LỜI NÓI ĐẦU
Bước vào thế kỷ XXI – kỷ nguyên mới đầy hứa hẹn nhưng cũng nhiều
thách thức, xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế đang là một tất yếu và diễn ra rất
sôi động.
Cùng với các nước khác, Việt Nam đã và đang ngày càng tích cực tham
gia vào quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới bằng việc mở rộng các quan
hệ kinh tế đối ngoại trong những năm gần đây. Việc gia nhập ASEAN, ký kết
hiệp định thương mại Việt– Mỹ đã mở ra một triển vọng tốt đẹp cho sự phát
triển nền kinh tế nước nhà.
Trong xu thế vận động chung của nền kinh tế thế giới, vai trò của các
công ty xuất nhập khẩu càng trở nên quan trọng, góp phần vào việc đưa nền
kinh tế nước ta hoà nhập với nền kinh tế thế giới, tạo ra chỗ đứng của hàng hoá
Việt Nam trên thị trường quốc tế. Cơ hội mở ra cho các doanh nghiệp hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu là rất lớn nhưng cũng đặt ra rất nhiều khó
khăn, thách thức. Những doanh nghiệp nào biết chớp thời cơ và thích ứng với
điều kiện mới thì sẽ nhanh chóng phát triển, thậm chí tạo ra được các bước
nhảy vọt. Ngược lại, doanh nghiệp nào không thích ứng được với điều kiện mới
sẽ bị đào thải, thực tế đã chứng minh điều đó.
Công ty Xuất nhập khẩu Tạp phẩm Tocontap là một trong những doanh
nghiệp nhà nước hàng đầu của Việt Nam. Công ty không những đã thích ứng
với xu thế mới mà còn không ngừng đi lên, đóng góp cho sự phát triển chung
của cả nước. Để tìm hiểu một cách rõ nét hơn và có cái nhìn sâu hơn về các
hoạt động kinh doanh của công ty, em đã xin tham gia thực tập tại công ty.
Thời gian thực tập tổng hợp tuy ngắn nhưng em đã có cơ hội tiếp xúc với thực
tế và áp dụng phần nào những kiến thức mà mình đã được học. Tuy nhiên, vì
trình độ có hạn nên không tránh khỏi có nhiều thiếu sót.
Nhân đây, em cũng xin chân thành cảm ơn hai giáo viên hướng dẫn đã
giúp đỡ em trong quá trình thực tập cũng như các cán bộ công nhân viên trong
công ty đã tận tình giúp đỡ em trong thời gian em thực tập tại công ty.
NỘI DUNG
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
kỷ 80 xuống mức thấp nhất 9 triệu USD năm 1995.
Mặc dù vậy, do có sự giúp đỡ của Bộ Thương Mại cùng với những cố
gắng của ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ công nhân viên, công ty đã ổn định và
phát triển trở lại. Kim ngạch tuy không đạt được mức cao như trước nhưng liên
tục tăng lên trong những năm qua, luôn hoàn thành nghĩa vụ nộp ngân sách cho
Nhà nước...
Trải qua 46 năm hoạt động và phát triển, công ty đã thiết lập được một
mạng lưới kinh doanh quốc tế, quan hệ hợp tác với các tổ chức các công ty ở
trên 70 quốc gia trên toàn thế giới. Không chỉ mở rộng mối quan hệ đối tác,
công ty còn tiến hành kinh doanh để tận dụng các cơ hội thuận lợi mà thị
trường đem lại. Với một nguồn nhân lực năng động, có trình độ, kết hợp với
những kinh nghiệm tích luỹ được trong thời gian qua, công ty hoàn toàn có thể
phát triển hơn nữa, xứng đáng trở thành một công ty lớn của Bộ Thương Mại.
II. CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA CÔNG TY:
1. Chức năng hoạt động:
Chức năng chủ yếu của công ty là tiến hành các hoạt động xuất nhập
khẩu, trong đó:
- Tổ chức xuất khẩu trực tiếp các loại hàng hoá không thuộc danh mục
hàng cấm.
- Tổ chức tiêu thụ các mặt hàng nhập khẩu.
- Nhận xuất khẩu uỷ thác, làm đại lý cho các doanh nghiệp trong và
ngoài nước.
Ngoài ra, công ty còn có thể tiến hành các hoạt động sản xuất, gia công
hàng hoá phục vụ cho việc xuât khẩu hoặc kinh doanh trong nước.
Một số mặt hàng kinh doanh chủ yếu của công ty:
- Giấy, bột giấy các loại
- Hàng nông, lâm, thủy hải sản
- Hàng thủ công mỹ nghệ
- Hàng may mặc, vải
- Giầy dép thành phẩm và bán thành phẩm
Phó tổng giám đốc Phó tổng giám đốc
Phòng
Tổng
hợp
Phòng
Tài
chính
kế
toán
Phòng
Tổ
chức
lao
động
Phòng
Hành
chính
quản
trị
- Chi nhánh Hảí
Phòng
- Chi nhánh TP
Hồ Chí Minh
- Xí nghiệp
TOCAN
Các phòng kinh
doanh xuất nhập
khẩu tổng hợp
1,2,3,4,5,6,7
- Trước kia, các phòng quản lý của công ty có 10 phòng ban quản lý,
của công ty, các hoạt động của công đoàn và đoàn thể. Quản lý về văn thư, lưu
trữ, điện thoại, Fax, Telex, văn phòng phẩm, điều hành xe và các phương tiện
làm việc để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Phòng có nhiệm vụ
duy trì thời gian làm việc, sửa chữa nhà cửa đảm bảo môi trường của công ty
luôn sạch đẹp và văn minh.
+ Các phòng kinh doanh:
Trước đây công ty có 6 phòng nghiệp vụ gồm 3 phòng chuyên xuất và 3
phòng chuyên nhập. Nhưng do tình hình thực tế có nhiều thay đổi nên công ty
chuyển chức năng phòng nghiệp vụ thành phòng xuất nhập khẩu tổng hợp
nhằm tận dụng mọi khả năng quan hệ giao dịch của các thành viên trong toàn
công ty.
Hiện nay công ty có 7 phòng XNK tổng hợp, 2 chi nhánh tại Hải Phòng
và TP Hồ Chí Minh và xí nghiệp liên doanh TOCAN.
Các ngành hàng được phân chia theo các phòng như sau:
• Phòng XNK 1: Chuyên kinh doanh XNK các loại giấy và bột giấy
như giấy báo, giấy viết, giấy ảnh và các loại sản phẩm điện tử (Máy tính, máy
in các loại...) và phụ tùng.
• Phòng XNK 2: Chuyên kinh doanh XNK các loại văn phòng phẩm,
các hoá mỹ phẩm, dụng cụ thể thao, xe gắn máy... hàng thủy tinh pha lê, các
loại nhạc cụ, đồ chơi trẻ em, đay và các sản phẩm từ đay, chế phẩm hoá học,
cao su và các sản phẩm từ cao su như săm lốp các loại.
• Phòng XNK 3: Chuyên kinh doanh XNK các loại sản phẩm may mặc,
hàng dệt kim, hàng len dạ... và các loại nguyên liệu dùng cho ngành dệt như
bông thiên nhiên, bông tổng hợp, tơ lụa tự nhiên, tơ len nhân tạo... các loại
quần áo bảo hộ lao động và hàng thêu ren.
• Phòng XNK 4: Chuyên kinh doanh XNK các mặt hàng điện tử gia
dụng như vô tuyến, điều hoà không khí, máy hút bụi... các dụng cụ văn phòng,
rượu các loại sơn và các vật liệu sơn.
• Phòng XNK 5: Chuyên kinh doanh XNK các thiết bị máy móc điện,
dụng cụ cầm tay, dây điện và cáp điện, bóng đèn, thiết bị văn phòng, gia đình
Do công ty tìm đối tượng trước rồi mới tiến hành thu mua, lượng bán lẻ
cũng không đáng kể nên lượng hàng tồn kho nhỏ không ảnh hưởng nhiều đến
hiệu quả sử dụng vốn. Thông thường trong một năm vòng quay vốn của công
ty từ 5,53 – 7,7 vòng/1 năm tức là thời gian hoàn vốn là 46,7 ngày đến 67,7
ngày/ 1 vòng. Do hoạt động XNK mất nhiều thời gian cho khâu chuẩn bị hàng
hóa, vận chuyển giao nhận... và trong nhiều trường hợp khác hàng thanh toán
chậm nên với thời gian thực hiện một vòng quay của vốn như vậy là hợp lý.
Vốn lưu động của công ty chủ yếu ở dưới dạng tiền hàng hóa và khoản
phải thu từ khách hàng. Do phương thức thanh toán cũng như phương thức mua
bán ngoại thương mà số vốn lưu động của công ty vào thời điểm 31/12/1998
chủ yếu ở dưới hình thái các khoản phải thu (chiếm 45%), tiền gửi ngân hàng
và hàng hoá còn lượng tiền mặt chiếm tỷ trọng rất ít vì thanh toán chủ yếu qua
ngân hàng.
Khi được thành lập, tài sản cố định của công ty chủ yếu tập trung chủ
yếu vào các dạng vật chất kiến trúc như trụ sở, cửa hàng, kho, các trang thiết bị
làm việc và phương tiện vận chuyển. Tuy nhiên, cho đến nay thì tài sản cố định
còn bao gồm cả các máy móc thiềt bị phục vụ cho sản xuất...
Có thể nói cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty khá tốt. Trụ sở kinh doanh
tại 36 Bà Triệu được chú trọng sửa sang khang trang, sạch sẽ. Các phòng ban
được trang bị đầy đủ các thiết bị làm việc, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh,
giao dịch, nhanh chóng hiệu quả. Do hoạt động thương mại nên công ty thường
đảm nhận việc bảo quản hàng hoá cũng như giao hàng theo yêu cầu của khách
hàng. Vì thế, công ty còn có một đội xe đáp ứng được yêu cầu vận chuyển giao
nhận hàng hóa và một kho hàng tại Hải Phòng. Nhờ có cơ sở vật chất kỹ thuật
đầy đủ như vậy mà công ty phục vụ khách hàng tốt hơn, có hiệu quả hơn.
2. Thực trạng kinh doanh chung của công ty trong những năm qua.
Bảng 1: Một số chỉ tiêu kinh doanh chủ yếu
Chỉ tiêu Đơn vị 1998 1999 2000 2001 2002
1.Kim ngạch XNK 1000$ 28.411,2 16.546,7 21.070 31.051 24882
2.Tổng doanh thu Tr đồng 204.872 104.842 185.372 286.380 28768
Trung Quốc là một quốc gia có một truyền thống lịch sử văn hoá rất lâu
đời, hàng thủ công mỹ nghệ là ngành hàng truyền thống của họ. Hơn nữa,
Trung Quốc với dân số trên 1,2 tỷ người, nhiều thợ thủ công tài hoa và nguồn
nhân công rẻ, họ có lợi thế hơn chúng ra về nhiều mặt, đặc biệt là về giá cả,
chủng loại và mẫu mã.