CHIẾN LƯỢC CẠNH TRANH CỦA MỘT CÔNG TY TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP SUY GIẢM - Pdf 23


Mục lục
I. Mở đầu........................................................................................................................
II. Vấn đề đào tạo khi ứng dụng kỹ thuật- công nghệ mới..............................................
1. Vai trò của của công nghệ và đào tạo ứng dụng kỹ thuật- công nghệ mới.........................................................................
2. Đào tạo ứng dụng kỹ thuật- công nghệ mới với xu thế thời đại...........................................................................................
3. Thực trạng vấn đề đào tạo ứng dụng công nghệ mới.............................................
4. Nhiệm vụ trọng tâm vấn đề đào tạo ứng dụng công nghệ và lợi ích với DN..........
III. Khả năng tài chính của DN khi ứng dụng kỹ thuật- công nghệ mới..........................
1. Hiện trạng khả năng của doanh nghiệp ................................................................
2. Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng công nghệ .........................................
IV. Định hướng phát triển đào tạo và ứng dụng cho DN trong thời gian tới..................
1.Mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ đến năm 2020......................................
2. Nhiệm vụ...................................................................................................................
3. Một số chỉ tiêu cụ thể ..............................................................................................
4. Một số giải pháp.......................................................................................................
V. Kết luận......................................................................................................................
Đề tài: VÂN ĐỀ ĐÀO TẠO KHI ỨNG DỤNG KỸ THUẬT- CÔNG NGHỆ MỚI VÀ KHẢ NĂNG TÀI CHÍNH CỦA
DOANH NGHIỆP
I. Mở đầu
Trong thời đại ngày nay, những bước tiến kỳ diệu và những thành tựu to lớn của kỹ thuật và công nghệ tác động sâu sắc đến sự phát
triển của xã hội loài người. Kỹ thuật và công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh
tế - xã hội. Trong môi trường quốc tế cạnh tranh ngày càng gay gắt, công nghệ được xem là công cụ chiến lược để phát triển kinh tế -
xã hội một cách nhanh chóng và bền vững.Việc đẩy mạnh ứng dụng kỹ thuật- công nghệ mới trong sản xuất, kinh doanh là vấn đề sống
còn đối với mỗi doanh nghiệp. Thực tế này đang đặt ra cho chúng ta (cả ở cấp độ vĩ mô và vi mô) những yêu cầu bức thiết về đổi mới
công nghệ, về sự tồn tại và phát triển của bản thân mỗi doanh nghiệp và cả quốc gia.
Nước ta với chính sách đi tắt đón đầu, tiếp thu và ứng dụng những công nghệ mới đã đem lại những thành công lớn cùng với đó các
doanh nghiệp cũng đã phát triển mạnh đưa những công nghệ mới từ bên ngoài cũng như từ việc nghiên cứu phát minh ra các công nghệ
tiên tiến áp dụng và sản xuất đem lại sự phát triển và cạnh tranh. Việc đào tạo và ứng dụng công nghệ luôn là là vấn đề đối với một
doanh nghiệp, trong xu thế toàn cầu hóa và công nghệ phát triển, hàng ngày hằng giờ luôn có những công nghệ mới ra đời áp dụng vào
thực tiễn, những công nghệ này khi ra đời luôn làm cho những công nghệ đi trước lạc hậu khả năng cạnh tranh và lợi ít mang lại thấp

Vì kinh tế luôn luôn phát triển, nên vai trò của công nghệ cũng luôn thay đổi. Ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển, mức tăng
trưởng dường như phụ thuộc cứng nhắc vào khả năng tiếp thu và sử dụng một cách hiệu quả công nghệ. Tiếp thu công nghệ nước ngoài
tạo ra một bước rất quan trọng để cải tiến khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước, cũng như quốc tế. Những tiếp thu công nghệ
như vậy, cần được nhìn nhận là sự bổ sung hơn là sự cạnh tranh với những nỗ lực quốc gia trong việc phát triển công nghệ. Tiếp thu
công nghệ nước ngoài: đầu tư trực tiếp của nước ngoài: nhập khẩu, hàng hoá tư liệu sản xuất, hợp đồng Li-xăng và các phương tiện
không chính thức như “kỹ thuật ngược” (hay sao chép mẫu có cải biên) và khảo sát ở nước ngoài. Một khi công nghệ đã được thu nhận,
nhiệm vụ tiếp theo là đảm bảo quá trình triển khai rộng rãi chúng. Quá trình này phụ thuộc vào một loạt yếu tố, bao gồm: lợi nhuận
mong muốn và mạo hiểm, các yêu cầu về nghiên cứu ứng dụng và khả năng nghiên cứu của các hãng, chi phí phát triển, nghiên cứu thị
trường và khả năng sản xuất của các doanh nghiệp, khả năng có được của các nguồn kỹ thuật, tài chính và các nguồn khác. Công nghệ
mới là kết quả của quá trình công nghiệp hoá và đồng thời là một trong những động lực chính của quá trình công nghiệp hoá. Việc phát
triển công nghệ mới là yếu tố quan trọng làm thay đổi trực tiếp hay gián tiếp phạm vi phương thức sản xuất công nghiệp, góp phần phân
công lại lao động trong sự phát triển công nghiệp. Công nghệ mới thực hiện những đột phá quan trọng có tác động mạnh mẽ đến quá
trình công nghiệp hoá, có thể nói phát triển công nghiệp trong tương lai trên cơ sở của công nghệ mới.
Các biện pháp hỗ trợ như khuyến khích tài chính là cần thiết để thúc đẩy các doanh nghiệp hoạt động nghiên cứu và phát triển, nâng
cao trình độ công nghệ thông qua kiểm tra chất lượng, thử nghiệm và huấn luyện công nghệ. Yếu tố quyết định khả năng công nghệ và
khả năng cạnh tranh trong nước cũng như quốc tế là số người có khả năng quyết định mọi vấn đề công nghệ. Trong phương diện này,
đầu tư đào tạo nhân lực kỹ thuật là quan trọng, đặc biệt là đầu tư phát triển hệ thống giáo dục khoa học kết hợp với trương trình huấn
luyện thực tế một cách hiệu quả và linh hoạt. Trong giai đoạn phát triển tương đối cao, khi một quốc gia đã đuổi kịp các nước có nền
công nghệ tiên tiến ít hơn (ít nhất là trong một số lĩnh vực lựa chọn) thì khả năng phát triển công nghệ mới (tức là đổi mới công nghệ)
trở thành nhân tố cơ bản để đạt được thành công trong cạnh tranh. Tới một thời điểm nào đó, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế sẽ phụ thuộc
mạnh mẽ vào các tiến bộ khoa học và công nghệ thể hiện qua số các nhà khoa học và kỹ sư, đặc biệt là số các nhà khoa học và kỹ sư
trong khu vực sản xuất, cũng như mức chi phí cho nghiên cứu và phát triển có thể đáp ứng được.
2. Đào tạo ứng dụng kỹ thuật- công nghệ mới với xu thế thời đại
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trong giai đoạn ngày nay cùng với làn sóng vĩ đại của đổi mới công nghệ đang tổ chức lại
một cách cơ bản đời sống xã hội con người về mọi mặt từ kinh tế đến văn hóa, với xu thế lớn mang tính toàn cầu sẽ là hiện tượng xã hội
thông tin phát triển và xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, mà trong các thập kỷ tới các nước không tính đến trong quá trình phát
triển kinh tế nước mình sẽ khó có thể tồn tại và đứng vững.
Trong xã hội thông tin, phương thức sản xuất dựa trên nền công nghiệp vừa và nhỏ tác động nhanh, tiêu tốn ít năng lượng nhờ sử
dụng các thiết bị vi điện tử, công nghệ sinh học và vật liệu mới. Tin học với chức năng là xử lý tự động thông tin nhờ máy tính, sẽ trở
thành một bộ phận hữu cơ của cuộc sống hàng ngày. Thông tin và tri thức trở thành yếu tố đầu vào của sản xuất, nó là nguồn lực đặc

khí- chế tạo máy, đã góp phần nâng cao năng lực nội sinh trong một số lĩnh vực công nghệ tiên tiến, nâng cao năng suất, chất lượng và
hiệu quả của nhiều ngành kinh tế.
Khoa học và công nghệ trong những năm qua đã góp phần đào tạo và nâng cao trình độ nhân lực, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, bảo
vệ môi trường, giữ gìn bản sắc và phát huy truyền thông văn hoá tốt đẹp của dân tộc.
c) Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ từng bước được đổi mới
Thực hiện Luật Khoa học và Công nghệ, các chương trình, đề tài, dự án KH & CN đã bám sát hơn nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã
hội. Cơ chế tuyển chọn tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ KH & CN đã bước đầu được thực hiện theo nguyên tắc dân chủ, công khai.
Hoạt động của các tổ chức KH & CN đã mở rộng từ nghiên cứu- phát triển đến sản xuất và dịch vụ KH & CN. Quyền tự chủ của các tổ
chức, cá nhân trong hoạt động KH & CN bước đầu được tăng cường. Quyền tự chủ về hợp tác quốc tế của tổ chức, cá nhân hoạt động
KH & CN được mở rộng.
Vốn huy động cho KH & CN từ các nguồn hợp đồng với khu vực sản xuất – kinh doanh, tín dụng ngân hàng, tài trợ quốc tế và các
nguồn khác, tăng đáng kể nhờ chính sách đa dạng hoá nguồn vốn đầu tư cho KH & CN. Đã cải tiến một bước việc cấp phát kinh phí đến
nhà khoa học theo hướng giảm bớt các khâu trung gian.
d) Trình độ nhận thức và ứng dụng khoa học và công nghệ của nhân dân ngày các được nâng cao.
Hoạt động tích cực của các tổ chức KH & CN, các tổ chức khuyến nông, lâm, ngư và công tác phổ biến, tuyên truyền rộng rãi về tác
động của KH & CN đến sản xuất và đời sống, nhận thức và khả năng tiếp thu, ứng dụng tri thức KH & CN trong thời gian qua đã tăng
lên rõ rệt. Hoạt động KH & CN ngày càng được xã hội hoá.
3.2. Những yếu kém và nguyên nhân chủ yếu
* Những yếu kém
a) Nguồn nhân lực công nghệ cao qua đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu.
Nguồn nhân lực công nghệ cao còn thiếu nhiều, nhất là đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ để có thể chuyển kiến thức thành công
nghệ, chuyển kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm thành quy trình sản xuất… Thực tế này khiến DN Việt Nam đi sau hàng chục
năm so với nhiều nước đang phát triển.
b) Năng lực khoa học và công nghệ còn nhiều yếu kém.
- Đội ngũ cán bộ KH & CN còn thiếu cán bộ đầu đàn giỏi, các “ tổng công trình sư”, đặc biệt là thiếu cán bộ KH & CN trẻ kế cận có
trình độ cao. Cơ cấu nhân lực KH & CN theo ngành nghề và lãnh thổ còn nhiều bất hợp lý.
- Đầu tư của xã hội cho KH & CN còn rất thấp, đặc biệt là đầu tư từ khu vực doanh nghiệp. Trang thiết bị của các Viện nghiên cứu,
trường đại học nhìn chung còn rất thiếu, không đồng bộ, lạc hậu so với những cơ sở sản xuất tiên tiến cùng ngành.
- Hệ thống giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực KH & CN chất lượng cao, đặc biệt đối với những lĩnh
vực KH & CN tiên tiến; chưa đáp ứng yêu cầu phát triển KH & CN cũng như sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

quả còn hạn chế.
- Thị trường KH & CN chậm phát triển. Hoạt động mua, bán công nghệ và lưu thông kết quả nghiên cứu KH & CN còn bị hạn chế
do thiếu các tổ chức trung gian, môi giới, các quy định pháp lý cần thiết, đặc biệt là hệ thống bảo hộ hữu hiệu quyền sở hữu trí tuệ.
Tóm lại, công tác quản lý nhà nước về KH & CN còn chưa đổi mới kịp so với yêu cầu chuyển sang kinh tế thị trường.
* Những nguyên nhân chủ yếu
a) Đường lối chính sách phát triển KH & CN của Đảng và Nhà nước chưa được quán triệt đầy đủ và chậm được triển khai trong thực
tiễn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status