Lời Mở đầu
Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã phải đối mặt với biết bao khó khăn,
thử thách: Nền kinh tế chuyển từ cơ chế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị
trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, ảnh
hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực; những thiên tai
nặng nề liên tiếp xảy ra,tuy nhiờn dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và
Nhà Nước,nước ta đã và đang từng bước vượt qua nhưng khó khăn thử thỏch
đó và giành được những thành tựu to lớn như đã đưa đất nước ra khỏi khủng
hoảng kinh tế - xã hội, kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ sở vật chất - kỹ thuật
được tăng cường, đời sống của các tầng lớp nhân dân không ngừng được cải
thiện, thực hiện có kết quả chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, cơ
cấu kinh tế ngành, vựng cú sự chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, đạt được những kết quả tích cực trong hội nhập kinh tế khu
vực và thế giới. Đặc biệt là, nước ta đã tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á (ASEAN) ngày 28-7-1995, đã không ngừng mở rộng các quan hệ
kinh tế song phương, tiểu vựng, vựng, liờn vựng và tiến tới tham gia liên kết
kinh tế toàn cầu. Đến năm 2005, nước ta đã có quan hệ thương mại với 221
nước và vùng lãnh thổ, ký 90 hiệp định thương mại song phương, trong đó,
nổi bật là Hiệp định Thương mại với Mỹ, tạo điều kiện mở rộng giao lưu hàng
hoá với nước ngoài và sẵn sàng ra nhập tổ chức thương mại quốc tế, hơn nữa
ngày 11-1-2007, Việt Nam trở thành thành viên 150 của tổ chức Thương mại
thế giới (WTO),cho tới bây giờ sau 5 năm hội nhập kinh tế thế giới Việt Nam
đã đạt được những thành công bước đầu, , kinh tế vĩ mô Việt Nam cơ bản ổn
định, duy trì tốc độ tăng trưởng, tiềm lực và quy mô kinh tế tăng lên. Việt
Nam đã ra khỏi tình trạng nước kém phát triển.
Cùng với sự tăng trưởng và phát triển không ngừng của nền kinh tế, nhu cầu
vốn đã và đang là một nhu cầu vô cùng cấp thiết cho việc xây dựng cơ sở hạ
1
tầng, trang thiết bị cũng nh chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tín dụng trung- dài
hạn là công cụ đắc lực để đáp ứng nhu cầu đó.
Trên nền tảng đó NHTM với tư cách là trung tâm tiền tệ - tín dụng của nền
những định nghĩa khác nhau về Ngân hàng.
Ở Việt Nam, theo quy định tại luật các tổ chức tín dụng thì Ngân hàng
được định nghĩa như sau: “ Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền
tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng
với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp
vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán .”
1.1.2 CHỨC NĂNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Chức năng trung gian tín dụng
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của
ngân hàng thương mại. NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và
người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa
đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi
nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp
phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay.
Chức năng trung gian thanh toán
3
NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện
các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền
gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền
gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ.
Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi
như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín
dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức
thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong
túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa
mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh
toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian,
lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này đã thúc đẩy lưu thông hàng
hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát
triển kinh tế.
hoạt động góp vốn, mua cổ phần của các công ty, liên doanh liên kết, mua bán
chứng khoán, cổ phiếu, trái phiếu nhằm đa dạng hoá danh mục đầu tư, giảm
thiểu rủi ro, đem lại nhiều lợi nhuận cho các ngân hàng.
Các hoạt động khác
NHTM thực hiện các uỷ nhiệm của khách hàng trong giao dịch thanh toán,
chuyển tiền, thu hộ, tư vấn , môi giới và nhận một khoản thu nhập về việc làm
trung gian đó.
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN
1.2.1 Khái niệm cho vay trung và dài hạn :
5
Trong hoạt động kinh doanh của NHTM, tín dụng trung hạn được hiểu là
loại tín dụng có thời gian hoàn vốn từ 1 đến 5 năm, được sử dụng để thực hiện
các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. Tín
dụng NH trung hạn được cấp cho khách hàng để mở rộng cải tạo, khôi phục,
hoàn thiện, hợp lý hoá quy trình công nghệ, quy trình sản xuất.
Tín dông NH dài hạn là loại tín dụng có thời gian hoàn vốn trên 5 năm,
được sử dụng để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ và đời sống. Hình thức tín dụng này được NHTM cấp cho khách hàng
nhằm hỗ trợ việc xây dựng mới, mở rộng hoặc hoàn thiện quy trình công
nghệ, quy trình sản xuất.
1.2.2 Các loại hình cho vay trung và dài hạn
a. Cho vay theo dự án đầu tư:
Đây là hình thức tín dụng trung dài hạn chủ yếu của các ngân hàng thương
mại Việt Nam hiện nay. Dự án đầu tư là tợp hợp những đề xuất dựa trên cơ sở
căn cứ khoa học và thực tiễn về việc bỏ vốn để cải tạo đổi mới kỹ thuật và
công nghệ những đối tượng là tài sản cố định nhằm đạt được sự tăng trưởng
về số lượng hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ
trong một khoảng thời gian nhất định.
Dựa vào lĩnh vực tài trợ mà ta chia làm hai hình thức phổ biến:
-) Hình thức tín dụng trung dài hạn nhằm cải tạo, khôi phục, mở rộng, thay
hàng thường mang lại cho ngân hàng các khoản thu nhập lớn. Biểu hiện cụ
thể đó là lãi xuất các khoản cho vay tín dụng trung dài hạn rất cao.
c. Vốn đầu tư lớn, thời gian dài, thu hồi vốn chậm.: Nếu như tín dụng ngắn
hạn tài trợ chủ yếu cho các tài sản lưu động của doanh nghiệp và được hoàn
trả trong thời hạn ngắn( dưới 1năm) thì tín dụng trung dài hạn phần lớn tài trợ
cho bất động sản, công cụ lao động, hay đổi mới công nghệ của doanh nghiệp.
7
Do đó việc tài trợ này còn đòi hỏi một khối lượng vốn lớn, thời gian đầu tư
dài.
1.2.4 Vai trò của cho vay trung- dài hạn.
a. Vai trò của tín dụng trong hoạt động cho vay trung và dài hạn đối với các
doanh nghiệp
- Cho vay trung và dài hạn là nguồn tài trợ giúp doanh nghiệp có điều kiện
mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường. Bất cứ doanh nghiệp nào cũng
muốn mở rộng thị trường hoạt động của mình và nếu vậy phải mở rộng sản
xuất. Mở rộng sản xuất không phải là hoạt động mà doanh nghiệp có thể tiến
hành một sớm một chiều. Đó là hoạt động lâu dài và cần có nguồn vốn dài
hạn. Nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng đủ vốn để tiến hành mở rộng
sản xuất kinh doanh. Do vậy nhu cầu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh đối
với doanh nghiệp rất cần thiết
-Cho vay trung và dài hạn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đổi mới công
nghệ, thay đổi cơ cấu sản xuất. Điều đó giúp doanh nghiệp thích nghi với tình
hình thị trường cũng như đặc thù của chính doanh nghiệp tạo điều kiện cho
doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn. Về dài hạn, các doanh nghiệp luôn
chú trọng đến việc mở rộng sản xuất, xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy
móc, đổi mới công nghệ để không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng sản
phẩm và giảm chi phí đến mức tối thiểu.
- Cho vay trung và dài hạn còn là trợ thủ đắc lực của doanh nghiệp trong
việc thoả mãn và chớp cơ hội kinh doanh. Khi có cơ hội kinh doanh, các
doanh nghiệp có thể nhanh chóng vay vốn của Ngân hàng để mở rộng sản
hạn cả về số lượng và chất lượng là hoạt động mang tính chiến lược của các
9
Ngân hàng Thương mại. Với những khoản tín dụng trung và dài hạn có quy
mô lớn và lãi suất cao, thời gian dài, tín dụng trung và dài hạn mang lại lợi
nhuận chủ yếu cho Ngân hàng. Do vậy tín dụng trung và dài hạn mang lại thu
nhập chủ yếu trong tổng thể các hoạt động của Ngân hàng Thương mại từ
trước đến nay.
- Khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng chính là ngân hàng đang
tạo ra và duy trì khách hàng của mình trong tương lai. Tạo điều kiện để Ngân
hàng mở rộng phạm vi hoạt động của mình và ngày càng khẳng định vai trò,
vị thế của mình trong nền kinh tế. Khi Ngân hàng không đa dạng hoá hoạt
động cho vay, đa dạng hoá khách hàng, thời hạn vay tiền thì ngân hàng không
thể đứng vững được trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt
của các Ngân hàng khác. Mặt khác, tín dụng trung và dài hạn còn là công cụ
cạnh tranh hiệu quả của Ngân hàng nhằm thu hút khách hàng về phía mình.
Khi có được mối quan hệ, Ngân hàng có điều kiện lôi kéo khách hàng sử
dụng các dịch vụ khác do mình cung cấp
- Mặt khác cho vay trung và dài hạn còn là cách thức khả thi để giải
quyết nguồn vốn huy động còn dư thừa tại mỗi ngân hàng thương mại. Đồng
thời là cách để Ngân hàng gọi vốn từ nền kinh tế đáp ứng nhu cầu về vốn cho
các doanh nghiệp. Vì vậy cần phải nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài
hạn để giải quyết vấn đề huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, thu được lợi
nhuận qua đó phát triển hoạt động của mình, tăng cường khả năng cạnh tranh
với các Ngân hàng khác.
1.3 Chất lượng tín dụng trong hoạt động cho vay trung và dài hạn
1.3.1 Chất lương tín dụng trong hoạt động cho vay trung và dài hạn
1.3.1.1. Khái niệm chất lượng tín dụng trong hoạt động cho vay trung và
dài hạn :
10
Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu hợp lý của khách hàng có
của khách hàng, thủ tục đơn giản, thuận tiện, cung cấp vốn nhanh chóng, kịp
thời, an toàn, kỳ hạn và phương thức thanh toán phù hợp với chu kỳ kinh
doanh của khách hàng.
- Những ngân hàng có lịch sử hoạt động lâu đời, cơ sở vật chất trang thiết bị
tốt, đồng thời ngân hàng tham gia vào nhiều hình thức huy động vốn, đa dạng
hoá và không ngừng ứng dụng các dịch vụ ngân hàng mới. Ngân hàng có tổng
nguồn vốn huy động lớn, ổn định có lượng khách hàng vay đông đảo chứng tỏ
ngân hàng có uy tín.
- Ngoài ra chất lượng tín dụng còn được xem xét thông qua tình hình hoạt
động sản xuất kinh doanh của ngân hàng, tình hình khai thác tiềm năng của
ngân hàng trên địa bàn hoạt động.
b. Chỉ tiêu định lượng
Chỉ tiêu dư nợ:
Dư nợ trung- dài hạn
Tổng dư nợ tín dụng
Chỉ tiêu này cho thấy biến động tỷ trọng dư nợ trung- dài hạn trong tổng dư
nợ tín dụng của mét NH qua các thời kỳ khác nhau
Chỉ tiêu sử dụng vốn:
Vốn sử dụng x 100%
12
Vốn huy động
Doanh sè cho vay trung- dài hạn
Hoặc:
Nguồn vốn trung- dài hạn
Chỉ tiêu sử dụng vốn cho phép đánh giá tính hiệu quả trong hoạt động tín
dụng của một NH. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ NH đã sử dụng một cách
hiệu quả nguồn vốn huy động được.
Chỉ tiêu nợ quá hạn:
Nợ quá hạn trung- dài hạn
Tổng nợ quá hạn
hướng tốt thì chất lượng của các khoản tín dụng trung - dài hạn sẽ được nâng
cao.Và ngươc lại.Mặt khác, không chỉ tình hình kinh tế trong nước mà tình
hình kinh tế thế giới cũng có ảnh hưởng tới chất lượng công tác tín dụng ngân
hàng. Khi thị trường thế giới biến động mạnh, đặc biệt là ở các thị trường xuất
nhập khẩu truyền thống làm cho hoạt động xuất nhập khẩu giảm sút, các
doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu không bán được hàng, chịu thua lỗ,
ảnh hưởng tới công tác trả nợ ngân hàng.
b. Môi trường chính trị - xã hội: Sự ổn định của môi trường chính trị, xã hội
là một căn cứ quan trọng để ra quyết định của các nhà đầu tư. Nếu môi trường
này ổn định thì các nhà đầu tư sẽ yên tâm thực hiện việc mở rộng đầu tư và do
đó nhu cầu vốn tín dụng ngân hàng trung và dài hạn tăng lên. Ngược lại nếu
môi trường bất ổn thì họ sẽ tìm cách thu hẹp sản xuất để bảo toàn vốn, hạn
chế rủi ro khi đó nhu cầu vốn tín dụng ngân hàng
14
c. Môi trường pháp lý: Môi trường pháp lý không chặt chẽ nhiều khe hở và
bất cập sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp yếu kém làm ăn bất chính, lừa đảo
lẫn nhau và lừa đảo ngân hàng. Môi trường pháp lý không chặt chẽ và thiếu
sự ổn định cũng khiến các nhà đầu tư trung thực e dè, không dám mạnh dạn
đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh do đó hạn chế nhu cầu về vốn tín dụng
ngân hàng
d. Môi trường tự nhiên: môi trường tự nhiên không tác động trực tiếp tới
hoạt động tín dụng của ngân hàng mà vai trò của nó thể hiện qua sự tác động
đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh
nghiệp mà hoạt động của chúng phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên như
các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nông nghiệp, ngư nghiệp. Điều
kiện tự nhiên diễn biến thuận lợi hay bất lợi sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do đó ảnh hưởng tới khả năng trả nợ cho
ngân hàng.
e. Chính sách tín dụng: Chính sách tín dụng là kim chỉ nan đảm bảo cho hoạt
động tín dụng đi đúng quỹ đạo, nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của
đầu tư từ đó đánh giá mức độ tự chủ về vốn của doanh nghiệp trong phương
án đầu tư, vốn bổ sung là bao nhiêu, từ những nguồn nào. Ngân hàng rất chú
ý đến cơ cấu vốn của dự án đầu tư vì nó là cơ sở để ngân hàng hạch toán thu
hồi vốn và lãi, để ngân hàng lựa chọn phương án về thời gian và phương thức
thu hồi vốn, lãi phù hợp với hoạt động của dự án. Do đó, công tác thẩm định
dự án nếu được thực hiện một cách nghiêm túc, chặt chẽ, cẩn thận với chất
lượng cao sẽ mang lại các quyết định chính xác, hạn chế được rủi ro đảm bảo
khả năng thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận cho ngân hàng. Trái lại, nếu chỉ
thẩm định một cách qua loa, hình thức, thiếu cẩn thận sẽ dẫn đến sự "lựa chọn
16
đối nghịch", cho vay những dự án khả năng hoàn vốn thấp bởi vì những cá
nhân và doanh nghiệp với những dự án đầu tư rủi ro cao nhất là những người
sẵn sàng vay nhất kể cả với lãi suất cao.
ii. Chính sách tín dụng
Đối với mỗi NH và trong từng thời kỳ thường có những chính sách khác
nhau.Chính sách tín dụng của NH ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng các khoản
cho vay, quy mô của từng khoản vay, các khoản đảm bảo và nhiều yếu tố
khác. Chính sách tín dụng của NH không những phụ thuộc khá nhiều vào
chính sách của Chính Phủ và các cơ quan quản lý. Chính sách tín dụng tạo ra
sự quản hướng dẫn cần thiết cho các nhân viên tín dụng và rõ ràng có ảnh
hưởng mạnh đến hiệu quả tín dụng
iii. Khả năng chuyên môn và kinh nghiệm của cán bộ tín dụng:
Cho vay trung- dài hạn là một trong những nghiệp vụ phức tạp nhất trong các
khâu nghiệp vụ của NH, nó đòi hỏi người cán bộ tín dụng phải nắm được đặc
thù của mỗi ngành sản xuất kinh doanh, am hiểu về pháp luật, nắm bắt được
thông tin thị trường và điều quan trọng phải biết thẩm định dự án, có như vậy
thì mới có thể làm tốt được nghiệp vụ này.
iiii. Công tác tổ chức của ngân hàng
Công tác tổ chức không chỉ tác động đến chất lượng tín dụng mà còn tác
động đÕn mọi hoạt động của ngân hàng.Nếu chỉ xét riêng ảnh hưởng đến chất
đầu thành lập là 10 người, trong bối cảnh nền kinh tế đất nước còn nhiều khó
khăn, nhiệm vụ của ngân hàng là vừa xây dựng cơ sở vật chất, củng cố tổ
chức và hoạt động ngân hàng (hoạt động dưới hình thức cung ứng, cấp phát
theo chỉ tiêu-kế hoạch được giao) nhằm mục tiêu phục vụ chế độ bao cấp,
không lấy lợi nhuận làm mục tiêu, hoạt động theo mô hình quản lý 1 cấp
18
(NHNN). Mô hình này được duy trì từ khi thành lập cho đến tháng 7 năm
1988 thì kết thúc.
Ngày 01/ 07/ 1988, thực hiện Nghị định số 53 của Hội đồng Bộ trưởng
(Nay là Chính phủ) ngành Ngân hàng chuyển hoạt động từ cơ chế quản lý
hành chính, kế hoạch hoá sang hạch toán kinh tế kinh doanh theo mô hình
quản lý Ngân hàng hai cấp (Ngân hàng Nhà nước - NHTM) lấy lợi nhuận làm
mục tiêu trong hoạt động kinh doanh, các Ngân hàng hoạt động thương mại
quốc doanh lần lượt ra đời (NHCT - NHNT – NHĐT&PT- NHNN & PTNT)
trong bối cảnh chuyển đổi đó, Ngân hàng Ba Đình cũng đã được chuyển đổi
thành một chi nhánh NHTM quốc doanh với tên gọi chi nhánh Ngân hàng
Công thương quận Ba Đình trực thuộc Ngân hàng Công thương thành phố Hà
Nội. Hoạt động kinh doanh mang tính kinh doanh thực sự, thông qua việc đổi
mới phong cách giao tiếp, phục vụ, lấy lợi nhuận làm mục tiêu kinh doanh,
cùng với việc đa dạng hoá các loại hình kinh doanh dịch vụ, khai thác và mở
rộng thị trường, đưa thêm các sản phẩm mới vào kinh doanh. Lúc này Ngân
hàng Công thương Ba Đình hoạt động theo mô hình quản lý NHCT ba cấp
(TW - Thành phố - Quận). Với mô hình quản lý này trong những năm đầu
thành lập (7/1988 - 3/1993) hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Công
thương Ba Đình kém hiệu quả, không phát huy được thế mạnh và ưu thế của
một Chi nhánh Ngân hàng Thương mại trên địa bàn thủ đô, do hoạt động kinh
doanh phụ thuộc hoàn toàn vào Ngân hàng Công thương Thành phố cùng với
những khó khăn thử thách của những năm đầu chuyển đổi mô hình kinh tế
theo đường lối mới của Đảng. Trước những khó khăn vướng mắc từ mô hình
tổ chức quản lý cũng như từ cơ chế, theo quyết định số 93/NHCT - TCCB của
Nam - Lê Duẩn - Hai Bà Trưng - Nguyễn Khuyến của Quận Hoàn Kiếm,
Tp.Hà Nội.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động của chi nhánh:
20
Theo Quyết định số 068/QĐ-CNBĐ-TCHC ngày 30/07/2007 của Giám
đốc Chi nhánh NHCT khu vực Ba Đình về việc chuyển đổi, sắp xếp lại mô
hình tổ chức Chi nhánh: có Ban giám đốc và 14 phòng ban gồm: Phòng
Khách hàng doanh nghiệp lớn, Phòng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ,
Phòng khách hàng cá nhân ( bao gồm các Phòng giao dịch loại 2, Điểm giao
dịch, quỹ tiết kiệm), Phòng Kế toán Giao dịch, Phòng Tổng hợp, Phòng
Thanh toán Xuất nhập khẩu, Phòng Tiền tệ Kho quỹ, Phòng Giao dịch Tây
Hồ, Phòng giao dịch Tõy Đụ, Phũng giao dịch Nguyễn Du, Phòng Thông tin
Điện toán, Phòng Quản lý rủi ro và nợ có vấn đề, Phòng Tổ chức hành chính,
Tổ thẻ và Dịch vụ Ngân hàng điện tử.
Theo đó, Phòng Khách hàng cá nhân quản lý trực tiếp cỏc Phũng giao dịch
cấp 2, các quỹ tiết kiệm; Tổ thẻ và ngân hàng điện tử quản lý trực tiếp hệ
thống máy ATM, hệ thống máy và thẻ EDC. Riêng Phòng khách hàng Doanh
nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) có chức năng “ Là phòng nghiệp vụ trực tiếp
giao dịch với khách hàng là các DNVVN theo phân loại quy mô Khách hàng
doanh nghiệp của NHCT và các khách hàng khác. Theo sự phân công của
Giám đốc Chi nhánh Ba Đình “thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín
dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phù hợp…”. Bên cạnh cỏc phũng ban tổ
chức trực thuộc Ban giám đốc, chi nhánh Ba Đỡnh cũn cú cỏc tổ chức đoàn
thể như: Đảng ủy, Công đoàn , Đoàn thanh niên Cơ sở … Để thực hiện các
nhiệm vụ chuyên môn, Chi nhánh Ba Đình thành lập các ban như: Ban thanh
tra nhân dân, hội đồng tín dụng, hội đồng giảm miễn lãi, hội đồng xử lý và thu
hồi nợ xấu …
Có thể tóm tắt cơ cấu tổ chức của Chi nhánh Ba Đình theo sơ đồ sau:
21
Sơ đồ: Mô hình tổ chức Chi nhánh Ba Đình
Tổ thẻ và dịch vụ
Ngân hàng điện tử
Phòng kế toán
giao dịch
Phòng Tổ chức
hành chính
Phòng Tổng
hợp
Phòng tiền tệ
kho quỹ
Phòng quản lý rủi
ro và nợ có vấn đề
Phòng thông tin
điện toán
22
có sự hợp tác cao độ và ngân hàng phải thường xuyên tổ chức các cuộc họp
để xem xét lại tình trạng công việc và giải quyết các bất động nảy sinh trong
công việc…
2.1.3 Nhiệm vụ cỏc phũng ban:
Ban giám đốc: Chức năng lãnh đạo và điều hành mọi hoạt đông
kinh doanh của ngân hàng.
Phòng tổ chức hành chính: Có nhiệm vụ theo dõi nhân sự, tiếp
nhận và tổ chức đào tạo cán bộ, làm công tác văn phòng, hành
chính, văn thư lưu trữ và phục vụ hậu cần.
Phòng thông tin điện toán: Đảm bảo cài đặt và vận hành toàn bộ
cõc chương trình phần mềm ứng dụng trong nghiệp vụ ngân hàng,
đảm bảo thanh toán qua các ngân hàng qua mạng, và dịch vụ ngân
hàng qua mạng thông suốt.
Phòng tiền tệ kho quỹ: Có chức năng thu chi tiền mặt, đáp ứng nhu
cầu tiền mặt cho doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân, đảm bảo an
kết hợp hài hòa nhiều biờn phỏp nhằm thay đổi toàn diện hoạt động của
ngân hàng. Ngân hàng đã cải tiến tổ chức và cơ cấu hoạt động linh hoạt
đảm bảo phục vụ khách hàng nhanh chóng và thuận tiện, khai thác chiệt để
các hình thức vay vốn để thỏa mãn nhu cầu vay vốn và thanh toán của
khách hàng. Kết quả thu được đáng ghi nhận, hoạt động kinh doanh của
ngân hàng không ngừng được mở rộng và ngày càng, uy tín của NHTMCP
Công Thương Ba Đình ngày càng được đánh giá cao. Những năm gần đây
tình hình kinh tế xã hội cả trong nước, khu vực và thế giới đều có nhiều
diễn biến phức tạp. Trong bối cảnh như vậy hướng theo mục tiêu tăng
trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát với những biện pháp thích hợp vừa tháo
24
gỡ khó khăn cho doanh nghiệp vừa đảm bảo nguồn vốn đầu tư tín dụng có
hiệu quả vì vậy ngân hàng Công Thương Ba Đình vẫn giữ được mức tăng
trưởng huy động cao, điều này giúp cho ngân hàng luôn ổn định về tính
thanh khoản không bị rơi vào vòng xoay của cuộc đua lãi suất.
2.2.2: Tình hình huy động vốn:
- Xét về mức độ tăng trưởng :
Bảng tình hình huy động vốn.
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu 31.12.10 31.12.11 So sánh
Chênh lệch Tỷ lệ
Tổng nguồn vốn 6,900 8,000 1,100 16%
Tiền gửi DN 5,707 6,231 524 9.18%
Tiền gửi dân cư 1,193 1,769 576 42.3%
Qua bảng trên ta thấy tổng nguồn huy động đến 31/12/2011 có sự tăng
trưởng tương đối mạnh, cao hơn so với cùng thời điểm năm trước cả về số
tuyệt đối và số tương đối. Trong năm qua, nguồn vốn tăng 1,100 tỷ
đồng tương ứng với 16%.
Xét về tốc độ tăng trưởng của từng loại đối tượng huy động vốn, ta thấy tiền
gửi của DN và tiền gửi của dân cư tăng trưởng mạnh. Năm 2011, Chi nhánh