bước đầu tìm hiểu chính sách ngoại giao của nhà nguyễn đối với phương tây trong giai đoạn 1802 - 1858 - Pdf 23



MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
4. Đóng góp của đề tài 3
5. Phương pháp nghiên cứu 4
6. Kết cấu của đề tài 4
CHƢƠNG 1: BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ TRONG NƢỚC TÁC ĐỘNG
ĐẾN CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO CỦA NHÀ NGUYỄN TRONG GIAI
ĐOẠN 1802 - 1858 5
1. Bối cảnh thế giới tác động đến chính sách ngoại giao của triều Nguyễn giai
đoạn 1802 - 1858 5
2. Bối cảnh trong nước tác động đến chính sách ngoại giao của triều Nguyễn giai
đoạn 1802 - 1858 8
CHƢƠNG 2: CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO CỦA NHÀ NGUYỄN ĐỐI
VỚI CÁC NƢỚC PHƢƠNG TÂY TRONG GIAI ĐOẠN 1802 – 1858 16
1. Chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn đối với người Pháp 16
2. Chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn đối với người Anh (1802 - 1858) 30
3. Chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn đối với Hoa Kỳ (1802 - 1858) 33
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH ĐÁNH GIÁ VỀ CHÍNH SÁCH
NGOẠI GIAO CỦA NHÀ NGUYỄN TRONG GIAI ĐOẠN 1802 - 1858 39
3.1 Đánh giá những mặt tích cực trong chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn
đối với phương Tây trong giai đoạn 1802 – 1858 39
3.2 Đánh giá những mặt hạn chế trong chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn
đối với phương Tây trong giai đoạn 1802 – 1858 41
KẾT LUẬN 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO

ngoại giao cảu các vương triều phong kiến Việt Nam thì đường lối ngoại giao
của nhà Nguyễn là một trong những vẫn vấn đề còn gây nhiều tranh cãi, chưa có
ý kiến thống nhất. Những vấn đề về hoạt động ngoại giao dưới triều Nguyễn đã
thu hút được sự chú ý của đông đảo học giả trong và ngoài nước. Chính sách 2
ngoại giao của nhà Nguyễn nhìn nhận một cách khách quan, tổng thể ta có thể
thấy nó đã đem đến lại những thành công song cũng mang lại nhiều hậu quả cho
đất nước Việt Nam dươi thời kì này. Từ vấn đề chính sách ngoại giao, người ta
tìm hiểu thấy được những mặt tích cực và hạn chế của chính sách này. Từ đó,
giúp ta có những bài học bổ ích để phục vụ cho công cuộc mở cửa của đất nước
ta hiện nay, cần phải phát huy những mặt nào và nên tránh những mặt nào. Do
vậy, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Bước đầu tìm hiểu chính sách ngoại giao của
nhà Nguyễn đối với phương Tây trong giai đoạn 1802 - 1858” làm đề tài nghiên
cứu để tìm hiểu sâu sắc hơn về vương triều Nguyễn, đặc biệt là chính sách ngoại
giao của triều Nguyễn trong giai đoạn này như thế nào đồng thời để đóng góp
một phần công sức của mình vào việc đánh giá vai trò của nhà Nguyễn trong
học tập và nghiên cứu lịch sử triều đại này và làm tài liệu giảng dạy sau này.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến này vẫn chưa có một công trình giới thiệu một cách có hệ thống và
tương đối toàn diện về hoạt động ngoại giao của triều Nguyễn. Đặc biệt, việc nhìn
nhận, đánh giá chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn còn nhiều ý kiến trái ngược
nhau. Hầu như các công trình nghiên cứu lịch sử trước đây chỉ giới thiệu về một số
hoạt động cơ bản trong chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn. Hơn nữa việc nhìn
nhận, đánh giá sự đúng sai của những chính sách đó còn mang nặng tư tưởng chủ
quan.
Ngày nay, có nhiều công trình nghiên cứu về đường lối ngoại giao của nhà
Nguyễn đứng trên quan điểm khoa học. Tuy nhiên, các công trình vẫn chưa thống
nhất về vẫn đề này. Trong đó có nhiều công trình đã được công bố như:

Đối tượng: Tìm hiểu về chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu chính sách ngoại giao của
nhà Nguyễn đối với phương Tây trong giai đoạn 1802 - 1858.
4. Đóng góp của đề tài
Đề tài đi sâu nghiên cứu chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn đối với
phương Tây trong giai đoạn 1802 - 1858
Làm tài liệu tham khảo trong học tập và nghiên cứu Lịch sử Việt Nam dưới
triều đại nhà Nguyễn - triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử nước ta. 4
Khẳng định vai trò của triều đình Nguyễn đối với dân tộc ta lúc bấy giờ,
những điểm tích cực và hạn chế trong chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn,
đặc biệt đối với các nước phương Tây trong giai đoạn 1802 - 1858.
5. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
Chủ yếu là tài liệu lấy từ thư viện trường Đại học Tây Bắc, thư viện trường
Đại học Quốc Gia Hà Nội.
Xuất phát từ những cơ sở phương pháp luận sử học macxit-leninnit, những
quan điểm giáo dục của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường
lối chủ trương của Đảng và Nhà nước. Đề tài được thực hiện chủ yếu bằng
phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Ngoài ra còn có các phương pháp
như: phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu,…
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, đề tài được kết
cấu thành ba chương:
Chương 1: Bối cảnh quốc tế và trong nước tác động đến chính sách ngoại
giao của nhà Nguyễn trong giai đoạn 1802 - 1858.
Chương 2: Chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn đối với các nước
phương Tây trong giai đoạn 1802 - 1858.
Chương 3: Một số nhận định đánh giá về chính sách ngoại giao của nhà

cho các nước lớn ngày càng cần nguyên, nhiên liệu, nguồn nhân công và thị
trường tiêu thụ hàng hoá hơn bao giờ hết. Chính lẽ đó chủ nghĩa tư bản đã tiến
hành bành trướng xâm lược thuộc địa.
Những cuộc phát kiến địa lí đã tìm ra những vùng đất mới đầy tiềm năng
có thể phục vụ cho tất cả mọi nhu cầu của chủ nghĩa tư bản. Trong đó, châu Á là
một lục địa hết sức giàu có về nguyên liệu, đặc biệt là những nguyên liệu mặt
hàng quý hiếm mà ở phương Tây rất đắt đỏ, chẳng hạn như hồ tiêu, dược liệu, tơ 6
tằm,… Khi đến với châu Á, đối tượng đầu tiên của chúng là nhằm vào khu vực
Đông Nam Á. Tuy vùng đất này không rộng lớn lắm nhưng chúng có ý nghĩa
hết sức quan trọng cả về kinh tế, chính trị, quân sự. Đầu tiên là Bồ Đào Nha, tiếp
đến là các cường quốc Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh, Pháp,…thiết lập các thương
điếm rải rác hầu hết các nước. Họ tiến hành thông thương, truyền đạo tại các
quốc gia khu vực này. Trong suốt quá trình xâm nhập và xâm lược từ thế kỷ
XVI đến thế kỷ XIX, chủ nghĩa thực dân lần lượt thôn tính các nước Đông Nam
Á. Malacca là “nạn nhân” đầu tiên bị thực dân Hà Lan xâm chiếm, mở đường
cho quá trình chinh phục Đông Nam Á của thực dân châu Âu. Tiếp đến là
Indonexia cũng bị rơi vào tay Hà Lan, sau đó là hàng loạt các quốc gia khác
trong khu vực (trừ Xiêm). Đông Nam Á trở thành nơi có nhiều thực dân xâm
lược nhất. Chúng xâu xé Đông Nam Á thành nhiều mảnh nhỏ để cùng nhau cai
trị, bóc lột bởi đây là một khu vực rất hấp dẫn, có tài nguyên thiên nhiên phong
phú, vị trí địa lí thuận lợi, có nguồn dân số đông,… Đông Nam Á được chúng
coi là một “viên ngọc” khổng lồ nằm ở phía Nam châu Á.
Ở Nam Á, Ấn Độ trở thành mục tiêu của các cuộc xâm lược của thực dân
châu Âu. Bồ Đào Nha là cường quốc thực dân đầu tiên đến xâm lược Ấn Độ, sau
đó đến Hà Lan, Anh, Pháp và các quốc gia khác cũng muốn đặt chân lên vùng đất
phì nhiêu này. Đến thế kỷ XVIII, Anh đã loại bỏ hết các đối thủ để đặt nền thống trị
tại đây.

mới thì những ông vua của các nước châu Á không quan tâm đến tình hình,
những biến động của thế giới. Điển hình như triều đình phong kiến nhà Thanh
(Trung Quốc) hay triều đình phong kiến Nguyễn (Việt Nam). Điều này cũng tạo
điều kiện cho thực dân phương Tây tiến hành bành chướng xâm lược.
Là một nước lớn nằm ở phía bắc Việt Nam nhưng đến giữa thế kỷ XIX,
triều đình phong kiến Trung Hoa cũng đang vào giai đoạn khủng hoảng, suy tàn.
Vua quan triều Thanh chỉ biết ăn chơi hưởng thụ, không chăm lo đến nhân dân,
không quan tâm đến vận mệnh đất nước. Trong khi đế quốc tư bản Âu - Mĩ ráo
riết tiến hành xâm lược các nước Đông Á. Trung Quốc trở thành một miếng mồi
ngon béo bở mà đế quốc tư bản phương Tây nào cũng thèm muốn có được.
Cuộc chiến tranh thuốc phiện xảy ra, mở đầu cho quá trình xâm lược của đế
quốc tư bản với Trung Quốc. Từ lâu, các nước Âu - Mĩ đã nhòm ngó đến Trung
Quốc đặc biệt là Anh. Trong khi triều đình Mãn Thanh thực hiện chính sách 8
“đóng cửa” ngoại thương thì người Anh đã dùng những mặt hàng đặc biệt là
thuốc phiện để tăng cường cho vào thị trường Trung Quốc với tốc độ nhanh
chóng. Như vậy, tình hình Trung Quốc lúc này trì trệ trên tất cả các mặt kinh tế,
văn hoá, chính trị, xã hội, giáo dục,…Tình hình của Trung Quốc có tác động
trực tiếp đến chính sách ngoại giao của triều Nguyễn ở Việt Nam.
2. Bối cảnh trong nƣớc tác động đến chính sách ngoại giao của triều
Nguyễn giai đoạn 1802 - 1858
Trong khi các nước tư bản phương Tây ngày càng phát triển thì tình hình
Việt Nam vào giữa thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX lại không ổn định. Chiến tranh
Trịnh - Nguyễn (1627 – 1775), chiến tranh Nam Bắc triều (1533 – 1592), phong
trào đấu tranh của nông dân Tây Sơn lật đổ các tập đoàn phong kiến trên để lập
nên triều Tây Sơn, cuối cùng là sự phục thù của dòng họ chúa Nguyễn lật đổ
triều Tây Sơn lập nên triều đại mới - triều đại phong kiến Nguyễn. Mặc dù nội
chiến kéo dài triền miên hơn 300 năm song tình hình kinh tế, chính trị cũng có

Sau khi Gia Long lên ngôi, phong trào đấu tranh của nhân dân nổi dậy
chống triều Nguyễn đã bùng nổ. Các cuộc đấu tranh nổ ra rầm rộ, lan rộng trong
cả nước, đặc biệt là các dân tộc ít người ở miền núi. Theo tính toán của các nhà
nghiên cứu, dưới thời Nguyễn có đến 500 cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ các loại,
riêng thời Gia Long có khoảng 90 cuộc, thời Minh Mạng có khoảng 250 cuộc,
thời Thiệu Trị có khoảng 50 cuộc,…Với các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu như Phan
Bá Vành, Nông Văn Vân, Lê Văn Khôi,…
Bên cạnh những mặt tích cực mà các vua Nguyễn đã làm được song cũng
nhiều khó khăn. Lợi dụng những khó khăn của tình hình đất nước và chính sách
cấm đạo của nhà Nguyễn, thực dân phương Tây, đặc biệt là Pháp đã tăng cường
can thiệp ngày càng mạnh mẽ vào Việt Nam
Từ lâu, Việt Nam đã nằm trong tầm ngắm của các nước tư bản phương
Tây. Bởi Việt Nam có một vị trí chiến lược quan trọng, có đường bờ biển dài
1260 km nối liền Trung Quốc với vịnh Thái Lan, nằm xen giữa hai nước lớn là
Trung Quốc và Ấn Độ, là vị trí lí tưởng cho các nhà hàng hải, thương gia với các
hải cảng và đảo quan trọng như: Phú Quốc, Hoàng Sa, Côn Đảo,…Đặc biệt điều
kiện tự nhiên Việt Nam rất thuận lợi để trồng những loại cây hương liệu quý
hiếm mà người Phương Tây rất ưa chuộng như chè, hồ tiêu, điều,…Việt Nam có
lịch sử địa chất phát triển lâu đời hình thành nên những mỏ khoáng sản có giá trị 10
về mặt kinh tế cùng với đó là tình hình chính trị, kinh tế, xã hội không ổn định
đã làm cho Việt Nam trở thành mục tiêu mà nhiều nước tư bản phương Tây
hướng tới, trong đó có các thương nhân người Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh,
Pháp,…
Từ bối cảnh thế giới và trong nước đã tác động đến chính sách ngoại giao
của các ông vua triều Nguyễn trong giai đoạn 1802 - 1858, hay nói cách khác
hoàn cảnh thế giới và trong nước nửa đầu thế kỷ XIX đã quy định chính sách
ngoại giao của vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Do đặc điểm lịch

Tự Đức. Như vậy thực tế ta thấy chính sách “cấm đạo”, “giết đạo” là một trong
những nguyên cớ để thực dân Pháp tiến hành xâm chiếm Việt Nam, mở đầu
bằng sự kiện ngày 1/9/1858 thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm bán đảo Sơn Trà
(Đà Nẵng), đưa lịch sử Việt Nam sang một trang mới, chấp nhận với thân phận
là một nước nô lệ, lệ thuộc và là một thuộc địa tiềm năng cho thực dân Pháp tiến
hành khai thác.
Mặc dù có những đặc điểm chung song bối cảnh thế giới và trong nước đã
tác động đến từng thời kì tạo nên nét đặc trưng trong chính sách ngoại giao của
từng đời vua.
Dưới triều vua Gia Long, đề phòng sự bành trướng của phương Tây đến
Việt Nam, ông đã hạn chế tối đa những cuộc tiếp xúc ngoại giao với các nước tư
bản Âu - Mỹ.
Đối với Pháp, do những ràng buộc tình cảm cá nhân của nhà vua Việt Nam
với Bá Đa Lộc người Pháp nên Gia Long phải hoạch định một đường lối ngoại
giao mềm dẻo, khôn khéo. Gia Long phân biệt rạch ròi quan hệ với nước Pháp
và người Pháp. Đối với nước Pháp, vua Gia Long vô cùng thận trọng trong giao
tiếp. Ông mềm mỏng, linh hoạt trong mọi tiếp xúc, nhưng nguyên tắc cứng rắn,
kiên quyết từ chối mọi yêu cầu phi lí của Pháp. Đối với người Pháp đã từng
quan hệ với ông, Gia Long luôn biệt đãi, nhưng thật tâm ông chẳng quý trọng gì
cả người Âu lẫn đạo Thiên Chúa.
Trên thực tế, Gia Long không có ý định thiết lập mối quan hệ chính thức
với Phương Tây, nhưng với những liên hệ đã có trước với người Pháp, Gia Long
không thể cự tuyệt thẳng thừng quan hệ với nước này. Ông đã cố gắng thể hiện
một sách lược ngoại giao mang tính “lưỡng xứ”, dung hoà và cố gắng rút
khoảng cách giữa Việt Nam và những người Pháp, đặc biệt là những người Pháp 12
trong bộ máy nội các của triều đình. Đường lối trị nước của vua Gia Long hoàn
toàn độc lập không bị chi phối bởi những người Pháp tại triều đình. Toàn cảnh

13
Minh Mạng biết vận mệnh đất nước đang trong tình trạng như thế nào. Nhà vua
của triều Nguyễn đã ý thức được nguy cơ xâm lược đang đe doạ nền độc lập dân
tộc, chủ quyền lãnh thổ của đất nước. Đó là những lí do sâu sa khiến ông quyết
định điều chỉnh đường lối ngoại giao cổ truyền tự thủ, thụ động sang đường lối
ngoại giao cởi mở hợp tác với phương Tây trong những năm tháng cuối đời của
mình.
Cuộc chiến tranh thuốc phiện lần thứ nhất của Trung Quốc cùng với việc
bài đạo kéo dài ở trong nước gây rối ren xã hội là hai nguyên nhân lay động cái
tư tưởng “bất biến”, “bất dịch” trong ý thức vua quan nhà Nguyễn. Minh Mạng
hiểu rõ, nếu tiếp tục giữ đường lối đối ngoại như cũ, một cuộc xung đột Việt -
Pháp có thể xảy ra như ở Trung Quốc. Ông cho rằng: “nên thăm dò ý đồ các
nước châu Âu hầu đi đến một thoả hiệp về đạo Thiên Chúa, cũng như về buôn
bán”[10;tr53].
Trước những nhận thức của mình một mặt Minh Mạng cho phòng vệ ở
những nơi hiểm yếu như: đặt thêm pháo đài Phòng Hải tại cửa biển Đà Nẵng,
xây dựng pháo đài Kì Hổ ở cửa biển Thị Nại (Bình Định), đặt đồn bảo và chia
phát lính thú tuần phòng ở Côn Lôn và Phú Quốc. Hơn nữa, Minh Mạng cũng
hiểu cần phải tăng cường thăm dò dự định của các cường quốc ở châu Âu để sửa
đổi chính sách đối ngoại của mình. Mặt khác, đường lối ngoại giao của ông đối
với người phương Tây cũng đã có chiều hướng “tích cực” hơn, cụ thể là tiến
hành thăm dò tin tức cũng như nối lại các mối liên lạc với các nước phương Tây.
Giai đoạn 1838-1840 được coi là thời kì định hợp tác quốc tế của vua Minh
Mạng
Ngày 12/2/1841, Thiệu Trị lên ngôi. Ngay từ khi mới lên ngôi, Thiệu Trị đã
phải đối mặt với tình hình khó khăn trong nước và thế giới.
Trong nước thì các cuộc khởi nghĩa của nông dân liên tục diễn ra. Những
cuộc đàn áp đẫm máu của triều đình nhà Nguyễn đã làm cho tình hình trong
nước thêm
rối ren mất ổn định.

các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục,…Do đó, phong trào đấu tranh
của nông dân ngày càng phát triển. Việc Tự Đức lên ngôi đã gây nên một phản 15
ứng mạnh mẽ của những người cùng cha khác mẹ làm cho nội bộ vương triều
mâu thuẫn.
Trong lúc này ở bên ngoài, các nước tư bản phương Tây, đặc biệt là thực
dân Pháp đang có điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh công cuộc xâm lược Việt
Nam bằng bạo lực. Chính sách “cấm đạo”, “giết đạo” từ thời Minh Mạng cũng
là tiền đề cho sự can thiệp của thực dân Pháp tại Việt Nam.
Trước tình hình đó, Tự Đức không có sự thay đổi mà ngược lại, tiếp tục
thực hiện một chính sách ngoại giao với phương Tây cứng rắn và cực đoan thể
hiện qua chính sách “cấm đạo” và “sát đạo” gắt gao của Tự Đức. Có thể nói,
đường lối ngoại giao “không phương Tây” của Tự Đức đã gây khó khăn cho
giáo hội và tư bản Pháp và Pháp đã mượn cớ đó để can thiệp quân sự vào Việt
Nam.
Chính những biến đổi mạnh mẽ của tình hình thế giới cũng như khu vực đã
tác động đến chính sách ngoại giao của tất cả các nước trong đó có cả Việt Nam.
Việt Nam đang chìm đắm trong chế độ phong kiến bước vào thời kì khủng
hoảng suy tàn. Chủ nghĩa tư bản phát triển, quá trình xâm lược thuộc địa được
đẩy mạnh. Để có thể bảo vệ được độc lập, chủ quyền đất nước tất cả phụ thuộc
vào chính sách ngoại giao của các vị vua triều Nguyễn. Với mỗi một quốc gia
triều Nguyễn có chính sách ngoại giao khác nhau phù hợp với tình hình. Như
vậy hoàn cảnh lịch sử tác động quy định đến chính sách ngoại giao.
Tuy nhiên, do những sai lầm ngay từ đầu trong việc dựa vào các thế lực
bên ngoài để khôi phục ngai vàng nên Gia Long tỏ ra lúng túng trong đường lối
ngoại giao với các nước phương Tây nhất là Pháp. Trên thực tế chính sách ngoại
giao của Gia Long không phải là một chính sách đóng cửa hoàn toàn. Chính 17
sách ngoại giao của Gia Long đối với phương Tây mang tính hai mặt: bên ngoài
thì mềm dẻo, hoà hoãn, bên trong thì thực hiện chính sách đóng cửa để tự vệ
nhưng ông vẫn có những ưu đãi đặc biệt đối với Pháp. Gia Long vẫn cố né tránh
được những cam kết thắt chặt quan hệ ngoại giao chính trị đối với Pháp.
Như vậy, thực chất là thực hiện chính sách “đóng cửa”, “không phương
Tây” nhưng do nhận được sự giúp đỡ của người Pháp nên kể từ khi vua Gia
Long lên ngôi thì ông luôn tỏ lòng biết ơn đối với Pháp. Ông đã trả ơn những
người Pháp có công giúp ông bằng cách giữ lại một vài người quan trọng trong
triều như Jean Baptiste Chaigneau, Philippe Vannier, de Forsans, Despiau.
Những người này được đối đãi rất hậu, phong cho họ các chức võ quan cao cấp,
được mang tên Việt như Vannier là Chấn, de Forsans là Lê Văn Lang…Để tỏ
lòng sùng ái Gia Long ra lệnh miễn cho họ lệ mỗi khi vào chầu không phải sụp
lạy năm lần như các quan lại người Việt mà chỉ cần khấu đầu năm vái. Nhà vua
còn cấp cho họ mỗi người một đội lính hầu 50 người hoàn toàn thuộc quyền sai
phái. Những người này tuy làm quan triều Nguyễn nhưng họ không bao giờ
quên “nước mẹ”, họ tìm mọi cơ hội để phục vụ quyền lợi của chính quốc Pháp.
Năm 1805, nhưng người này đã tiến hành thành lập Toà lãnh sự Pháp ở Huế
[13;tr57].
Ngày 25/11/1801, nguyên toàn quyền của Pháp đã báo cáo về nước đề nghị
chính phủ Pháp gửi gấp sứ thần và tàu chiến sang Việt Nam để “kí kết một hiệp
ước liên minh hữu nghị và thương mại” với chúa Nguyễn. Tuy nhiên do hai bên
đang “bận rộn” đối đầu với những công việc cấp bách trong nước nên việc kí kết
tạm được gác lại [13;tr58].

giao giữa Pháp và triều Nguyễn Gia Long rất tốt đẹp, “thái độ Gia Long niềm
nở đón tiếp, hàng hóa mang sang bán hết và được thanh toán song phẳng, đến
lúc ra về còn được nhiều hàng quý như: đường, trà, bạc nén,…” [1;tr519]. Nhìn
chung, dưới thời Gia Long các tàu buôn Pháp sang Việt Nam thông thương,
buôn bán khá dễ dàng và thuận lợi.
Trong khi quan hệ buôn bán giữa hai nước đang phát triển thì có sự kiện
không thể không làm cho Gia Long khỏi nghi đề phòng ý đồ của người Pháp đó
là: năm 1817, tàu Pháp đến của Hàn mang theo quà biếu và nhắc đến hiệp ước
1787. Gia Long cho tiếp đãi tử tế, nhưng ông không cho thuyền trưởng triều 19
kiến và không nhận tặng phẩm với lý do không có quốc thư. Người Pháp đã thất
bại trong cuộc ngoại giao này bởi Gia Long đã thấy được những âm mưu của
Pháp. Song bất chấp sự thất bại, Pháp vẫn tăng cường ráo riết thiết lập mối quan
hệ buôn bán ngày càng thường xuyên hơn với Việt Nam.
Ngày 17/9/1817, thủ tướng Pháp là Richelieu tìm cách liên lạc với
Chaigneau và Vannier. Ông đề nghị Chaigneau cung cấp những tin tức cần thiết
về triều Nguyễn. Thực tế, sau sự kiện này triều đình Huế đã có sự lo ngại trước
các cuộc viếng thăm của các phái đoàn, tàu buôn và chiến hạm Pháp. Xét cho
cùng chính triều Nguyễn cũng sợ hãi một sự quan hệ với kẻ mạnh hơn mình, sợ
một hoà ước có tính chất đầu hàng như Hào ước 1787. Vì vậy, mọi quan hệ kinh
tế riêng lẻ và tư nhân triều Nguyễn hoàn toàn có thể thoả mãn nhưng kí kết dù là
thoả ước gì cũng đáng nghi ngại.
Để thắt chặt hơn nữa hoạt động ngoại giao giữa năm 1818, Gia Long
chuẩn y cho các thương nhân các nước phương Tây đến buôn bán ở Gia Định
được nộp thuế cảng và thuế hàng hóa bằng bạc ngoại quốc, hoặc bằng nửa bạc
nửa tiền, hoặc toàn bằng tiền đều được cả. Thuế thuyền nước ngoài đến buôn
bán từ năm 1818 định ngạch ở hai nơi, Thuận An, Đà Nẵng và Gia Định khác
nhau. Tới buôn ở Gia Định thuyền chiều ngang từ 25 thước đến 14 thước, mỗi

Trong suốt thời kỳ trị vì của mình, Gia Long chủ trương dung hoà. Ông
không thể chống đạo một cách công khai, cũng không thể “cải đạo”. Gia Long
đã nhìn thấy trong Thiên Chúa có một thế lực có thể tranh chấp vương quyền.
Ông cũng thấy được trong đạo Thiên Chúa mối liên hệ dẫn tới sự nguy hại độc
lập quốc gia và quyền lợi của nhà Nguyễn bị đe doạ trực tiếp. Sự phát triển của
đạo Thiên Chúa sang Việt Nam cũng là mục tiêu của người Pháp. Ngay từ đầu
nhòm ngó vào Việt Nam, các giáo sĩ và thương nhân Pháp đã hợp tác chặt chẽ
với nhau, giáo sĩ đi trước dọn đường cho thương nhân tư bản Pháp và sau đó là
sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân Pháp. Bản thân Gia Long ngay từ đầu cũng
đã nhận thức được điều này. Ông hiểu rõ hơn ai hết những mối nguy hiểm của
những kẻ đi truyền đạo, sự ảnh hưởng của đạo Thiên Chúa đối với hoàng tử
Cảnh và các con dân của mình. Dù biết như vậy, Gia Long không thể cấm đạo
được bởi Gia Long đang phải chịu ơn của người Pháp, nhưng qua điều lệ Hương
Đảng cho các xã dân ở Hà Bắc, ông cũng tỏ rõ thái độ của mình đối với đạo
Thiên Chúa. Để đảm bảo mối quan hệ với Pháp, Gia Long cố gắng đứng ngoài 21
việc chống đạo. Đây là chủ trương nhằm giữ nguyên hiện trạng đạo Thiên chúa,
không xoá bỏ triệt tiêu, song cũng không cho phát triển thêm.
Như vậy, hướng giải quyết của Gia Long trong những năm ở ngôi báu là
dàn xếp ổn thoả quan hệ với Pháp, dễ dãi tạo điều kiện cho thương nhân Pháp
làm ăn, còn đối với đạo Thiên Chúa ông đề nghị theo hướng đạo này nên dung
nạp thêm lễ tục thờ cúng tổ tiên và các tín đồ Thiên Chúa giáo nên gần gũi với
dân chúng bên lương hơn nữa. Thực chất Gia Long không hề chống lại các giá
trị vật chất, tinh thần của giáo hội phương Tây, nhưng ông cũng bảo vệ những
giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam. Rõ ràng là ngay từ khi lên nắm quyền
Gia long đã thực thi chính sách ngoại giao khá thận trọng với Pháp nhằm hạn
chế tới mức tối đa sự can thiệp của Pháp vào công việc nội bộ của Việt Nam.
Điều đó đã làm cho quan hệ giữa triều Nguyễn với nước Pháp thời Gia Long còn

Năm 1821 Chaigneau được Pháp cử sang làm lãnh sự ở Việt Nam, đồng
thời làm khâm sai đem phẩm vật và đưa quốc thư Pháp đến triều đình thông
thương với Việt Nam. Chaigneau sang thì Minh Mạng đã lên làm vua thay cho
Gia Long. Minh Mạng cho viết thư chả lời vua Pháp là hai nước Việt Nam và
Pháp không việc gì phải làm điều ước thương mại, tới buôn bán ở Việt Nam thì
cứ theo luật pháp của Việt Nam là được [2;tr156]
Ngày 17/5/1821, tàu Larose chở phái đoàn lãnh sự Pháp tới Việt Nam dâng
thư cùng lễ vật lên vua Minh Mạng. Vua Việt Nam cho phép tàu buôn của Pháp
tới Việt Nam buôn bán nhưng từ chối thiết lập một thương ước giữa hai nước.
Minh Mạng gửi cho Bộ trưởng Bộ ngoại giao Pháp một bức thư đề cập đến vấn
đề xa cách giữa hai nước. Tuy Pháp và Việt Nam từ lâu có giao thiệp, nhưng gần
đây vì ít liên lạc nên không có người nào tại triều để dịch và hiểu đúng bức thư
của giáo Hoàng. Còn vấn đề thông thương thì có thể giải quyết theo lối thông
thường: xuất cảng, nhập cảng, nước Đại Nam đã có lệ định rõ ràng, các nước
ngoài vẫn áp dụng xưa nay,…[15;tr92]. Ngay lần đầu tiên Minh Mạng đã phủ
nhận việc giao hảo với người Pháp. Chính phủ Pháp đã hi vọng đạt được vài kết
quả tốt về thông thương nhưng không ngờ sứ giả của vua Pháp nhận lại được sự
bất hợp tác của triều đình Huế.
Năm 1822, một tàu chiến của Pháp là tàu Cléopâtre do đại tá Ville Hélio
đến Đà Nẵng xin được tiếp kiến vua Việt Nam qua chức vụ đặc sứ của vua
Pháp. Mặc dù Chaigneau đã tìm đủ mọi cách vận động nhưng Minh Mạng vẫn 23
từ chối không cho vào yết kiến. Nguyên nhân mà Minh Mạng từ chối là do tàu
chiến của Pháp chở cả các giáo sĩ ngoại quốc và định lợi dụng không ai theo dõi
sẽ thả các giáo sĩ xuống bờ để hoạt động tryền giáo.
Năm 1824, vua Pháp Louis XVIII phái hai chiến thuyền đến Việt Nam
dâng quốc thư và vật phẩm xin giao hiếu và thông thương nhưng Minh Mạng
cũng từ chối đồng thời không nhận thư, vật phẩm của vua Pháp. Những hành

kết một thương ước Việt - Pháp, Minh Mạng trả lời dứt khoát: “nước Đại Nam
đã có lệ định rõ ràng, các nước ngoài đã áp dụng xưa nay, nếu muốn khỏi phiền
phức cho cả hai bên, quả nhân tưởng không nên lập thêm, hay là lập riêng một
thương ước khác” [15;tr32]. Ngay cả hai người Pháp còn lại của triều đình cũng
bị xa lánh, lạnh nhạt. Năm 1825, hai ông này xin trở về Pháp vĩnh viễn.
Tuy từ chối các thương ước nhưng ông không cấm tàu bè thương nhân
Pháp và các nước khác đến Việt Nam buôn bán. Tuy triều Nguyễn đã từ chối
việc thiết lập một thương ước nhưng Pháp vẫn không từ bỏ. Song tất cả các
chuyến đi của người Pháp đến Việt Nam đều không thành công trong việc
thương thuyết về một cam kết với nhà Nguyễn. Đối với những cuộc tiếp xúc phi
chính trị vua Minh Mạng không hề ngăn cản một cách phi lí. Đối với tàu buôn
của ngoại quốc tới Việt Nam mà gặp khó khăn thì vua có chủ định giúp đỡ tận
tình, tạo điều kiện cho họ sớm hoạt động trở lại.
Vua Minh Mạng không ký kết những văn bản trên lĩnh vực kinh tế, ngoại
giao với Pháp nhưng từ năm 1820 - 1825, việc buôn bán và truyền đạo tại Việt
Nam của Pháp không hề bị ngăn cấm.
Năm 1829, Eugene Chaigneau được cử sang Việt Nam làm lãnh sự nhưng
vua Minh Mạng không chấp nhận. Trong thời gian này Tòa lãnh sự Pháp tại Huế
bị vô hiệu và đến năm 1830 thì bị đóng cửa vĩnh viễn. Tháng 12/1830, Eugene
lại sang Việt Nam và cũng không thành công trong nhiệm vụ ngoại giao của
mình [15;tr100].
Năm 1830 là năm ghi nhận sự cố gắng cuối cùng của Pháp với sự kiện đại
tá Laplace được cử đến Việt Nam xin thông thương song viên đại tá này đã có
những hành động sai trái. Đến tháng 1/1831, triều Nguyễn hạ lệnh trục xuất
chiếc tàu Laplace. Năm 1830 có thể coi là cột mốc đánh dấu sự chấm dứt các cố
gắng ngoại giao của chính phủ Pháp hòng kí kết các thoả ước kể cả ngoại giao

Trích đoạn Đánh giá những mặt hạn chế trong chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status