghèo ở vùng sâu vùng xa.
d) Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn
Việt Nam có đầy đủ điều kiện để phát triển một cách toàn diện một nền kinh tế
biển. Nếu như trước đây việc lấn ra biển, ngăn chặn những ảnh hưởng của biển để mở
rộng đất đai canh tác là định hướng cho một nền kinh tế nông nghiệp lúa nước thì hiện
nay việc tiến ra biển, kéo biển lại gần sẽ là định hướng khôn ngoan cho một nền kinh tế
công nghiệp hoá và hiện đại hoá.
Trong những thập kỉ qua, nhiều công trình hồ thuỷ điện đã được xây dựng, khiến
nước mặn ngoài biển thâm nhập sâu vào vùng cửa sông, ven biển. Đối với nền canh tác
nông nghiệp lúa nước thì nước mặn là một thảm hoạ, nhưng với nuôi trồng thuỷ sản
nước mặn, nước lợ thì nước mặn được nhận thức là một tiềm năng mới, vì hoạt động
nuôi trồng thuỷ sản có thể cho hiệu quả canh tác gấp hàng chục lần hoạt động canh tác
lúa nước.
Có thể nói nuôi trồng thủy sản đã phát triển với tốc độ nhanh, thu được hiệu quả
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG SẢN XUẤT – CHẾ BIẾN – XUẤT KHẨU THỦY SẢN
VIỆT NAM
1. Thực trạng khai thác, sản xuất – chế biến – xuất khẩu thủy sản ở Việt Nam:
1.1. Tình hình khai thác, sản xuất:
Sinh viên thực hiện: Phạm Lê Đông Hậu - 4054388
10
GVHD: Cô Trương Khánh Vĩnh Xuyên Chuyên đề Kinh Tế
Theo số liệu thống kê của FAO năm 2004, Việt Nam đứng thứ 11 trên thế giới về
sản lượng khai thác thuỷ sản.
1.1.1. Khai thác hải sản:
Khai thác hải sản luôn giữ vai trò quan trọng trong ngành thủy sản, góp
phần bảo vệ an ninh, chủ quyền vùng biển.
Năng lực khai thác hải sản:
Tàu thuyền đánh cá:
Tàu thuyền khai thác phần lớn là loại vỏ gỗ. Các loại tàu vỏ thép, xi măng
lưới thép, composite chiếm tỷ lệ không đáng kể. Những năm gần đây, số lượng tàu
thuyền máy tăng nhanh, trong khi đó, thuyền thủ công giảm dần. Năm 2001, tổng số
thuyền máy là 74.495 chiếc và thuyền thủ công là 13.267 chiếc, chiếm tỷ lệ tương ứng
là 85% và 15% tổng số tàu thuyền khai thác hải sản. Tổng công suất tàu thuyền máy đã
đạt tới 3.497.457 CV (năm 2001), lớn gấp 4,3 lần so với năm 1991, công suất bình quân
đạt gần 45CV/chiếc, tăng 2,5 lần so với 1991. Năm 2004, theo báo cáo từ các địa
phương, tổng số tàu thuyền máy đã tăng lên đến 85.430 chiếc với tổng công suất
4.721.700 CV, công suất bình quân đạt hơn 55 CV/tàu. Công suất trung bình các đội tàu
ở phía Nam đạt trên 90 CV/tàu và các vùng còn lại là 30 CV/tàu. Đáng chú ý là, số
lượng tàu quốc doanh đã giảm còn 44 tàu vào năm 2002.
Trong giai đoạn 1991 - 2004, số lượng tàu thuyền máy tăng bình quân
hằng năm 5,6%, nhưng mức tăng này có xu hướng chậm dần. Trong khi đó, mức tăng
tổng công suất trung bình hằng năm là 15,8 %, chiều hướng này cũng đang giảm dần.
Sự chênh lệch mức tăng giữa số lượng tàu và tổng công suất trong giai đoạn này cho
Khai thác ở hồ
Việt Nam có trên 200.000 ha mặt nước hồ, trong đó diện tích hồ tự nhiên trên
20.000 ha, còn lại là hồ chứa. Tổng sản lượng thủy sản khai thác ở hồ hằng năm khoảng
9.000 tấn, trong đó 4.000 tấn khai thác ở hồ tự nhiên và 5.000 tấn khai thác ở các hồ
chứa.
Khai thác ở vùng trũng ngập nước
Các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ không có vùng trũng ngập nước lớn. Vùng đồng
bằng sông Cửu Long có nhiều vùng ngập nước theo mùa rất lớn. Ví dụ, vùng đồng Tháp
Mười là 140.000 ha và vùng tứ giác Long Xuyên là 218.000 ha. Cá ở hệ thống sông
Cửu Long di cư vào vùng trũng ngập nước trong mùa mưa để kiếm ăn. Đến mùa khô lại
di chuyển ra sông. Nông dân ở hai vùng trũng ngập nước này hằng năm khai thác được
khoảng trên 20.000 tấn.
Khai thác trên sông
Nước ta có hàng ngàn sông, rạch. Trước đây, nguồn lợi cá sông rất phong phú.
Vào thập kỷ 70, trên sông Hồng có trên 70 hợp tác xã đánh cá. Sản lượng khai thác hằng
năm khoảng hàng ngàn tấn cá. Do khai thác quá mức, nên nguồn cá sông đã cạn kiệt.
Ngư dân phải chuyển sang kiếm sống bằng nghề khác. Các sông ngòi ở miền Trung
cũng có tình trạng tương tự.
Hiện nay, chỉ còn sông Cửu Long duy trì được nghề khai thác với sản lượng xấp
xỉ 30.000 tấn/năm, tạo công ăn việc làm cho 48.000 lao động ở 249 xã ven sông. Hệ
thống kênh, rạch chằng chịt ở Nam Bộ cung cấp một lượng cá nước ngọt đáng kể. Sản
lượng khai thác thủy sản nội địa năm 2003 và năm 2004 đã đạt khoảng 200.000 tấn, thu
hút khoảng 100.000 lao động.
1.2. Tình hình chế biến và bảo quản:
Sinh viên thực hiện: Phạm Lê Đông Hậu - 4054388
12