Môi trường ở các khu công nghiệp - Pdf 23

Kinh tế công nghiệp
TRƯỜNG CAO ĐẲNG TÀI CHÍNH _ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN ĐỀ
GIẢNG VIÊN:
Lê Thị Thu Hà
NHÓM SV:
1. Nguyễn Thị Hằng
2. Nguyễn Thị Hồng
3. Nguyễn Thị Bình
4. Nguyễn Ngọc Hoài Vân
5. Bùi Thị Thanh Lăng
6. Bùi Thị Trang
7. Cao Thị Tú
8. Nguyễn Văn Thơm
9. Nguyễn Văn Trực
10.Tạ Quang Mạnh
11.Nguyễn Văn Thành
1
Lớp QT40C
Kinh tế công nghiệp
MỤC LỤC
Chương 1: Phần mở đầu ……………………………………………….…3
1.1 Lý do viết đề tài…………………………………………………………..
1.2 Mục đích………………………………………………………………….
1.3 Nhiệm vụ………………………………………………………….... ……
1.4 Phạm vi nghiên cứu……………………………………… …………
Chương 2: Sơ lược về môi trường ………………………………………...4
2.1 Khái niệm về môi trường…………………………………………………
2.2 Vai trò của môi trường……………………………………………..
2.3 Môi trường có những chức năng cơ bản sau……………………………...
2.4.Bảo vệ môi trường……………………………………………………….

triệu người, Việt Nam đang đứng trước những thách thức to lớn về tài
nguyên thiên nhiên và môi trường, các hệ sinh thái đang suy thoái ở mức độ
nghiêm trọng. Chính sách đổi mới đã đem lại bộ mặt mới cho nền kinh tế
Việt Nam . Tuy nhiên, với tiến trình gia tăng dân số, thâm canh nông nghiệp,
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá đang ảnh hưởng lớn đối với môi
trường, với khai thác tài nguyên đất, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng,
tài nguyên biển và các dạng tài nguyên khác. Làm thế nào để phát triển bền
vững, ổn định tối đa nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên
nhiên và đa dạng sinh học, đang là vấn đề cấp thiết đặt ra.Từ năm 1994, cơ
quan bảo vệ môi trường quốc gia soạn thảo trình Quốc hội Việt Nam báo
cáo hàng năm về hiện trạng môi trường. Mặc dù các số liệu môi trường được
thu thập từ nhiều nguồn khác nhau kể cả kết quả đo đạc tại các trạm quan
trắc môi trường và ở các trường đại học, các dữ liệu về môi trường ít được
so sánh với những thông tin thu thập từ công chúngChiến lược quốc gia về
bảo vệ môi trường trong những năm đầu thiên niên kỷ vừa được Chính phủ
Việt Nam thông qua. Chiến lược nêu rõ trong những thập kỷ gần đây các
nguồn tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam bị xuống cấp một cách nhanh
chóng, gây ra nhiều vấn đề môi trường và dẫn đến chất lượng môi trường
của xã hội ngày càng kém đi. Trước tình hình đó chúng ta cần phải nhìn
thẳng vào các sai phạm của các công ty để có thể đưa ra được giải pháp giải
quyết tình hình đồng thời chúng ta cũng phải nhìn lại vấn đề môi trường ở
nước ta xem cái gì chúng ta đạt được và cái gì chúng ta chưa đạt được để
bàn bạc đưa ra giải pháp xử lý các vi phạm.
1.2.Mục đích: phản ánh những vi phạm của các doanh nghiệp gây
ảnh hưởng đến môi trường Việt Nam.
1.3.Nhiệm vụ: xác định hiện trạng môi trường ở nước ta, hoạt động
của các doanh nghiệp trong việc xử lý chất thải và các hoạt động bảo vệ môi
trường
1.4. Phạm vi nghiên cứu: vi phạm trong việc xử lý chất thải của các
doanh nghiệp Việt Nam…………………………

-Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động
sản xuất của con người
-Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong
cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình.
-Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con
người và sinh vật trên trái đất.
-Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người
2.4.Bảo vệ môi trường:
Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam ghi rõ trong Điều 6: "Bảo vệ
môi trường là sự nghiệp của toàn dân. Tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm
bảo vệ môi trường, thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường, có quyền và có
trách nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi
4
Lớp QT40C
Kinh tế công nghiệp
trường". Để bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam
nghiêm cấm các hành vi sau đây:
· Đốt phá rừng, khai thác khoáng sản một cách bừa bãi, gây huỷ hoại
môi trường, làm mất cân bằng sinh thái.
· Thải khói, bụi, khí độc, mùi hôi thối gây hại vào không khí; phát
phóng xạ, bức xạ quá giới hạn cho phép vào môi trường xung quanh
· Thải dầu, mỡ, hoá chất độc hại, chất phóng xạ quá giới hạn cho
phép, các chất thải, xác động vật, thực vật, vi khuẩn, siêu vi khuẩn độc hại
và gây dịch bệnh vào nguồn nước.
Chôn vùi, thải vào đất các chất độc hại quá giới hạn cho phép.· Khai
thác, kinh doanh các loại thực vật, động vật quý hiếm trong danh mục quy
định của Chính phủ.
· Nhập khẩu công nghệ, thiết bị không đáp ứng tiêu chuẩn môi trường,
nhập khẩu, xuất khẩu chất thải.
· Sử dụng các phương pháp, phương tiện, công cụ huỷ diệt hàng loạt

cuộc khủng hoảng lớn là: dân số, lương thực, năng lượng, tài nguyên và sinh
thái. Năm cuộc khủng hoảng này đều liên quan chặt chẽ với môi trường và
làm cho chất lượng cuộc sống của con người có nguy cơ suy giảm. Nguyên
nhân gây nên các cuộc khủng hoảng là do sự bùng nổ dân số và các yếu tố
phát sinh từ sự gia tăng dân số. Nước ta thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại
hoá và đương nhiên là kéo theo đô thị hoá. Theo kinh nghiêm của nhiều
nước, tình hình ô nhiễm môi trường cũng gia tăng nhanh chóng.
Trong quá trình phát triển, nhất là trong thập kỷ vừa qua, các đô thị
lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, đã gặp phải nhiều vấn đề môi
trường ngày càng nghiêm trọng, do các hoạt động sản xuất công nghiệp,
nông nghiệp, giao thông vận tải và sinh hoạt gây ra. Tại thành phố Hồ Chí
Minh có 25 khu công nghiệp tập trung hoạt động với tổng số 611 nhà máy
trên diện tích 2298 ha đất. Theo kết quả tính toán, hoạt động của các khu
công nghiệp này cùng với 195 cơ sở trọng điểm bên ngoài khu công nghiệp,
thì mỗi ngày thải vào hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai tổng cộng
1.740.000 m3 nước thải công nghiệp, trong đó có khoảng 671 tấn cặn lơ
lửng, 1.130 tấn BOD5 (làm giảm nhu cầu ôxy sinh hoá), 1789 tấn COD (làm
giảm nhu cầu ôxy hoá học), 104 tấn Nitơ, 15 tấn photpho và kim loại nặng.
Lượng chất thải này gây ô nhiễm cho môi trường nước của các con sông vốn
là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho một nội địa bàn dân cư rộng lớn, làm
ảnh hưởng đến các vi sinh vật và hệ sinh thái vốn là tác nhân thực hiện quá
trình phân huỷ và làm sạch các dòng sông.
Trước những điểm nóng về ô nhiễm môi trường như trên, nhiều giải
pháp tương đối đồng bộ và cụ thể đã được kiến nghị nhằm giải quyết các vấn
đề về môi trường cả trong hiện tại và trong dự báo về chính sách, chiến lược,
quy hoạch đến các giải pháp về công nghệ, nhân lực, giải pháp xã hội, các
cộng cụ kinh tế và các biện pháp quan trắc theo dõi, kèm theo một số dự án
hoặc nghiên cúu sâu đối với các trường hợp cụ thể.
Sau đây là những biểu hiện của khủng hoảng môi trường
· Ô nhiễm không khí (bụi, SO2, CO2 v.v...) vượt tiêu chuẩn cho phép

của các chủ đầu tư ngày một nâng cao. Hằng năm đều tham gia các hoạt
động về truyền thông môi trường Một số doanh nghiệp thực hiện rất tốt công
tác bảo vệ môi trường như: các nhà máy điện, một số cảng,…đều đầu tư
hoàn chỉnh các hệ thống xử lý chất thải, các chất thải nguy hại đều được thu
gom và xử lý đúng quy định thông qua các hợp đồng với các đơn vị có chức
năng và năng lực xử lý, nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải và thực
hiện giám sát môi trường hằng năm theo quy định. Nhiều chương trình như
“Go green – hành trình xanh thắp sáng ước mơ” là sự phối hợp hợp tác giữa
Tổng cục Bảo vệ Môi trường (VEPA), Bộ Giáo dục và Đào tạo (MOET) và
công ty ô tô Toyota Việt Nam (TMV).
3. Một số tồn tại: Quy chế bảo vệ môi trường đối với các khu công nghiệp
được ban hành theo Quyết định 62/2002/QĐ.BKHCNMT của Bộ Khoa học,
công nghệ và môi trường chưa chặt chẽ dẫn đến tình trạng kéo dài đầu tư các
hệ thống xử lý nước thải tập trung của các khu công nghiệp ( Điều 19 của
Quy chế quy định phải xây dựng hoàn chỉnh hệ thống xử lý tập trung khi
khu công nghiệp đã lấp đầy 70% diện tích đất ).Phần lớn các chủ đầu tư hạ
tầng các khu công nghiệp không thực hiện nghiêm các cam kết trong nội
dung báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được Bộ Tài nguyên và Môi
trường.
7
Lớp QT40C
Kinh tế công nghiệp
Chương 3: VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG XUNG
QUANH KHU CÔNG NGHIỆP
3.1. Tình hình chung về môi trường của các KCN trên thế giới
1. Hiện trạng chung:Hiện nay kết quả của quá trình công nghiệp hoá ở các
nước trên thế giới đã không ngừng làm tăng quy mô và tốc độ phát triển
công nghiệp trên phạm vi toàn cầu.Tuy nhiên chính quy mô và tốc độ phát
triển công nghiệp là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến
những tác động bất lợi lớn đối với các yếu tố của môi trường sinh thái như

Kinh tế công nghiệp
Ảnh hưởng đến sức khỏe: có dạng gây hại ngay hoặc mãn tính như gây hại
mắt, hệ hô hấp, da, gan, thận và hệ thần kinh. Nghiêm trọng hơn là ảnh
hưởng đến hệ tim mạch và phổi, thậm chí có thể gây tử vong do tích lũy lâu
dài trong cơ thể.
c/ Chất thải phóng xạ và chất thải từ việc khai thác Uran.
Chất phóng xạ được sử dụng để sản xuất điện,
dùng trong lĩnh vực Quân sự vàYhọc.
Việc xử lý chất thải phóng xạ từ các lò phản ứng
dưới dạng thanh đốt vô cùng khó khăn.Việc chôn
vĩnh viễn loại chất thải này hầu như là chuyện
không thể.
Quá trình khai thác Uran tuy không tạo ra chất
thải phóng xạ nguy hiểm, nhưng lại tạo ra một
lượng lớn chất thải có lượng phóng xạ tương đối
thấp. Những nước sản xuất Uran với khối lượng lớn thường là những nước
như Kazakhstan, Nga, Niger, Namibia, Uzbekistan, Ukraine và Trung Quốc,
những quy định về bảo vệ môi trường và an toàn thường không thực hiện
nghiêm chỉnh.
Ảnh hưởng đến sức khỏe: chất phóng xạ có thể ảnh hưởng tới chức
năng của cơ thể, về lâu dài có thể gây một số bệnh ung thư. Những người bị
ảnh hưởng phóng xạ với nồng độ thấp có những biến đổi đối với máu, chóng
mặt, mệt mỏi, gây quái thai, mù mắt, trì độn. Nếu bị tác động của tia phóng
xạ với nồng độ cao sẽ bị chết chỉ sau vài giờ.
d/ Nước thải không được xử lý.Ở nhiều vùng nghèo khổ trên thế
giới phân người và nước thải sinh hoạt không được xử lý mà quay trở lại
vòng tuần hoàn của nước. Do đó bệnh tật có điều kiện để lây
lan và gây ô nhiễm môi trường. Nước
thải không được xử lý chảy vào sông
rạch và ao hồ gây thiếu hụt oxy làm cho

tải và sinh hoạt gây ra.Dưới đây là những vấn đề môi trường xung quanh các
khu công nghiệp nổi bật trong thời gian gần đây:
1. Môi trường ở các KCN Miền Nam
a/ Tại Đồng Nai : Nổi bật là vi phạm về hệ thống xử lý nước thải của nhà
máy Vedan gây hậu quả nghiêm trọng tới môi trường:Từ đầu năm 1994,
công ty Vedan đã lắp đặt và vận hành hệ thống bơm, đường ống kĩ thuật để
bơm dịch thải lỏng và các chất dịch thải đặc vào sông Thị Vải. Trước đó,
những chất thải này được “tạm trú” trong các bể chứa lớn có dung tích từ
6.000m3 – 15.000m3. Từ đây, với một hệ thống đường ống nổi, chìm được
thiết kế tinh vi có các van đóng mở linh hoạt và 2 trụ bơm được cắm sâu
xuống sông Thị Vải, chất thải được tuồn xuống sông vào ban đêm. Trong đó
nhiều đường ống xả chất thải được chôn sâu dưới lòng đất và thông ngầm ra
sông. là nước thải chưa qua xử lý được đổ trực tiếp ra sông Thị Vải. Trong
suốt 14 năm qua, Vedan đã thải vào sông Thị Vải một lượng vô cùng lớn
chất thải độc hại, đã làm con sông Thị Vải trở nên ô nhiễm trầm trọng, nước
sông trở nên đen và có mùi hôi rất khó chịu gây ảnh hưởng nghiêm trọng
đến cuộc sống của nhân dân xung quanh. Tổng lượng nước mà Vedan đã xã
ra sông Thị Vãi là 4000m3 /ngày. Sông Thị Vãi đã trở thành con sông ô
nhiễm nặng và phải cần rất nhiều công sức, tiền của và thời gian mới có thể
khắc phục được hậu quả này.
10
Lớp QT40C
Kinh tế công nghiệp
Hậu quả của Vedan Việt Nam: Cả con sông Thị Vải đã ô nhiễm trầm
trọng và đặc biệt khúc sông có hệ thống nước thải của Vedan đổ ra đã biến
thành con khúc sông “chết”. Nước sông thì đen đặc còn mùi hôi thì bốc lên
nồng nặc. Ngoài việc bị viêm xoang, những người sống ven con sông này
cũng bị điêu đứng bởi tình trạng cá tôm nuôi bị chết phơi bụng hàng loạt, vì
vậy những dãy hồ nuôi cá dọc bờ sông thuộc địa bàn xã Long Thọ bị bỏ
không từ nhiều năm nay. Không những thế, tình hình sức khỏe của người

lửng, 1.130 tấn BOD5 (làm giảm nhu cầu ôxy sinh hoá), 1789 tấn COD (làm
giảm nhu cầu ôxy hoá học), 104 tấn Nitơ, 15 tấn photpho và kim loại nặng.
Lượng chất thải này gây ô nhiễm cho môi trường nước của các con sông vốn
11
Lớp QT40C
Kinh tế công nghiệp
là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho một nội địa bàn dân cư rộng lớn, làm
ảnh hưởng đến các vi sinh vật và hệ sinh thái vốn là tác nhân thực hiện quá
trình phân huỷ và làm sạch các dòng
sông.Nhà máy hoá chất Tân Bình sau khi
xảy ra sự cố hỏng rơle tự động làm thoát
khí thải độc hại có nồng độ ô nhiễm cao ra
môi trường sống khu vực P15-Q.Tân Bình
&P12-Q.Gò Vấp,gây ảnh h ưởng nghiêm
trọng tới sức khoẻ của dân cư trong vùng.
2. Môi trường ở các khu công
nghiệp Miền Bắc:
a/ Tại Hà Nội : Ô nhiễm môi trường trở
thành vấn đề bức xúc tác động tiêu cực đến
đời sống và kìm hãm sự phát triển của Hà Nội. Thành phố đang thực sự bị
“bủa vây” bởi đủ các loại ô nhiễm rác thải, khí thải và nước thải…
Theo kết quả của sở Tài Nguyên Môi Trường và nhà đất, tại Hà Nội có hơn
400 cơ sở công nghiệp thì có tới 200 cơ sở gây ô nhiễm không khí. Hàng
năm các cơ sở này “đóng góp” thêm vào bầu không khí khoảng 80000 tấn
khói bụi, 9000 tấn SO2, 19000 tấn khí NO2
Chất lượng không khí ở Hà Nội, đặc biệt là khu vực nội thành đã có biểu
hiện suy thoái, nồng độ các chất độc hại, bụi trong không khí đã vượt tiêu
chuẩn cho phép từ 1-2 lần, nhiều nơi gấp 6-7 lần. Tại các khu vực có nhiều
công trường xây dựng như Hà Đông, Mỹ Đình, Từ Liêm, Cầu Giấy, Hoàng
Mai bụi cuốn mù mịt, làm người đi đường tức ngực, nhức mắt.

thải vào môi trường và chưa kê khai nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước
thải công nghiệp mới phát sinh.
Ngoài ra các cơ sở công nghiệp như: Công ty giấy Bãi Bằng, Công ty
dệt Vĩnh Phú, Công ty rượu bia Vieger Phú Thọ, Công ty giấy Lửa Việt,
Công ty Pangrim Neotex cũng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng về
nước thải, khí thải, chất thải rắn có chứa hoá chất độc hại.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc suy thoái môi trường ở
Phú Thọ chính là vấn đề chất thải sản xuất công nghiệp. Thực tế cho thấy,
tại nhiều cơ sở công nghiệp hiện nay, các doanh nghiệp vẫn đang sử dụng
công nghệ, thiết bị lạc hậu. Việc đổi mới dây chuyền sản xuất còn nhiều hạn
chế dẫn tới việc chất thải ra môi trường chưa đạt tiêu chuẩn cho phép. Do
ảnh hưởng của chất thải công nghiệp, nước sông Hồng bị ô nhiễm nặng cục
bộ tại các khu công nghiệp và đô thị, nước sông Lô đã có biểu hiện ô nhiễm
cần phải có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời; một số nơi đã và đang trở
thành “điểm nóng” do ô nhiễm môi trường như xã Thạch Sơn, huyện Lâm
Thao và mới đây nhất là những vi phạm của công ty Miwon.
c/Tại Kinh Môn Hải Dương:
Khói bụi xi măng đã làm cho nhiều người chết,trẻ em bị suy nhược cơ
thể với tỉ lệ cao,gần 1300 người dân khắc khoải chìm ngập trong khói bụi
của 4 nhà máy xi măng lò đứng đang ngày đêm toả khí độc. Không chỉ có
13
Lớp QT40C


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status