Gi ải pháp kĩ thuật nghiệp cụ nhiệm vụ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu tại công ty du lịch và thương mại TST - Pdf 23

Lời nói đầu
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đánh dấu bớc ngoặt lớn trong cơ chế
quản lý kinh tế nớc ta từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị
trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh
mới, Đảng và Nhà nớc ta đã chủ trơng mở rộng quan hệ ngoại thơng. Kinh doanh
xuất nhập khẩu đóng một vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển nền kinh tế
đất nớc. Xuất khẩu là nguồn tăng thu ngoại tệ, nâng cao khả năng phát triển nền
kinh tế. Song nhập khẩu lại là điều kiện cần thiết để thực hiện tái sản xuất mở
rộng, thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc. Nhập khẩu cho phép tận
dụng đợc tiềm năng về khoa học kỹ thuật tiên tiến của các nớc trên thế giới.
Trong quá trình đổi mới và xây dựng đất nớc nhu cầu về máy móc thiết bị,
vật liệu vật t không ngừng tăng lên. Cùng với tiến trình phát triển của đất nớc,
công ty Thơng mại du lịch và dịch vụ TST đã không ngừng vơn lên tự hoàn thiện
mình. Hoạt động kinh doanh XNK nói chung và kinh doanh nhập khẩu máy móc
thiết bị, vật liệu vật t... nói riêng đã đạt đợc những kết quả bớc đầu tơng đối khả
quan. Tuy nhiên đội ngũ cán bộ công nhân viên trong công ty không thoả mãn với
những việc đã làm đợc mà luôn trăn trở để thực hiện tốt hơn nữa chức năng, nhiệm
vụ mà Bộ Thơng mại giao phó.
Trong điều kiện bối cảnh kinh tế - chính trị thế giới có nhiều thay đổi theo
chiều hớng xấu, cuộc khủng hoảng tài chính khu vực Châu á vẫn còn d âm ảnh h-
ởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của các nớc trong khu vực. Bên cạnh đó
chính sách quản lý nhập khẩu của Nhà nớc cũng còn nhiều tồn tại nh biểu thuế
nhập khẩu cha khoa học, thủ tục hành chính còn nhiều phiền phức... Trớc rất nhiều
khó khăn nh vậy làm thế nào để hoạt động nhập khẩu của công ty đạt hiệu quả
cao? làm thế nào để phát huy thế mạnh của công ty có uy tín trong và ngoài nớc?
đó là những câu hỏi đặt ra từ thực trạng hoạt động nhập khẩu ở công ty dịch vụ du
lịch và thơng mại TST.
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại công ty em đã tập trung nghiên cứu
thực trạng hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty và đã chọn đề tài: "Một
1
số giải pháp kỹ thuật nghiệp vụ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nhập

đó qua trao đổi Quốc tế mà cả hai bên đều có lợi.
Nói đến Thơng mại Quốc tế không thể không tìm hiểu về các lý thuyết kinh
tế, đặc biệt là quy luật lợi thế so sánh. Quy luật lợi thế so sánh nhấn mạnh sự khác
nhau về chi phí sản xuất, coi đó là chìa khoá của phơng thức thơng mại. Một quốc
gia phải tập trung vào sản xuất và trao đổi sản phẩm mà ở đó thể hiện mối tơng
3
quan thuận lợi hơn giữa các mức chi phí cá biệt của Quốc gia đó với mức chi phí
trung bình Quốc tế trên thị trờng Thế giới. Do đó có thể thấy cốt lõi của lợi thế so
sánh là sự khéo léo lựa chọn, biết kết hợp giữa u thế của một nớc với u thế của nớc
khác để đạt đợc lợi thế tối đa trên cơ sở một khả năng hạn chế.
Nh vậy, một Quốc gia muốn phát triển thì phải bảo đảm hiệu quả tối đa của
việc chuyên môn hoá trên cơ sở lợi thế so sánh. Làm đợc điều đó thì bất cứ một
quốc gia nào cũng có thể tham gia vào thị trờng Thơng mại Quốc tế một cách có
lợi nhất.
1.2. Vị trí của công tác nhập khẩu trong Thơng mại Quốc tế đối với một
quốc gia
Nớc ta cũng nh nhiều nớc khác có khả năng rất lớn về nhiều mặt nh: tài
nguyên thiên nhiên, lao động... song không chỉ nhằm vào chúng một cách độc lập
mà hy vọng đạt hiệu quả cao. Tức là nói ngắn gọn không thể có một nền kinh tế
phát triển cao dựa trên cơ sở hoàn toàn tự cấp tự túc.
Để khai thác hiệu quả tiềm năng trên, chúng ta phải có vốn, khoa học kỹ
thuật và công nghệ hiện đại. Để có những yếu tố này chúng ta có thể sử dụng
nhiều phơng pháp mà phơng pháp cơ bản nhất là thông qua Thơng mại Quốc tế
trong đó chủ yếu và giữ vị trí chủ động là hoạt động nhập khẩu. Trong điều kiện
chúng ta còn tơng đối lạc hậu về kinh tế công nghệ kỹ thuật thấp kém thì việc thay
thế lao động thủ công bằng lao động máy móc hiện đại hoá lực lợng sản xuất
không thể ngày một ngày hai mà chỉ có thể tiến hành từng bớc bằng nhập khẩu
trong một thời gian dài. Việc thay đổi chiến lợc kinh tế từ "đóng cửa sang "mở
cửa là vô cùng quan trọng. Nền kinh tế mở sẽ tạo ra những hớng phát triển mới,
tạo điều kiện khai thác lợi thế tiềm năng của nớc chúng ta trong phân công lao

thế so sánh của đất nớc trên cơ sở chuyên môn hoá.
3. Các hình thức nhập khẩu thông dụng trong thơng mại quốc tế
Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu chỉ đợc tiến hành ở các doanh nghiệp
kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp, nhng trong thực tế do tác động của môi tr-
ờng, điều kiện kinh doanh cùng với sự năng động sáng tạo của ngời kinh doanh đã
5
tạo ra nhiều hình thức nhập khẩu khác nhau. Có thể kể ra đây một vài hình thức
nhập khẩu đang đợc sử dụng tại các doanh nghiệp của nớc ta hiện nay.
3.1. Nhập khẩu trực tiếp
Hoạt động nhập khẩu trực tiếp là hình thức nhập khẩu độc lập của một
doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên cơ sở nghiên cứu kỹ thị trờng trong và ngoài n-
ớc, tính toán đầy đủ các chi phí đảm bảo kinh doanh có lãi, đúng phơng hớng,
chính sách luật pháp của Nhà nớc cũng nh quốc tế.
Trong hoạt động nhập khẩu tự doanh, doanh nghiệp hoàn toàn nắm quyền
chủ động và phải tự tiến hành các nghiệp vụ của hoạt động nhập khẩu từ nghiên
cứu thị trờng, lựa chọn bạn hàng, lựa chọn phơng thức giao dịch, đến việc ký kết
và thực hiện hợp đồng. Doanh nghiệp phải tự bỏ vốn để chi trả các chi phí phát
sinh trong hoạt động kinh doanh và đợc hởng toàn bộ phần lãi thu đợc cũng nh
phải tự chịu trách nhiệm nếu hoạt động đó thua lỗ.
Khi nhập khẩu tự doanh thì doanh nghiệp đợc trích kim ngạch nhập khẩu,
khi tiêu thụ hàng nhập khẩu doanh nghiệp phải chịu thuế doanh thu, thuế lợi tức.
Thông thờng, doanh nghiệp chỉ cần lập một hợp đồng nhập khẩu với nớc ngoài,
còn hợp đồng tiêu thụ hàng hoá trong nớc thì sau khi hàng về sẽ lập.
3.2. Nhập khẩu uỷ thác
Hoạt động nhập khẩu uỷ thác là hoạt động nhập khẩu hình thành giữa một
doanh nghiệp hoạt động trong nớc có ngành hàng kinh doanh một số mặt hàng
nhập khẩu nhng không đủ điều kiện về khả năng tài chính, về đối tác kinh doanh...
nên đã uỷ thác cho doanh nghiệp có chức năng trực tiếp giao dịch ngoại thơng tiến
hành nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của mình. Bên nhận uỷ thác phải tiến hành
đàm phán với nớc ngoài để làm thủ tục nhập khẩu theo yêu cầu của bên uỷ thác và

số hàng tính theo tỷ lệ vốn góp và chịu thuế doanh thu trên doanh số đó.
Doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp tham gia liên doanh phải lập hai hợp đồng:
- Một hợp đồng mua hàng với nớc ngoài.
- Một hợp đồng liên doanh với doanh nghiệp khác (không nhất thiết phải là
doanh nghiệp Nhà nớc).
4. Các nhân tố ảnh hởng đến hoạt động nhập khẩu
4.1. Các chế độ chính sách luật pháp trong nớc và quốc tế
7
Đây là những vấn đề quan trọng mà các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập
khẩu buộc phải nắm vững và tuân theo một cách vô điều kiện. Vì nó thể hiện ý chí
của Đảng lãnh đạo mỗi nớc, sự thống nhất chung của Quốc tế, nó bảo vệ lợi ích
chung của các tầng lớp trong xã hội, lợi ích của các nớc trên thơng trờng Quốc tế.
Hoạt động nhập khẩu đợc tiến hành giữa các chủ thể các Quốc gia khác nhau. Bởi
vậy, nó chịu sự tác động của các chính sách, chế độ, luật pháp của các quốc gia
đó. Chẳng hạn nh tự sửa đổi thực hiện, sửa đổi luật pháp quốc gia hay sự thực hiện
thay đổi chính sách thuế u đãi của một nớc hay một nhóm nớc, điều đó không
những chỉ ảnh hởng đến nớc đó mà còn ảnh hởng đến các nớc có quan hệ kinh tế
xã hội với những nớc đó. Đồng thời, hoạt động xuất nhập khẩu phải nhất định tuân
theo những quy định luật pháp Quốc tế chung. Luật pháp quốc tế buộc các nớc vì
lợi ích chung phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong hoạt
động của mình trong hoạt động nhập khẩu, do đó tạo nên sự tin tởng cũng nh hiệu
quả cao trong hoạt động này.
4.2. Tỷ giá hối đoái
Nhân tố này có ý nghĩa quyết định trong việc xác định mặt hàng, bạn hàng,
phơng án kinh doanh, quan hệ kinh doanh của không chỉ một doanh nghiệp xuất
nhập khẩu mà tới tất cả các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu nói chung.
Sự biến đổi của nhân tố này sẽ gây ra những biến động lớn trong tỷ trọng giữa xuất
khẩu và nhập khẩu. Ví dụ khi tỷ giá hối đoái của đồng tiền thanh toán có lợi cho
việc nhập khẩu thì lại bất lợi cho xuất khẩu và ngợc lại.
Mặt khác có rất nhiều loại tỷ giá hối đoái: tỷ giá hối đoái cố định, tỷ giá hối

thu hẹp và kiểm soát gắt gao.
Cũng nh sản xuất, sự phát triển của hoạt động Thơng mại trong và ngoài n-
ớc, sự phát triển của các doanh nghiệp kinh doanh Thơng mại quyết định đến sự
chu chuyển, lu thông hàng hoá trong nền kỹ thuật hay giữa các nền kinh tế. Chính
vì vậy, nó tạo thuận lợi cho công tác nhập khẩu. Mặt khác do chủ thể của hoạt
động nhập khẩu chính là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, sự phát triển của
doanh nghiệp này đồng nghĩa với việc thực hiện một cách có hiệu quả các hoạt
động nhập khẩu. Trong một nớc mà các doanh nghiệp Thơng mại không đợc tự
chủ phát triển, chịu sự can thiệp quá sâu của Nhà nớc thì hoạt động nhập khẩu
9
cũng không thể phát huy thế chủ động, tinh thần sáng tạo không thể vơn mạnh ra
nớc ngoài từ đó tạo ra sự bí bách trong nền kinh tế.
4.5. Hệ thống tài chính ngân hàng
Hiện nay, hệ thống tài chính ngân hàng đã phát triển hết sức lớn mạnh, nó
can thiệp sâu tới tất cả các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ, dù tồn tại dới hình thức
nào, thuộc thành phần kinh tế nào.
Có đợc điều đó là bởi nó đóng vai trò hết sức to lớn trong hoạt động quản
lý, cung cấp vốn, đảm trách việc thanh toán một cách thuận tiện, chính xác, nhanh
chóng cho các doanh nghiệp. Hoạt động nhập khẩu sẽ không thực hiện đợc nếu
không có sự phát triển của hệ thống ngân hàng, dựa trên các thuận lợi cho các
doanh nghiệp tham gia hoạt động nhập khẩu, đảm bảo cho họ về mặt lợi ích kỹ
thuật cũng nh xã hội và cũng nhiều trờng hợp do có lòng tin với ngân hàng mà các
doanh nghiệp với số lợng vốn lớn kịp thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp chớp đ-
ợc những thời cơ kinh doanh.
4.7. Hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, thông tin liên lạc
Việc thực hiện hoạt động nhập khẩu không thể tách rời với hoạt động vận
chuyển và thông tin liên lạc. Nhờ có thông tin liên lạc hiện đại mà công việc có
thể tiến hành thuận lợi, kịp thời. Còn việc vận chuyển hàng hoá từ nớc này sang n-
ớc khác là một công việc hết sức quan trọng trong hoạt động nhập khẩu. Do đó sự
hiện đại hoá công việc nghiên cứu và áp dụng những công nghệ tiên tiến của khoa

cách cụ thể về quy cách, phẩm chất, kiểu dáng, bao bì, nhãn hiệu, số lợng để nhập
khẩu hàng hoá về thoả mãn đúng, đủ, kịp thời những nhu cầu đó.
* Mặt hàng đó đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống? Tình hình sản xuất
mặt hàng đó ở trong nớc nh thế nào?
Mỗi sản phầm hàng hoá đều có chu kỳ sống riêng. Chu kỳ sống của mỗi sản
phẩm bao gồm các pha: pha giới thiệu, pha phát triển, pha hng thịnh, pha bão hoà,
pha suy thoái, ở mỗi pha chu kỳ sống, nhu cầu của ngời tiêu dùng về sản phẩm là
rất khác nhau, biểu hiện ra thành hành động mua cũng cũng rất khác nhau. Do vậy
để kinh doanh nhập khẩu đạt hiệu quả cao cần thiết phải nghiên cứu chu kỳ sống
của sản phẩm và nắm bắt đợc sản phẩm đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống.
11
Bên cạnh nghiên cứu nhu cầu về hàng hoá nhập khẩu, cần phải nghiên cứu
để biết đợc cung trong nớc về hàng hoá đó. Chênh lệch nhu cầu về hàng hoá và
cung trong nớc của hàng hoá đó chính là nhu cầu về hàng hoá nhập khẩu. Yếu tố
ảnh hởng trực tiếp mạnh mẽ đến cung của một hàng hoá là khả năng sản xuất và
tốc độ phát triển sản xuất của hàng hoá đó. Do vậy, muốn biết đợc nên kinh doanh
nhập khẩu mặt hàng gì với số lợng là bao nhiêu cần phải nghiên cứu tình hình
trong nớc về sản xuất mặt hàng đó nh thế nào.
1.2. Nghiên cứu thị trờng hàng hoá quốc tế
Một trong những yếu tố quan trọng của thị trờng là cung về hàng hoá. Kinh
doanh nhập khẩu đòi hỏi phải nghiên cứu thị trờng hàng hoá quốc tế là một yếu tố
khách quan.
Nghiên cứu thị trờng hàng hoá quốc tế bao gồm việc nghiên cứu toàn bộ
quá trình tái sản xuất trên phạm vi quốc tế. Tức là việc nghiên cứu không chỉ dừng
lại ở lĩnh vực lu thông mà còn nghiên cứu cả trong lĩnh vực sản xuất và phân phối
hàng hoá.
Nghiên cứu thị trờng hàng hoá nhằm hiểu biết về quy luật hoạt động của
chúng- thể hiện qua nhu cầu, cung ứng, và giá cả - liên hệ với điều kiện của doanh
nghiệp và nhu cầu về hàng hoá nhập khẩu ở trong nớc để quyết định kinh doanh
mặt hàng gì và lựa chọn đối tác kinh doanh thích hợp.

* Các nhân tố ảnh hởng lâu dài.
Có những nhân tố không làm thay đổi dung lợng thị trờng hàng hoá một
cách nhanh chóng mà ta có thể dễ dàng nhận biết ngay đợc. Những nhân tố này có
thể gây những biến động rất lớn về dung lợng thị trờng nhng phải trải qua một quá
trình chứ không phải trong một thời gian ngắn. Có thể đến các nhân tố nh tiến bộ
khoa học kỹ thuật, các biện pháp và chính sách của nhà nớc và các tập đoàn t bản
lũng đoạn, thị hiếu và tập quán ngời tiêu dùng, ảnh hởng của các hàng hoá thay
thế.
* Các nhân tố ảnh hởng tạm thời:
Các nhân tố có thể kể đến là: các yếu tố tự nhiên, thiên tai, bão lụt, hạn
hán.. gây ra sự biến đổi cung cầu của một số mặt hàng nhất định. Cần phải nghiên
cứu các yếu tố này để có thể đối phó đợc với các tình huống bất ngờ xảy ra.
13
1.4. Nghiên cứu giá cả hàng hoá trên phạm vi thị trờng thế giới
Trên thị trờng thế giới, giá cả không những phản ánh mà còn điều tiết cung
cầu. Việc xác định đúng đắn giá cả trên thị trờng quốc tế trong hoạt động kinh
doanh xuất nhập khẩu có ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả Thơng mại Quốc tế.
Cụ thể nó sẽ làm tăng thu ngoại tệ trong xuất khẩu và giảm chi ngoại tệ trong nhập
khẩu.
* Dự đoán xu hớng biến động của giá cả và các nhân tố ảnh hởng đến xu
hớng ấy.
Tuỳ theo mục đích mà dự báo xu hớng biến động của giá cả trong thời gian
ngắn và dài. Kết quả nghiên cứu dự báo trong thời gian dài thờng đợc sử dụng vào
mục đích lập kế hoạch nhập khẩu hàng năm. Dự báo trong thời gian ngắn nhằm phục
vụ trực tiếp cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu hiện tại.
* Các nhân tố tác động lên xu hớng biến động giá cả của hàng hoá.
Các nhân tố tác động lâu dài:
- Nhân tố chu kỳ: sự vận động có tính chất quy luật của nền kinh tế t bản
chủ nghĩa qua các giai đoạn của chu kỳ sẽ làm thay đổi quan hệ cung cầu về các
loại hàng hoá đó trên thị trờng. Khi quan hệ cung cầu trên thị trờng thay đổi thì

nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp.
2. Giao dịch đàm phán và ký kết hợp đồng nhập khẩu
2.1. Lựa chọn đối tợng giao dịch
Lựa chọn đối tợng giao dịch bao gồm vấn đề lựa chọn đối tợng để giao dịch
và lựa chọn thơng nhân. Khi lựa chọn nớc để nhập khẩu hàng hoá nhằm đáp ứng
nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nớc, chúng ta cần nghiên cứu tình hình chung
của nớc đó nh khả năng và chất lợng hàng xuất khẩu của họ, chính sách, luật pháp,
tập quán thơng mại... Khi lựa chọn thơng nhân để giao dich, trong điều kiện cho
phép, hiệu quả nhất là nên chọn ngời sản xuất để nhập khẩu trực tiếp. Tuy nhiên,
khi muốn thâm nhập vào thị trờng mới, mặt hàng mới thì việc giao dịch qua trung
gian với t cách là đại lý môi giới lại có ý nghĩa quan trọng. Để lựa chọn đợc chính
xác và đúng đắn, không nên căn cứ vào những lời quảng cáo, tự giới thiệu, mà cần
phải tìm hiểu khách hàng về thái độ chính trị của thơng nhân, khả năng tài chính,
15
quan điểm kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh, uy tín và mối quan hệ của họ trong
kinh doanh.
Khi nghiên cứu những vấn đề trên đây, ngời ta áp dụng hai phơng pháp chủ
yếu sau:
- Điều tra qua tài liệu và sách báo hay còn gọi là điều tra tại phòng làm
việc. Đây là phơng pháp phổ biến nhất và tơng đối tốn kém. Tài liệu thờng dùng
để nghiên cứu là các bản tin giá cả thị trờng của VNTTX và của trung tâm thông
tin kinh tế đối ngoại, các báo cáo của cơ quan thờng vụ Việt Nam ở nớc ngoài, các
báo tạp chí nh: MOCI (Pháp), Far Eastern Economic Review (Anh), Financial
Time (Anh)...
- Điều tra tại chỗ (Fiel reseach) theo phơng pháp này ngời ta cử ngời đến
tận thị trờng để tìm hiểu tình hình, tiếp xúc với các thơng nhân. Phơng pháp này
tuy tốn kém nhng giúp đơn vị kinh doanh mau chóng nắm đợc những thông tin
chắc chắn và toàn diện.
Ngoài hai phơng pháp trên đây, ngời ta còn có thể sử dụng các phơng pháp
sau: mua, bán th, mua dịch vụ thông tin của các công ty điều tra tín dụng, thông

khâu đợc quan tâm hơn cả vì đó là cơ sở để dẫn đến ký kết hợp đồng nhập khẩu.
Việc giao dịch, đàm phán sau khi đã có kết quả sẽ dẫn đến ký kết hợp đồng nhập
khẩu.
2.2.2. Hợp đồng nhập khẩu
Hợp đồng nhập khẩu chính là hợp đồng kinh tế ngoại thơng, trong đó có sự
thoả thuận của đơng sự có quốc tịch khác nhau về chuyển giao quyền sở hữu hàng
hoá, nghĩa vụ thanh toán, trả tiền nhận hàng.
Hợp đồng kinh tế ngoại thơng của nớc ta bắt buộc phải thể hiện dới hình
thức văn bản. Bởi đây là hình thức tốt nhất trong việc bảo vệ quyền lợi của hai bên,
nó xác định rõ ràng mọi quyền lợi và nghĩa vụ của bên mua và bên bán, tránh đợc
những hiểu lầm do không thống nhất về quan niệm, đồng thời tạo điều kiện thuận
lợi cho thống kê, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện.
Hợp đồng nhập khẩu có các điều khoản chủ yếu nh sau:
17
+ Phần mở đầu: Ghi thông tin về số hợp đồng, ngày và nơi ký hợp đồng, về
chủ thể hợp đồng (tên giao dịch Quốc tế, địa chỉ, số điện thoại...)
+ Điều khoản tên hàng: Tên hàng phải ghi rõ, chính xác để không xảy ra
hiểu lầm, có thể ghi rõ địa danh sản xuất (xuất xứ hàng hoá), nhà sản xuất, quy
cách, tên thông dụng, tên thơng mại, tên khoa học (nếu có)...
+ Điều khoản số lợng: Ghi rõ số lợng, khối lợng, trọng lợng, quy cách, đơn
vị đo lờng... Nếu số lợng quy định khoảng chừng phải dự liệu theo một sai số có
thể chấp nhận đợc. Trọng lợng hàng hoá có thể tính cả trọng lợng bì hoặc không
(phải ghi rõ). Cũng có thể tính trọng lợng hàng hoá theo trọng lợng thơng mại tức
là có độ ẩm tiêu chuẩn.
+ Điều khoản phẩm chất: Hợp đồng phải ghi rõ tiêu chuẩn quy định phẩm
chất của hàng hoá, tính năng cơ, lý, hoá, công suất, hiệu suất (máy móc), thẩm
mỹ... để phân biệt hàng hoá này với hàng hoá khác. Cũng có thể căn cứ vào mẫu
mã hàng hoá và các tài liệu kỹ thuật, nhãn hiệu hàng hoá hay căn cứ vào một tiêu
chuẩn đợc công nhận trong tập quán Thơng mại Quốc tế.
+ Điều khoản bao bì: Điều quan trọng nhất trong kinh doanh Thơng mại

thoả thuận gì khác thì thời hạn này là lúc di chuyển rủi ro, tổn thất từ ngời bán
sang ngời mua. Giao hàng không đúng hạn có thể thiệt hại và phải bồi thờng. Có
ba kiểu quy định giao hàng: giao hàng có định kỳ, giao hàng không có định kỳ và
giao hàng ngay.
Phơng thức giao hàng: có thể quy định tiến hành tại một địa điểm nào đó,
có thể giao sơ bộ, giao cuối cùng hoặc có thể giao nhận về số lợng, chất lợng...
Thông báo giao hàng: các điều kiện về cơ sở giao hàng đã bao hàm nghĩa
vụ thông báo giao hàng. Tức là quy định nội dung và số lần thông báo khi ngời
bán giao hàng xong.
+ Điều khoản thanh toán trả tiền: trong việc thanh toán trả tiền hàng, các
bên thờng phải xác định những vấn đề về đồng tiền thanh toán, thời hạn trả tiển,
phơng thức trả tiền và các điều kiện đảm bảo hối đoái.
Đồng tiền thanh toán: giống nh các điều khoản trên quy định trong Thơng
mại Quốc tế, đồng tiền thanh toán phải là đồng tiền ổn định và tự do chuyển đổi đ-
ợc.
19
Thời hạn thanh toán: trong Thơng mại Quốc tế, bên nhập khẩu có thể trả
tiền trớc, trả tiền sau hoặc trả tiền ngay.
Phơng thức thanh toán: trong giao dịch Quốc tế, phơng thức thanh toán phổ
biến nhất là phơng thức nhờ thu và phơng thức tín dụng chứng từ. Phơng thức tín
dụng chứng từ đợc sử dụng rộng rãi và an toàn nhất. Nó là sự thoả thuận mà trong
đó một ngân hàng theo yêu cầu của bên mua trả tiền cho bên bán hoặc bất cứ ngời
nào theo lệnh của bên bán trong một thời hạn nhất định khi bên bán xuất trình bộ
chứng từ đầy đủ và đã thực hiện mọi yêu cầu đợc quy định trong một văn bản đợc
gọi là th tín dụng (letter of credit L/C). Có hai loại th tín dung: th tín dụng có thể
huỷ ngang (revocable L/C) và th tín dụng không thể huỷ ngang (ỉnevocable L/C).
Th tín dụng có thể huỷ ngang là loại L/C do ngân hàng mở (ngân hàng phát
hành L/C) có thể sửa đổi hoặc huỷ bỏ bất cứ lúc nào không cần báo trớc cho ngời
hởng lợi (bên bán). Th tín dụng không thể huỷ ngang là loại L/C mà trong thời hạn
hiệu lực của nó, ngân hàng mở không có quyền huỷ bỏ hoặc sửa đổi nội dung, đó

Quốc tế, đảm bảo uy tín của cả hai bên. Về mặt kinh doanh, trong quá trình thực
hiện các khâu công việc, đơn vị kinh doanh phải cố gắng tiết kiệm chi phí lu
thông, nâng cao tính doanh lợi và hiệu quả của các nghiệp vụ giao dịch.
Để thực hiện một hợp đồng nhập khẩu, đơn vị kinh doanh phải tiến hành
các khâu công việc sau:
3.1. Xin giấy phép nhập khẩu
Hiện nay, việc xin giấy phép nhập khẩu của các doanh nghiệp kinh doanh
XNK ở Việt Nam vẫn đợc áp dụng trong trờng hợp:
- Nếu là hàng hoá thuộc diện quản lý bằng hạn ngạch thì doanh nghiệp phải
xin giấy phép XNK của Bộ Thơng mại.
- Nếu là hàng hoá không thuộc diện quản lý bằng hạn ngạch thì doanh
nghiệp không cần phải xin giấy phép.
3.2. Mở L/C
Nếu hợp đồng nhập khẩu quy định thanh toán bằng L/C thì bên mua phải
lập L/C. Thời gian mở L/C nếu hợp đồng không quy định gì thì phụ thuộc vào thời
gian giao hàng, thông thờng thì L/C đợc mở khoảng 20-25 ngày trớc thời hạn giao
hàng. Cơ sở mở L/C là các điều khoản trong hợp đồng nhập khẩu. Ngời nhập khẩu
21
phải căn cứ vào đó để điền vào mẫu xin mở L/C gọi là giấy mở tín dụng khoản
nhập khẩu.
3.3. Thuê tàu lu cớc
Trong quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu, việc thuê tàu chở hàng đợc
tiến hành dựa vào ba căn cứ sau: những điều khoản của hợp đồng mua bán, đặc
điểm của hàng hoá nhập khẩu và điều kiện vận tải. Chủ hợp đồng phải chú ý tới
từng loại hàng hoá để thuê phơng tiện vận tải cho phù hợp. Hàng hoá có khối lợng
lớn thì thuê tàu chuyến, hàng hoá có khối lợng nhỏ thì thuê tàu chậm, hàng lỏng
thì thuê Tanker, hàng tơi sống thuê phơng tiện vận tải có thiết bị làm lạnh... Việc
thuê tàu, lu cớc đòi hỏi có kinh nghiệm nghiệp vụ, có thông tin về thị trờng thuê
tàu và tinh thông các điều kiện thuê tàu. Vì vậy thông thờng, chủ hàng thờng uỷ
thác việc thuê tàu, lu cớc cho một công ty vận tải chuyên nghiệp. Cơ sở pháp lý

vận tải, nớc giao dịch... kèm theo đó là giấy phép nhập khẩu, hoá đơn, bản kê chi
tiết để cơ quan hải quan kiểm tra thủ tục giấy tờ.
- Xuất trình hàng hoá: hàng hoá nhập khẩu phải đợc sắp xếp trật tự, thuận
tiện cho việc kiểm tra, mọi chi phí liên quan đến việc đóng mở hàng hoá, chủ hàng
phải chịu. Yêu cầu việc xuất trình hàng hoá phải đảm bảo trung thực.
- Thực hiện các quyết định của hải quan: nghĩa vụ của chủ hàng là phải
chấp hành mọi quyết định của hải quan về việc: nộp thuế trong vòng 30 ngày nếu
hàng hoá đợc nhập, hoặc nộp phạt nếu hàng hoá sai quy định, tịch thu nếu hàng
hoá nằm trong danh mục cấm nhập của Nhà nớc.
3.6. Kiểm tra hàng hoá nhập khẩu và giao nhận với tàu
Hàng nhập khẩu về qua cửa khẩu sẽ đợc kiểm tra kỹ càng, mỗi cơ quan tuỳ
theo chức năng của mình mà tiến hành công việc kiểm tra đó. Nếu phát hiện
những tổn thất, thiếu hụt, mất mát hay đổ vỡ cơ quan chức năng sẽ lập biên bản rõ
ràng. Ngời nhập khẩu với t cách là một bên đứng tên vận đơn th dự kháng nếu
nghi ngờ hoặc thực sự thấy hàng có tổn thất, yêu cầu lập biên bản giám định.
Theo quy định của Nhà nớc về việc giao dịch hàng với tàu, các cơ quan vận
tải, ga cảng có trách nhiệm nhận hàng hoá trên các phơng tiện vận tải vào ga cảng,
bảo quản hàng hoá đó trong quá trình xếp dỡ, lu kho, lu bãi và giao cho đơn vị
23
nhập khẩu theo lệnh của đơn vị ngoại thơng đã xuất khẩu hàng hoá đó. Thông báo
cho các đơn vị nhập khẩu ngày tàu về cảng.
3.7. Thanh toán
Đây là khâu trọng tâm, cuối cùng của tất cả các giao dịch, kinh doanh trong
Thơng mại Quốc tế.
Nếu hợp đồng quy định thanh toán bằng L/C, đơn vị mở L/C gửi giấy xin
mở tín dụng khoản nhập khẩu đến ngân hàng ngoại thơng cùng với hai uỷ nhiệm
chi: một uỷ nhiệm chi để ký quỹ theo quy định về việc mở L/C và một uỷ nhiệm
chi nữa để trả thủ tục phí cho ngân hàng ngoại thơng, đơn vị kinh doanh nhập
khẩu phải kiểm tra chứng từ và nếu thấy chứng từ hợp lệ thì trả tiền cho ngân
hàng, sau đó nhận chứng từ đi lấy hàng.

- Giảm giá hàng mà số tiền giảm giá đợc trang trải bằng hàng hoá giao vào
thời hạn sau đó.
Nếu việc khiếu nại không đợc giải quyết thoả đáng, hai bên có thể kiện
nhau tại hội đồng trọng tài (nếu có thoả thuận trọng tài) hoặc tại toà án.
25

Trích đoạn Một số đánh giá khái quát về hoạt động nhập khẩu của Côngty Dịch vụ Du lịch và thơng mại TST Phơng hớng kinh doanh của Côngty trong thời gian tớ Một số giải pháp kỹ thuật nghiệp vụ Một số giải pháp khác Một số kiến nghị đối với Nhà nớc và Bộ chủ quản
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status