MỤC LỤC
2.2.2.2. VHĐ theo loại tiền tệ 24
DANH MỤC BIỂU BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh qua 3 năm (2009-2011) 13
Bảng 2.2: Cơ cấu nguồn vốn của NHNo & PTNT VN Chi nhánh huyện
Châu Thành (2009-2011) 17
Bảng 2.3: Tình hình huy động vốn theo kỳ hạn tại NHNo & PTNT VN
Chi nhánh huyện Châu Thành (2009-2011) 20
Bảng 2.4: Vốn huy động theo loại tiền tệ tại NHNo & PTNT VN Chi
nhánh huyện Châu Thành (2009-2011) 24
Bảng 2.5: Vốn huy động theo đối tượng khách hàng tại NHNo & PTNT VN
Chi nhánh huyện Châu Thành (2009-2011) 26
Bảng 2.6: Đánh giá vốn huy động / tổng nguồn vốn 28
Bảng 2.7: Vốn huy động có kỳ hạn / tổng nguồn vốn huy động 29
Bảng 2.8: Vốn huy động không kỳ hạn / tổng nguồn vốn huy động 30
Bảng 2.9: Tổng dư nợ/ Vốn huy động 31
DANH MỤC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 2.1: Tổ chức NHNo & PTNT VN Chi nhánh huyện Châu Thành 11
Hình 2.1. Kết quả hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Chi nhánh
huyện Châu Thành (2009-2011) 13
Hình 2.2: Cơ cấu nguồn vốn của NHNo & PTNT VN Chi nhánh huyện
Châu Thành (2009-2011) 17
Hình 2.3: Biểu đồ vốn huy động theo kỳ hạn 21
Hình 2.4: Biểu đồ thể hiện vốn huy động theo tiền tệ 25
Hình 2.5: Biểu đồ thể hiện vốn huy động theo đối tượng khách hàng 27
trò trung gian tài chính. NH thực hiện điều tiết nguồn vốn giữa các khu vực trong
nền kinh tế quốc dân. Để thực hiện tốt vai trò này NH cần phải đầu tư vốn lớn và
năng động.
Vốn luôn là một trong những yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình hoạt động
kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Chúng ta cần phải khẳng định rằng không thể
thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội nói chung của Nhà nước, cũng như các mục
tiêu kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng nếu như không có vốn. Nhưng để
cung cấp đủ vốn để đảm bảo nhu cầu của thị trường, NH sẽ phải huy động vốn từ
bên ngoài. Vì vậy, các NHTM rất chú trọng đến vấn đề huy động vốn đáp ứng
đầy đủ nhu cầu kinh doanh của mình. Ngân hàng Nông Nghiệp & Phát Triển
Nông Thôn Việt Nam (AGRIBANK) hiện là NHTM hàng đầu giữ vai trò chủ
đạo và chủ lực trong đầu tư vốn phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn cũng
như đối với các lĩnh vực khác của nền kinh tế Việt Nam.
Nếu như nói nguồn vốn tự có là cơ sở để hoạt động sản xuất kinh doanh, là
tiền đề cho hoạt động kinh doanh NH thì nguồn vốn huy động đóng vai trò chủ
đạo trong mở rộng hoạt động kinh doanh, đảm bảo cơ sở tài chính cho hoạt động
kinh doanh. Vì vậy, song song chính sách, chiến lược khách hàng thì chiến lược
nguồn vốn là một trong hai chiến lược quan trọng quyết định sự thành công hay
thất bại của NH. Để tăng trưởng nguồn vốn hoạt động đòi hỏi NH phải có một hệ
thống chiến lược sản phẩm hiệu quả nghĩa là các biện pháp huy động vốn phải
đạt hiệu quả.
Chính vì vậy, vấn đề về vốn và công tác huy động vốn là một trong những
vấn đề quan trọng hàng đầu của NHTM, vì vậy đề tài: “ Giải pháp tăng cường
công tác huy động vốn tại Ngân hàng Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn
Việt Nam huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang” được thực hiện.
2. Mục tiêu nghiên cứu.
2.1. Mục tiêu chung:
Phân tích tình hình huy động vốn và một số giải pháp tăng cường huy động
vốn tại NHNo & PTNT VN huyện Châu Thành.
Giải pháp tăng cường công tác huy động vốn tại NHNo&PTNT Chi nhánh huyện
Châu Thành giai đoạn 2009 - 2011.
Chương III: Giải pháp tăng cường công tác huy động vốn tại NHNo &
PTNT VN Chi nhánh huyện Châu Thành.
Giải pháp tăng cường công tác huy động vốn tại NHNo&PTNT Chi nhánh huyện
Châu Thành – Hậu Giang.
- Phần kiến nghị, kết luận.
Giải pháp tăng cường công tác huy động vốn tại NHNo&PTNT Chi nhánh huyện
Châu Thành – Hậu Giang.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại (NHTM)
Theo pháp lệnh ngân hàng 25-05-1990 của Hội đồng Nhà nước:
Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu
dụng số tiền đó để cho vay thưc hiện nghiệp vụ chiết khấu và là phương tiện
thanh toán.
1.2. Khái niệm huy động vốn (HĐV).
Theo Nguyễn Đăng Dờn, 2009: 46
Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân mà ngân hàng
đang tạm thời quản lý và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả, vốn huy động là
nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất của bất kỳ một ngân hàng thương mại
nào. Chỉ có các NHTM mới được quyền huy động vốn dưới nhiều hình thức khác
nhau.
1.2.1. Đặc điểm cơ bản của vốn huy động:
Theo Nguyễn Đăng Dờn, 2009: 46-47
- VHĐ trong NHTM chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của NHTM.
Các NHTM hoạt động dược chủ yếu là nhờ vào nguồn vốn này.
- Nguồn VHĐ rất dễ biến động, vì khách hàng có thể rút tiền của họ mà
không bị ràng buộc – chính vì vậy, các NHTM không được phép sử dụng hết số
vốn này vào mục đích kinh doanh mà phải dự trữ lại một khoản “dự trữ thanh
khoản” để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng.
Các tổ chức kinh tế thường gửi tiền vào NH dưới các hình thức sau:
Tiền gửi không kỳ hạn (TGKKH) còn gọi là tiền gửi thanh toán.
Theo Nguyễn Đăng Dờn, 2009: 47.
Là loại TG là khi gửi vào mà người gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào
không cần phải báo trước cho NH và NH phải luôn đảm bảo khả năng thanh toán
của mình.
TGKKH là loại TG để phục vụ nhu cầu giao dịch, thanh toán cho chủ tài
khoản như trả tiền hàng hóa, dịch vụ, rút tiền mặt từ ATM, chuyển tiền,… Chủ
tài khoản gửi tiền vào NH không vì nhằm mục đích hưởng lãi, mà vì nhu cầu
giao dịch, thanh toán, chính vì vậy lãi suất không phải là công cụ để thu hút
nguồn vốn này, mà công cụ chính là dịch vụ mà ngân hàng cung cấp kèm theo
phải là dịch vụ có nhiều tiện ích, an toàn, nhanh chóng và chính xác.
Loại TG này có mức lãi suất rất thấp khoảng từ 0,2 – 0,25%/tháng. Thông
thường, NH sẽ tính lãi theo định kỳ hàng tháng hoặc quý. Ta có công thức tính
lãi như sau:
Giải pháp tăng cường công tác huy động vốn tại NHNo&PTNT Chi nhánh huyện
Châu Thành – Hậu Giang.
Dù đây là loại TG mà KH có thể gửi vào và rút ra bất cứ lúc nào nhưng nó
vẫn là nguốn VHĐ mà NH có thể tận dụng để đầu tư. Do tính chất không ổn định
của nguồn VHĐ này nên NH thường dự trữ số lượng rất lớn trong khoản huy
động được nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán của KH một cách kịp thời góp phần
làm tăng uy tính của NH.
Tiền gửi có kỳ hạn (TGCKH):
Theo Nguyễn Đăng Dờn, 2009: 48.
Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi tiền chỉ có thể rút ra khi
đáo hạn.
Theo quy định, KH gửi tiền theo thời hạn chỉ được rút tiền khi đến hạn.
Trên thực tế thì do yếu tố cạnh trạnh để thu hút TG các NHTM thường cho phép
KH rút trước hạn nhưng không được hưởng lãi suất hoặc chỉ được hưởng một
mức lãi suất thấp hơn (thông thường là lãi suất TGKKH).
1.3.1 3. Tiền gửi tiết kiệm (TGTK):
Theo Nguyễn Minh Kiều, 2009: 100-101.
Đây là hình thức HĐV truyền thống của NH. Trong hình thức huy động
này, người gửi tiền được cấp một sổ tiết kiệm, sổ này được xem là một giấy
chứng nhận có gửi tiền vào quỹ tiết kiệm của NH.
Tiết kiệm không kỳ hạn (TK KKH): Là sản phẩm TG được
thiết kế dành cho đối tượng KH cá nhân hoặc tổ chức, có tiền tạm thời nhàn rỗi
muốn gửi NH vì một tiêu an toàn và sinh lợi nhưng không thiết lập được kế
hoạch sử dụng TG trong tương lai.
Tiết kiệm có kỳ hạn (TK CKH): Là sản phẩm TG được thiết kế
dành cho đối tượng KH cá nhân và tổ chức có nhu cầu gửi tiền vì mục tiêu an
toàn, sinh lợi và thiết lập được kế hoạch sử dụng TG trong tương lai.
1.3.2. VHĐ thông qua phát hành các chứng từ có giá.
Theo Nguyễn Minh Kiều, 2009: 146
Muốn HĐV vốn trung và dài hạn thì các NH thường phát hành các chứng từ
có giá như: trái phiếu, cổ phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ TGCKH, chứng chỉ tiết
kiệm.
Phát hành chứng từ có giá là những phương pháp hữu hiệu để các NH HĐV
có kỳ hạn. Đây là loại nguồn vốn ổn định nhất của các NHTM.
Trái phiếu do các NHTM phát hành có thể xem như là trái phiếu công ty.
Nó là giấy chứng nhận nợ do các NHTM phát hành để huy động vốn dài hạn,
theo đó là cam kết sẽ trả lãi và vốn gốc cho các nhà đầu tư mua trái phiếu.” Các
NHTM phát hành trái phiếu HĐV nhằm có đủ vốn cấp II theo quy định của Basel
II. Một loại trái phiếu khác cũng được NH áp dụng để HĐV là trái phiếu chuyển
đổi: “ là loại trái phiếu mà tổ chức phát hành bán cho nhà đầu tư, trong đó có
Giải pháp tăng cường công tác huy động vốn tại NHNo&PTNT Chi nhánh huyện
Châu Thành – Hậu Giang.
thỏa thuận đến một thời điểm nào đó sau khi phát hành các nhà đầu tư có quyền
chuyển đổi thành cổ phiếu theo một tỷ lệ chuyển đổi nào đó”.
Các NHTM cổ phần cũng là một dạng công ty cổ phần do đó có thể phát
Giải pháp tăng cường công tác huy động vốn tại NHNo&PTNT Chi nhánh huyện
Châu Thành – Hậu Giang.
+ Cho vay thanh toán: Trong hoạt động kinh doanh các NHTM sẽ tham
gia vào hệ thống thanh toán bù trừ, nếu NH nào thiếu vốn để thanh toán thì
NHNN sẽ cho vay để đảm bảo các khoản giao dịch. Cho vay thanh toán thường
áp dụng hình thức cho vay qua đêm và cho vay thấu chi.
Nguồn vốn vay từ các TCTD khác.
Để linh hoạt kịp thời đáp ứng nhu cầu trong các hoạt động kinh doanh của
NH thì các NHTM thường áp dụng hình thức vay từ thị trường liên NH với
phương thức tự vay tự trả. Hoạt động cho vay và huy động luôn tồn tại song song
tại một NH nhưng không phải lúc nào nó cũng diễn ra cùng chiều với nhau.
Nghĩa là, có khi ngân hàng HĐV nhiều nhưng không có hoặc có ít KH vay vốn
làm cho NH bị thừa quỹ, khi đó NH sẽ cho các NH khác vay để giảm thiểu chi
phí phải trả cho KH gửi tiền. Ngược lại NH sẽ bị thiếu ngân quỹ khi nguồn vốn
huy động ít nhưng nhu cầu cho vay lại cao, lúc này NH sẽ đi vay của các NH
khác.
1.3.4. Nguồn vốn khác.
Theo Nguyễn Đăng Dờn, 2009: 52-53.
+ Vốn tiếp nhận: Là nguồn vốn tài trợ của Chính Phủ, của các tổ chức tài
chính tiền tệ, các tổ chức đoàn thể - xã hội để tài trợ cho các chương trình dự án
về phát triển kinh tế - xã hội, cải tạo môi trường sinh thái … và được chuyển qua
NHTM thực hiện.
Vốn tiếp nhận là loại vốn có yêu cầu cao do được xác định đối tượng, mục
tiêu cụ thể nên khi NHTM tiếp nhận phải đảm bảo thực hiện đúng, chính xác.
Chỉ những NHTM nào có uy tín, có đủ điều kiện về mạng lưới, về đội ngũ cán bộ
chuyên môn và yêu cầu trình độ kỹ thuật mới có thể tiếp nhận nguồn vốn tài trợ.
+ Vốn khác: NHTM có thể tăng vốn qua các giao dịch kinh doanh hoạt
động hàng ngày. Bằng cách như:
Tăng vốn qua thanh toán giao dịch giữa KH và NH như: Do chênh lệch
giữa thời điểm trích tài khoản giữa người phải trả và thời điểm ghi có cho người
Tổng dư nợ
Tổng dư nợ/ Tổng VHĐ = * 100
Tổng vốn huy động
Tổng VHĐ
Tổng VHĐ/ tổng nguồn vốn = * 100%
Tổng nguồn vốn
Giải pháp tăng cường công tác huy động vốn tại NHNo&PTNT Chi nhánh huyện
Châu Thành – Hậu Giang.
Chương 2:
KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG VÀ TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN TẠI
NHNo & PTNT VN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG
2.1. Khái quát về NHNo & PTNT VN Chi nhánh huyện Châu Thành.
Theo: Tư liệu lịch sử hình thành NHNo & PTNT VN Chi nhánh huyện
Châu Thành, Hậu Giang năm 2004, phòng tín dụng.
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của NHNo & PTNT VN Chi nhánh
huyện Châu Thành.
Chi nhánh NHNo & PTNT VN Chi nhánh huyện Châu Thành, tỉnh Hậu
Giang được thành lập theo quyết định số 64/QĐ/HĐQT_TCCB của chủ tịch hội
đồng quản trị NHNo & PTNT VN ngày 01/03/2004. Chính thức đi vào hoạt động
ngày 13/01/2005. Là chi nhánh loại 3, trực thuộc NHNo & PTNT VN tỉnh Hậu
Giang. Trụ sở đặt tại Thị trấn Ngã Sáu, huyện Châu Thành. Được đưa vào hoạt
động với mục đích phục vụ cho người dân trong huyện để cải thiện đời sống và
phát triển kinh tế xã hội trong địa bàn huyện.
Nhằm thực hiện tốt các chủ chương chính sách của Đảng, Nhà Nước về phát
triển kinh tế và đáp ứng nhu cầu phát triển địa phương như: chăn nuôi, trồng trọt,
… và đặc biệt là quyết định 67 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ
phát triển nông nghiệp và nông thôn.
Tình hình hoạt động của chi nhánh càng ổn định và phát triển qua từng năm
về HĐV cũng như về đầu tư đạt hiệu quả kinh tế ngày càng cao. Do đó Chi
nhánh NHNo & PTNT VN Chi nhánh huyện Châu Thành càng phải có bộ mặt và
Nhân viên tín dụng Nhân viên kế toán
Giải pháp tăng cường công tác huy động vốn tại NHNo&PTNT Chi nhánh huyện
Châu Thành – Hậu Giang.
- Huy động mọi nguồn vốn tạm thời trên địa bàn với nhiều hình thức, tiếp
chuyển đều chuyển từ NH cấp trên.
- Cho vay phát triển hàng hóa, phát triển kinh tế ở địa phương góp phần
giúp người dân có vốn để đầu tư.
- Tổ chức hoạch toán kinh tế, đảm bảo thực hiện kinh doanh có lãi.
2.1.2.2. Nhiệm vụ:
- Hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT VN Chi nhánh huyện Châu
Thành cần phải thực hiện kịp thời chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật
nuôi của huyện, vì vậy NH phải tăng cường VHĐ để cho vay.
- Không ngừng đổi mới công nghệ Ngân hàng: Đảm bảo kinh doanh có lãi,
nâng cao chất lượng dịch vụ.
- Thực hiện chủ trương đào tạo và tái đào tạo cho cán bộ, nhằm đáp ứng nhu
cầu nhiệm vụ mới trong cơ chế thị trường hiện nay.
2.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT VN Chi nhánh
huyện Châu Thành qua 3 năm (2009-2011).
Trong những năm gần đây cùng với sự thay đổi và phát triển của nền kinh tế
hoạt động NH đã từng bước thay đổi phương thức hoạt động cho phù hợp với cơ
chế thị trường, phục vụ tốt cho các dịch vụ NH. Đồng thời, đáp ứng tốt nhu cầu
vốn sản suất kinh doanh một cách kịp thời nhanh chóng, tạo uy tín, lòng tin cho
KH, đẩy mạnh tiến độ hoạt động của NH cả về số lượng và chất lượng.
Trong những năm qua thì hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT VN
Chi nhánh huyện Châu Thành đã có nhiều thay đổi được thể hiện cụ thể trong
bảng sau.
Giải pháp tăng cường công tác huy động vốn tại NHNo&PTNT Chi nhánh huyện
Châu Thành – Hậu Giang.
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh qua 3 năm
(2009-2011).
năm 2010 thì tổng thu nhập tăng lên vượt mức, lên đến 43,84%, mức thu nhập
của NH tăng lên con số bất ngờ.
Nguyên nhân của sự tăng lên là bắt nguồn từ năm 2008, nền kinh tế của
nước ta đang gặp rất nhiều khó khăn hầu như tất cả các doanh nghiệp, các tầng
lớp dân cư và bao gồm cả NH cũng không ngoại lệ. Để khắc phục nền kinh tế
đưa đất nước đi lên nhà nước ta đã đưa ra chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm ngăn
chặn lạm phát lên quá cao làm cho NH thiếu vốn lãi suất cho vay tăng cao từ
18%-19%/năm. Nhưng sau đó NH đã khôi phục lại vị thế đứng đầu, là tiên phong
trong việc liên tiếp hạ lãi suất cho vay, tăng lãi suất huy động thu hút được nhiều
KH tìm đến NH để vay vốn, gửi tiền điều này làm cho lợi nhuận của NH liên tục
tăng.
Thêm vào đó, NH đã trang bị những trang thiết bị hiện đại, tập chung vào
việc kinh doanh một cách có hiệu quả, mở rộng đầu tư, tạo uy tín ngày càng cao
đối với KH. Lãi suất HĐV tăng đặc biệt là HĐV ngắn hạn tạo được sự hấp dẫn
đối với người gửi tiền. Nguồn VHĐ tăng đã đảm bảo hoạt động cho vay và các
hoạt động kinh doanh khác của NH. Do đó doanh thu NH tăng là chuyện đương
nhiên.
Thu nhập của NH bao gồm nhiều nguồn như: từ lãi cho vay, thu từ dịch vụ,
các khoản thu khác. Nguồn thu chủ yếu của NH là từ lãi vay, nếu một NH có tỷ
lệ thu từ lãi vay lớn thì NH đó đang hoạt động TD tốt, còn cho ta thấy được
nguồn VHĐ đã đảm bảo được hoạt động kinh doanh của NH. Ngoài ra, các
nguồn thu từ dịch vụ và các nguồn thu khác cũng góp phần làm tăng doanh thu
của NH mặc dù nó chỉ chiếm một phần rất nhỏ
2.1.3.2. Chi phí.
Bên cạnh thu nhập đạt được thì NH cần bỏ ra một khoản chi phí đáng kể.
Chi phí luôn là một con số tỷ lệ nghịch với thu nhập.Từ số liệu trong bảng 2.1 ta
thấy ngoài doanh thu tăng thì chi phí cũng liên tục tăng qua các năm. Cụ thể, năm
2009 chi 24.033 triệu đồng, năm 2010 là 25.957 triệu đồng tăng 406 triệu đồng
chiếm tỷ lệ 8,01%. Năm 2011, chi phí tiếp tục tăng lên so với năm 2010 thì chi
phí tăng thêm 13.020 triệu đồng, tăng lên 50,16% chi phí tăng cao qua các năm
Nguyên nhân lợi nhuận tăng là do năm trước NH đã xử lý những khoản nợ
tồn, lãi suất huy động hấp dẫn, hoạt động kinh doanh của NH có hiệu quả, mở
rộng các dịch vụ kinh doanh, Năm 2009 do NH có chính sách kinh doanh hợp
lí, mở rộng và đa dạng hơn các hình thức HĐV, các dịch vụ, gia tăng doanh
thu, làm cho lợi nhuận NH tăng cao. Không dừng lại ở đó lợi nhuận của NH
liên tục tăng từ 5.371 triệu đồng (2009) lên 6.586 triệu đồng (2011). Trong 3 năm
đã tăng lên như vậy chứng tỏ NH đã nắm bắt được nhu cầu của thị trường, tận
dụng rất tốt mọi điều kiện để hoạt động kinh doanh có hiệu quả.
Giải pháp tăng cường công tác huy động vốn tại NHNo&PTNT Chi nhánh huyện
Châu Thành – Hậu Giang.
Mặc dù lợi nhuận đang trên đà tăng trưởng nhưng cũng chưa vượt được chỉ
tiêu mong muốn của NH do có một số yếu tố như tình trạng nợ quá hạn trong
hoạt động cho vay còn tồn tại đáng chú ý, NH vẫn còn có tình trạng không đòi
được nợ phải tốn nhiều chi phí cho việc phát mãi tài sản kéo theo lợi nhuận
không tăng như mong đợi. Vì vậy, NH cần có những giải pháp phù hợp để hạn
chế tối đa tình trạng này.
Qua xem xet tình hình doanh thu, chi phí, lợi nhuận của NHNo & PTNT
VN Chi nhánh huyện Châu Thành trong 3 năm (2009-2011) ta có thể khẳng định
tình hình hoạt động kinh doanh của NH đã mang lợi hiệu quả cao, lợi nhuận tăng
lên qua các năm. Qua phân tích NH đã quản lí tốt tinh hình thu nhập và kiểm soát
được chi phí một cách hiệu quả mang đến lợi nhuận khả quan. Tuy nhiên, trong
thời gian tới NH cần có những biện pháp tích cực hơn nữa để gia tăng thu nhập
và giảm thiểu chi phí ở mức thấp nhất. Đồng thời phát huy tích cực những mặt
mạnh của mình để có thể đứng vững trên thị trường đang cạnh tranh gay gắt và
phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàn.
2.2. Tình hình HĐV tại NHNo & PTNT VN Chi nhánh huyện Châu Thành.
2.2.1. Cơ cấu nguồn vốn của NH.
Nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò quan trọng của công tác HĐV, NHNo &
PTNT VN Chi nhánh huyện Châu Thành luôn quan tâm đến công tác này, xem
việc tạo nguồn vốn là nhiệm vụ hàng đầu trong hoạt động kinh doanh dịch vụ
2011).
Hình 2.2: Cơ cấu nguồn vốn của NHNo & PTNT VN - CN huyện Châu
Thành (2009-2011).
Nguồn vốn huy động.
VHĐ là nguồn vốn chủ yếu, là một bộ phận quan trọng cấu thành nguồn vốn
của NH là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu mà NH tạm thời quản lý và sử
dụng trong khoản thời gian nhất định. Do ý thức được tầm quan trọng của nguồn
vốn trong hoạt động kinh doanh, NHNo & PTNT VN Chi nhánh huyện Châu
Thành rất quan tâm chú trọng đến công tác HĐV nhàn rỗi từ các thành phần kinh
tế để bổ sung nguồn vốn ổn định cho NH đảm bảo hoạt động kinh doanh của NH
Giải pháp tăng cường công tác huy động vốn tại NHNo&PTNT Chi nhánh huyện
Châu Thành – Hậu Giang.
được liên tục và tự chủ. NH đã đưa ra nhiều hình thức tiết kiệm phù hợp với từng
loại KH khác nhau như: Tiết kiệm gửi góp, tiết kiệm dự thưởng, Bên cạnh đó,
chi nhánh còn đa dạng hóa dịch vụ thanh toán như nhận gửi tiền từ nước ngoài.
Năm 2009, VHĐ là 77.624 triệu đồng. Trong đó, TGKKH là 3.682 triệu
đồng, chiếm 4,74% trong tổng số VHĐ. Kỳ hạn dưới một năm là 67.968 triệu
đồng, chiếm 87,56% trong tổng VHĐ. Kỳ hạn trên một năm là 5.974 triệu đồng,
chiếm 7,70% trong tổng VHĐ. Số VHĐ này chưa đủ đáp ứng cho NH hoạt động
vì kết quả hoạt động kinh doanh trong năm này NH sử dụng vốn vay từ NH cấp
trên có tỷ lệ cao hơn tỷ lệ VHĐ mà NH huy động từ KH: các tổ chức kinh tế, các
doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư,
Năm 2010, VHĐ là 143.065 triệu đồng tăng lên rất khả quan gần như là gấp
đôi. Trong đó, TGKKH là 2.756 triệu đồng khoảng tiền huy động này thấp hơn
năm trước chỉ chiếm 1,93% trong tổng số VHĐ. Nhưng TGCKH dưới một năm
là 139.465 triệu đồng, chiếm 97,48% trong tổng VHĐ tăng lên rất cao và chiếm
tỷ lệ lớn kéo theo tổng VHĐ tăng cao, NH có chiến lược vận động KH gửi tiền
trong kỳ hạn này có hiệu quả. Kỳ hạn trên một năm là 844 triệu đồng, chiếm
0,59% trong tổng VHĐ, khoảng huy động này giảm mạnh từ 7,70% (2009)
xuống còn 0,59% (2010) gây ảnh hưởng khá lớn đến sự tăng trưởng của tổng
NHNo & PTNT VN Chi nhánh huyện Châu Thành có đủ nguồn vốn để cung cấp
TD cho KH của mình, khi mà VHĐ tại chỗ còn hạn chế, không thể đáp ứng nhu
cầu KH.
Qua 3 năm vốn điều chuyển như sau: Năm 2009, vốn vay là 109.929 triệu
đồng chiếm tỷ trọng là 58,61% trên tổng nguồn vốn của NH, trong khi đó vốn
vay từ huy động TG chỉ chiếm có 41,39% như vậy thì trong năm 2009 NH vẫn
còn phụ thuộc rất nhiều từ NH cấp trên. Sang năm 2010, vốn vay là 77.844 triệu
đồng, chiếm 35,24% trên tổng nguồn vốn, tỷ trọng này thấp hơn năm 2009 một
cách đáng kể, nó gần bằng ½ tỷ trọng vốn vay NH cấp trên năm 2009 (58,61%)
và VHĐ từ TG năm 2010 (64,76%), sự vượt bậc đáng khích lệ này chứng tỏ
NHNo & PTNT VN Chi nhánh huyện Châu Thành đã tạo được uy tín, lòng tin
trong nhân dân, thêm vào đó là nền kinh tế đang trên đà phát triển mạnh. Năm
2011, vốn vay từ NH cấp trên chỉ còn 18,34% (77.844 triệu đồng năm 2010
xuống còn 48.465 triệu đồng năm 2011), một con số khiến NH khá hài lòng sau
một năm phấn đấu trong công tác HĐV. Hạn mức điều chuyển vốn nhàn rỗi mà
mỗi Chi nhánh được nhận hàng năm sẽ do NHNo & PTNT VN Hậu Giang quy
định, trên cơ sở căn cứ vào khả năng HĐV, tình hình dư nợ,
Nhìn chung thì vốn vay từ NH cấp trên vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng nguồn vốn, cho thấy khả ngăng HĐV của NH còn hạn chế, nguồn VHĐ tại
địa phương không đủ đáp ứng nhu cầu cho vay của NH. Vì vậy, vì đây là nguồn
vốn vay nên phải trả lãi từ đó dẫn đến lợi nhuận thấp.
Mặt khác, sự hổ trợ vốn điều chuyển từ NH cấp trên tạo điều kiện thuận lợi
giúp NH có thêm nguồn vốn để tiếp tục mở rộng mạng lưới cho vay đối với các
đối tượng đang có nhu cầu sử dụng vốn. Tuy nhiên, hình thức này vẫn còn mặt
hạn chế là làm cho nguồn vốn của NH phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn của cấp
trên. NH không chủ động được nguồn vốn của mình.
Giải pháp tăng cường công tác huy động vốn tại NHNo&PTNT Chi nhánh huyện
Châu Thành – Hậu Giang.
Tóm lại, NH tồn tại và phát triển thì việc đa dạng hóa các hình thức, biện
pháp HĐV là vấn đề sống còn của NH. Qua phân tích ở trên ta thấy NH đã cố
2011).
Giải pháp tăng cường công tác huy động vốn tại NHNo&PTNT Chi nhánh huyện
Châu Thành – Hậu Giang.
Hình 2.3: Biểu đồ VHĐ theo kỳ hạn
Theo số liệu ở bảng 2.3: ta thấy tổng nguồn vốn của NH liên tục tăng trong
3 năm (2009-2011). Cụ thể: Năm 2009, tổng VHĐ đạt 77.624 triệu đồng, năm
2010 tăng thêm 65.441 triệu đồng một con số rất cao tương đương 84,31% so với
năm 2009, đến năm 2011 không dừng lại ở con số đó mà tiếp tục tăng lên 72.711
triệu đồng, tương đương tăng 50,82% so với năm 2010. Mặc dù ở 2011/2010 tỷ
lệ tăng lên không bằng 2010/2009 (50,82% < 84,31%) nhưng tỷ lệ tăng trưởng
này vẫn rất cao rất đáng thõa mãn, chứng tỏ rằng NH đã có chiến lược đúng đắn,
thu hút được KH. Tổng VHĐ bao gồm TGKKH, TGCKH :dưới 12 tháng, trên 12
tháng, dựa vào bảng 2.3 ta đi vào phân tích từng khoản mục TG như sau:
Tiền gửi không kỳ hạn.
TGKKH bao gồm tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh doanh, các cá
nhân mở tài khoản tại NH và TGTKKKH, lượng tiền này chiếm tỷ trọng tương
đối thấp trong tổng nguồn VHĐ của NH nhưng nó đang có xu hướng tăng cao.
Do NHNo & PTNT VN Chi nhánh huyện Châu Thành là một chi nhánh nhỏ,
nhân viên ít nhưng số lượng công việc lại nhiều nên NH không tách TGTT và
TGTKKKH ra thành hai loại mà chỉ gọi chung là TGKKH. Đây là loại tiền gửi
không ổn định, không nhằm mục đích tăng thêm thu nhập mà nhằm để thanh
toán, chi trả trong kinh doanh.
Tổng TGKKH hạn chiếm con số nhỏ trong tổng VHĐ và chưa năm nào
vượt qua 5.000 triệu đồng trong khi tổng VHĐ có thể đạt đến 215.776 triệu đồng
(2011), năm 2009 đạt 3.682 triệu đồng sang các năm sau thì tăng giảm không ổn
định, năm 2010 giảm chỉ còn 2.756 triệu đồng làm cho số tương đối 2010/2009
là -25,15%, lượng tiền huy động từ hình thức này giảm mạnh dưới 0% làm đau
đầu các nhà quản trị của Chi nhánh, đòi hỏi một chiến lược phải được đề ra ngay
lập tức để khắc phục tình trạng này. Sang năm 2011 lượng tiền huy động từ hình
thức này tăng lên vượt bậc, khoảng chênh lệch giữa 2011/2010 là 64,41% chứng