Dự báo tình hình những năm đầu của thế kỷ 21 để làm cơ sở xây dựng kế hoạch định hướng phát triển thủ đô đến năm 2010 - Pdf 23

ĐỀ TÀI NCKH TRỌNG ĐIỂM CẤP THÀNH PHỐ:
“ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI Ở THỦ ĐÔ, NHỮNG BÀI
HỌC KINH NGHIỆM; ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐẾN NĂM 2010”
MÃ SỐ: 01X-13/08-2003-3

CHUYÊN ĐỀ:
DỰ BÁO TÌNH HÌNH NHỮNG NĂM ĐẦU CỦA THẾ KỶ
XXI ĐỂ LÀM CƠ SỞ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH ĐỊNH
HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỦ ĐÔ ĐẾN NĂM 2010 CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA:

6. TS. Vò Träng L©m,

Phã Văn phòng Thành uỷ Hà Nội
(Chñ tr× thùc hiÖn)
2. PGS.TS. Ngô Doãn Vịnh, Viện trưởng Viện Chiến lược phát
triển
3. PGS.TS. Nguyễn Xuân Thắng, Viện trưởng Viện Kinh tế và
Chính trị thế giới
4. TS. Lưu Đức Hải, Phó Trưởng ban, Viện Chiến lược phát
triển
5. TS. Chu Đức Dũng, Trưởng phòng, Viện Kinh tế và Chính
trị thế giới
6. TS. Hoàng Xuân Nghĩa, Phó Trưởng phòng, Viện Nghiên
c
ứu phát triển KT – XH Hà Nội

(2) Toàn cầu hoá là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều
nớc tham gia; xu thế này đang bị một số nớc phát triển và các tập đoàn
kinh tế t bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có
mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực;
(3) Hoà bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn;
(4) Khu vực Đông Nam á, châu á - Thái Bình Dơng có khả năng
phát triển năng động nhng vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định.
Tuy vậy, bối cảnh quốc tế và khu vực đã và đang thay đổi rất nhanh
chóng. Các xu thế chung nói trên, về cơ bản, vẫn là những xu thế chủ yếu
của sự phát triển thế giới từ nay đến năm 2010, song chúng đã có những
biến đổi. Mặt khác, các diễn biến mới của tình hình cũng cho phép chúng ta
nhân diện rõ hơn, sâu sắc hơn các các xu thế tiến triển của thế giới, làm đậm
nét hơn cả các thời cơ, các thách thức lẫn các giải pháp. Sự phản ứng chính
sách chậm chạp của bất kỳ nớc nào đều sẽ phải trả giá bằng việc đánh mất
các cơ hội phát triển và làm gia tăng các rủi ro.
Di õy, chuyờn s phõn tớch cỏc đặc điểm mới của bối cảnh
quốc tế và khu vực từ nay đến năm 2010:
2
1. Các mạng khoa học - công nghệ tiếp tục phát triển mạnh
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã diễn ra mạnh mẽ
trong gần hai thập kỷ qua và đã có tác động sâu rộng tới đời sống kinh tế
toàn cầu. Cuộc cách mạng này dựa trên các trụ cột chính là công nghệ tin
học, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ hàng không vũ
trụ... Trên tất cả các trụ cột này, mặc dù các đổi mới công nghệ đã diễn ra
với tốc độ hết sức nhanh chóng, song tiềm năng phát triển còn rất lớn. Một
đặc điểm quan trọng khác của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ này là
các lĩnh vực công nghệ đã phát triển trong sự tơng tác lẫn nhau mạnh mẽ,


3
triển và nâng cao chất lợng nguồn nhân lực, đề cao tinh thần kinh doanh,
đẩy mạnh công tác nghiên cứu và triển khai khoa học - công nghệ, nhất là
công nghệ thông tin, cải cách kinh tế và xã hội theo hớng tự do hoá và mở
cửa hơn. Các nền kinh tế phát triển trong thập kỷ tới sẽ tiếp tục giữ vai trò đi
đầu và chi phối sự phát triển kinh tế thế giới, là động lực cho sự tăng trởng
của các nền kinh tế khác.
Tiềm lực tri thức, công nghệ có ảnh hởng quyết định đến tiền đồ
phát triển của mỗi quốc gia. Đối với các nớc đang phát triển, quá trình
công nghiệp hoá nhìn chung cha hoàn thành. Cuộc cách mạng khoa học
công nghệ ở các nớc phát triển đang làm gia tăng khoảng cách về trình độ
công nghệ giữa các nớc này với các nớc đang phát triển. Công nghệ đang
là một công cụ quan trọng của các nớc phát triển trong việc chi phối các
nớc đang phát triển.
Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
hiện nay, các nớc đang phát triển đang có những cơ hội và điều kiện khách
quan để "rút ngắn" khoảng cách về trình độ công nghệ giữa họ với các nớc
phát triển, do có những lợi thế phát triển của các nớc đi sau. Đó là lợi thế
về vốn, về thị trờng, về công nghệ và về kinh nghiệm phát triển. ấn Độ là
một ví dụ khá điển hình về việc tiếp nhận tri thức công nghệ của thế giới để
phát triển mạnh lĩnh vực công nghệ thông tin và nhanh chóng trở thành nhà
sản xuất và xuất khẩu phần mềm có hạng trên thế giới. Chính phủ ấn Độ
đang đặt u tiên phát triển công nghệ sinh học, công nghệ tin học và chế tạo
dợc phẩm, là những lĩnh vực năng động nhất hiện nay trên thế giới. Trung
Quốc cũng đã hiện đại hoá công nghệ với nhịp độ cao, bằng cách coi trọng
các ngành công nghệ cao, lấy công nghệ thông tin là chủ đạo, hớng vào cải
tạo các ngành truyền thống nhằm phát huy sức mạnh của toàn bộ nền kinh
tế quốc dân. Tuy phơng thức thực hiện có khác nhau, cả hai nớc này đều
có điểm chung là đẩy nhanh hiện đại hoá công nghệ trong nớc nhờ tiếp thu

đọ sức với EU trong đàm phán đa phơng, nhng với khu vực APEC và châu
Phi lại là sự cổ vũ, thiết lập các FTA với Mỹ. Bắt đầu đột phá với Singapore,
Chi Lê và úc, Mỹ mở rộng sự đàm phán sang các nớc khác, trong đó có
ASEAN. Từ "Sáng kiến vì một ASEAN năng động", Mỹ đang khởi đầu cho
loạt đàm phán với Philippin, Thái Lan, Malayxia, thậm chí đẩy mạnh BTA
với Lào trong nỗ lực cuối cùng là để xây dựng một mạng lới các FTA song
phơng với ASEAN chứ không phải với toàn ASEAN với t cách là một
định chế khu vực, nh
Trung Quốc đã ký kết khu vực mậu dịch tự do Trung
Quốc - ASEAN (CAFTA) hoặc nh những xúc tiến FTA giữa Nhật Bản,
Hàn Quốc với ASEAN hiện nay. EU và Nhật Bản cũng đã có những điều
chỉnh chiến lợc theo hớng này. Xu hớng này đẩy nhanh các tính toán tay
đôi giữa các nớc, do vậy đang làm phần nào yếu đi các nỗ lực liên kết đa
phơng cũng nh vai trò của các định chế đa phơng trong quan hệ kinh tế
quốc tế. Dù đợc cắt nghĩa thế nào thì các luật chơi trong cuộc chơi toàn cầu
cũng đã có những thay đổi. Hầu nh các nớc đều không muốn mình là kẻ
ngoài cuộc nên đã tích cực tham gia đàm phán và ký kết các FTA song
phơng. Đó không những là các FTA giữa một định chế FTA khu vực với
các quốc gia bên ngoài mà còn là giữa các quốc gia vốn là thành viên của
một FTA. Thậm chí nhiều nớc đã tham gia ký kết FTA song phơng với
nhiều nớc cùng một lức. Nói cách khác, xu hớng liên kết kinh tế quốc tế

5
trên nhiều tuyến, nhiều cấp độ, nhiều hình thức đang đồng thời diễn ra, đan
xen nhau một cách hết sức phức tạp.
Cũng cần nhấn mạnh rằng, đặc điểm mới này không phải là sự đi
ngợc của tiến trình tự do hoá thơng mại toàn cầu, bởi vì, về nguyên tắc,
WTO không loại trừ khả năng một quốc gia thành viên có thể tham gia vào
một định chế kinh tế khác, miễn là điều đó không đi ngợc lại các nguyên
tắc của hệ thống thơng mại đa phơng. Tuy nhiên, kết quả khá rõ ràng của

vẫn là sự phân biệt đối xử bởi lẽ sự cam kết theo những cách khác nhau với

6
từng nớc khác nhau đơng nhiên sẽ tạo ra những sự khác biệt và sự lựa
chọn ký kết chỉ với nớc này mà không phải với nớc kia, sẽ tạo ra sự bất
đồng trong quan hệ giữa các nớc trong một thế giới mà các quốc gia, khu
vực đã phụ thuộc lẫn nhau khá chặt chẽ. Hơn nữa, với việc tiếp cận ký kết
các FTA song phơng cho đến nay chỉ đặt ra với các nớc là thành viên
WTO, trên thực tế, đã đặt các nớc cha phải là thành viên WTO ra ngoài
cuộc chơi.
Để tồn tại trong cân bằng tơng quan sức mạnh giữa các nớc lớn,
các nớc đang phát triển cần có đối sách thích hợp. ASEAN đang có chiến
lợc tiến tới xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN với mục tiêu hớng tới
một khu vực kinh tế hội nhập sâu hơn vào năm 2010, trong đó chú trọng xây
dựng một khu vực di chuyển tự do về hàng hoá, dịch vụ, lao động có kỹ
năng, vốn. Tuy nhiên, việc các FTA trong nội khối ASEAN hoặc giữa từng
nớc ASEAN với bên ngoài đợc ký kết, liệu có thể làm giảm sự hăng hái
và tập trung nỗ lực vào liên kết toàn ASEAN? Việc Singapore và Thái Lan
đa ra "nguyên tắc 2+X" nh là nguyên tc bổ sung cho "nguyên tắc 10-X"
và nguyên tắc đồng thuận nhằm đẩy mạnh sự hội nhập sâu hơn của ASEAN
trong khuôn khổ Cộng đồng kinh tế ASEAN có vẻ phù hợp hơn với xu
hớng giải quyết tay đôi hiện nay, song liệu điều đó có đe doạ đến sức mạnh
của ASEAN nh một thực thể khu vực?
Diễn biến mới này chứng tỏ xu thế toàn cầu hoá kinh tế vẫn đang tiến
triển mạnh mẽ, song dới các hình thái phức tạp hơn và đang đặt ra những
thách thức mới cho các nớc đang phát triển núi chung, Vit Nam núi riờng,
trong chiến lợc hội nhập kinh tế quốc tế.
3. Xu thế tăng cờng cải cách thế chế kinh tế
Mặt khác, trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, tiến
trình nghiên cứu và đổi mới công nghệ, triển khai ứng dụng rộng rãi các

nớc này đang hớng tới một sự phân quyền hoá "thực sự", hàm chứa những
thay đổi triệt để vai trò nhà nớc: Vấn đề là nhà nớc hợp tác với những tổ
chức công khác có quyền hạn của riêng mình chứ không phải đợc uỷ
nhiệm, trong mối quan hệ không phải là theo trật tự trên dới. Phân quyền
điều tiết kinh tế giúp cho các địa phơng phát huy tính năng động sáng tạo
của mình. Nguyên tắc đó lại càng đúng trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu
đầy biến động và phức tạp hiện nay. Một nguyên tắc khá vững chắc là: các
cấp hành chính nhỏ hơn và thấp hơn có u thế nhất định so với các cấp lớn
hơn và cao hơn trong điều tiết kinh tế do họ hiểu rõ hơn tình hình và nhu cầu
của địa phơng, đề ra chính sách phát triển kinh tế phù hợp hơn với các đặc
điểm địa ph
ơng, có khả năng phản ứng nhanh hơn, linh hoạt hơn trớc
những thay đổi của môi trờng, thực thi các chính sách dễ dàng hơn do khả
năng đồng thuận lớn hơn, do họ gần gũi với các công dân hơn nên dễ lãnh
đạo hơn...
Chia sẻ trách nhiệm điều tiết kinh tế cho các hiệp hội dân sự là một
xu hớng nhằm tăng hiệu quả của vai trò điều tiết kinh tế của nhà nớc,
đợc nhiều nớc phát triển chú ý. Các hình thức thể chế hiệp hội (hiệp hội
nghề nghiệp - kỹ nghệ, hiệp hội thơng mại, hiệp hội giới chủ, các công
đoàn... ) có nguồn gốc lâu đời trong lịch sử. Các hiệp hội này thờng thảo ra
các quy tắc tự điều tiết. Đây là thể chế trung gian vận hành trong lĩnh vực
kinh tế, nhng lại thực thi một chức năng chính trị đặc biệt là thúc đẩy sự
hợp tác (tự nguyện) giữa các tác nhân kinh tế. Sự hợp tác với các hiệp hội

8
thể hiện: nhà nớc thừa nhận và trao cho các hiệp hội quyền đợc tự quản
trong một lĩnh vực nhất định, tôn trọng tính độc lập về hợp đồng giữa các
bên (nh thang lơng, các quyền lợi của ngời lao động... đối với các công
đoàn). Về mặt kinh tế, các thể chế này có thể tạo đợc những cân bằng hiệu
quả hơn so với phơng thức chỉ huy của nhà nớc. Đặc biệt, trong tình hình

phát triển kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Hơn nữa,
mặc dù đã đạt đợc trình độ khá triển cao và khá ổn định của hệ thống thể
chế kinh tế, các nớc phát triển hiện nay vẫn đang tìm kiếm, thử nghiệm các
hình thức, cơ chế mới nhằm hớng tới các mục tiêu thân thiện với thị

9
trờng, giải phóng sức sản xuất, hiệu quả cao (ít tốn kém cho nền kinh tế),
dân chủ hoá...
Nh vậy, bên cạnh chênh lệch về công nghệ, giữa các nớc phát triển
và đang phát triển còn đang diễn ra sự chênh lệch về thể chế kinh tế. Trong
khi đó, ngày nay, thể chế kinh tế đợc coi là một nguồn lực quan trọng
trong phát triển kinh tế. Sức hấp dẫn đầu t của một nớc phụ thuộc nhiều
vào nguồn lực này. Ngợc lại, sự yếu kém về thể chế kinh tế của một nớc
có thể đe doạ các nguyên tắc của xã hội (pháp quyền, dân chủ, nhân quyền,
công bằng xã hội...), cản trở phát triển kinh tế (làm xấu đi môi trờng kinh
doanh, cản trở đầu t trong nớc lẫn quốc tế) và làm mất ổn định các thiết
chế dân chủ.
Đồng thời, cũng cần lu ý rằng, giữa các nớc phát triển cũng có, và
luôn tồn tại, những sự khác biệt lớn về thể chế. Sự khác biệt này bắt rễ sâu
trong truyền thống văn hoá xã hội và đợc nuôi dỡng trong lịch sử phát
triển hiện đại của từng nớc, hình thành nên các văn hoá kinh doanh khá
đặc thù và do vậy, cải cách thể chế thờng rất khó khăn. Đặc trng cơ bản
hiện nay của nền kinh tế Nhật Bản vẫn là cơ cấu hai tầng (tính nhị nguyên),
tính khép kín tơng đối so với thế giới bên ngoài, còn tại các nớc EU thì,
mặc dù đã có một số cải cách, tính cứng nhắc của thị trờng lao động, thị
trờng tài chính chậm phát triển (trong tơng quan với Mỹ), mức độ bảo hộ
xã hội cao... vẫn là các đặc điểm cơ bản. Một công trình nghiên cứu gần đây
của OECD đã đi đến kết luận rằng, sự khác biệt thể chế là nhân tố chính giải
thích tính kém năng động tơng đối của Nhật Bản và EU so với Mỹ trong
thập kỷ qua.

nay, kinh tế thế giới ở trong tình trạng tăng trởng không cao, thậm chí tiếp
tục yếu ớt ở một số nớc, mặc dù các chính phủ tại hàng loạt nớc đã đa ra
các chính sách kích cầu khá mạnh mẽ (trong đó đáng chú ý là giảm lãi suất
tới mức thấp kỷ lực trong nhiều thập kỷ qua và giảm thuế). Đó là cha kể
các giảm sút kinh tế có tính chu kỳ, hiệu ứng của các căn bệnh toàn cầu
(nh dịch SARS)... đang đặt môi trờng phát triển bền vững của thế giới
trớc một loạt vấn đề phải giải quyết và đơng nhiên phải có sự nỗ lực
chung toàn cầu mới có thể ngăn chặn đợc.
Đáng chú ý là hiện nay đang có một xu hớng gia tăng sử dụng vũ lực
trong quan hệ quốc tế, khởi đầu bằng cuộc tấn công vào Irắc do Mỹ phát
động. Trong bối cảnh bất ổn đó của tình hình thế giới, lối thoát của một
nớc không phải là hạn chế hội nhập kinh tế quốc tế, mà là ngợc lại. Kinh
nghiệm cho thấy, các nền kinh tế hội nhập quốc tế cao sẽ có khả năng chống
đỡ tốt hơn với các cú sốc bên ngoài. Đơng nhiên, tình thế hiện nay sẽ khá
khác biệt giữa các nớc. Xây dựng thể chế và đờng lối, chính sách hợp lý
sẽ là cứu cánh cho mọi nớc trong việc giảm thiểu các mối bất ổn, thậm chí
có thể tận dụng sự ổn định hơn của n
ớc mình để thu hút đầu t nớc ngoài
và phát triển kinh tế.
6. Dự báo triển vọng phát triển của khu vực châu - Thái Bình Dơng
Khu vực châu á - Thái Bình Dơng tiếp tục phát triển năng động,
song tình hình đã diễn ra rất phức tạp, khó lờng. Các tiến trình hợp tác đã
biến chuyển trên nhiều tuyến theo hớng vừa hội nhập, vừa tranh giành ảnh
hởng tại khu vực này theo các tiếp cận lợi ích đơn biệt của từng quốc gia.
Trung quốc sau khi gia nhập WTO đã đi trớc một bớc so với Nhật
Bản và Hàn Quốc khi ký kết hiệp định khung về Khu vực mậu dịch tự do

11
ASEAN - Trung Quốc, khiến cho động thái hội nhập của ASEAN đang có
những sắc diện mới. ASEAN đang tìm cách để vợt qua sức ép này nhằm

Thái Lan... đang có khuynh hớng "vợt trớc" về tự do hoá thơng mại.
Các nớc này đang đẩy mạnh tiến tình ký kết các hiệp định tự do thơng
mại song phơng với các nớc bên ngoài và thậm chí với nhau. Theo đó,
nguyên tắc "đồng thuận" và nguyên tắc ASEAN-X có thể sẽ là không đủ để
đáp ứng các yêu cầu của tiến trình hội nhập mới của ASEAN. Hơn nữa, triển
vọng hội nhập sâu hơn của ASEAN vẫn đang có nguy cơ ít hiệu quả và rất
có thể bị "hoà tan" trong một Đông á một khi ý tởng về khu vực mậu dịch
tự do toàn Đông á đã manh nha, sẽ đợc thúc đẩy. Do vậy, nếu không có

12
các phản ứng chính sách thích hợp, ASEAN và các nớc thành viên có thể bị
mất đi tính chủ động trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Cũng tại Đông á, các nớc đang buộc phải tính đến nguy cơ xung đột
hạt nhân ở Bắc Triều Tiên, vấn đề Philipin, Thái Lan trở thành "đồng minh
ngoài NATO" của Mỹ - những động thái tiềm ẩn những bất ổn về an ninh
chính trị trong khu vực.
Tóm lại: Bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay đợc đặc trng nổi bật bởi
sự tiến triển nhanh của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, xu thế chuyển
dịch sang nền kinh tế tri thức, xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá kinh tế và
hội nhập kinh tế quốc tế. Trong bối cảnh kinh tế đó, nét đặc trng cơ bản là
chuyển đổi, cải cách toàn diện trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị...
Chính vì vậy, triển vọng tình hình thế giới sẽ có nhiều biến động, khó lờng,
chứ không phải là sự vận động tịnh tiến. Trong bối cảnh phụ thuộc lẫn nhau
giữa các nớc sâu sắc nh hiện nay, tính dễ tổn thơng, rủi ro của sự phát
triển kinh tế ở các nớc sẽ tăng lên.
II. Tác động của bối cảnh quốc tế ti tiến trình phát triển kinh tế Việt
Nam núi chung, H Ni núi riờng đến 2010
Việt Nam đang trong quá trình phát triển kinh tế thị trờng định
hớng XHCN và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, do vậy chịu ảnh hởng
mạnh mẽ và thờng xuyên trớc các thay đổi của bối cảnh quốc tế và khu

từng nớc lớn riêng biệt. Chỳng ta có thể vận dụng linh hoạt bài toán "cân
bằng lợi ích" trong quan hệ với các nớc lớn, trớc hết là Mỹ, EU, Nhật Bản
và Trung quốc, để tạo thế là lực cho mình trong phát triển kinh tế và bảo vệ
an ninh quốc gia.
+ Cùng với việc thực hiện các cam kết mạnh mẽ về tự do hoá thơng
mại, thông qua hội nhập, H Ni có điều kiện thực hiện tiến trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá rút ngắn. Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế
quốc tế tạo cơ hội cho chỳng ta tiếp cận các nguồn vốn, công nghệ hiện đại,
tiếp cận các thị trờng quốc tế, lựa chọn mô hình phát triển phù hợp nhằm
phát huy tốt nội lực và tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài.
+ Hội nhập kinh tế quốc tế còn giúp H Ni có thêm cơ hội thúc đẩy
cải cách thể chế kinh tế, cải cách hành chính, hoàn th
in hệ thống pháp
luật... Các quá trình hình thành và hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị
trờng có điều kiện đợc đẩy mạnh vì bối cảnh quốc tế và khu vực thờng
xuyên thay đổi... Do đó, môi trờng pháp lý, các nguyên tắc thị trờng...
đợc điều chỉnh theo các tiêu chí quốc tế.
2. Các thách thức mới
- Môi trờng quốc tế đã và đang có nguy cơ bất ổn bởi sự xuất hiện
của các biến cố mới, khó lờng. Đó là:
(1) Sự "lây lan" trên quy mô lớn của chủ nghĩa khủng bố và cuộc
chiến chống khủng bố vẫn tiếp tục diễn ra phức tạp sau sự kiện 11/9 và đặc
biệt gần đây sau cuộc chiến tranh Irắc.
(2) Những mất cân bằng ngân sách Liên bang và thâm hụt cán cân
thanh toán quốc tế của Mỹ hiện đang ở mức cao, chính sách đồng đô-la yếu

14
của Mỹ từ năm 2003... đang làm cho dấu hiệu phục hồi của nền kinh tế toàn
cầu kém vững chắc.
(3) Nguy cơ tái bùng nổ của các căn bệnh toàn cầu, nh bệnh

ngạch, GSP và các u đãi khác. Vẫn biết, đối với các nền kinh tế có khả
năng cạnh tranh, việc dỡ bỏ này là hết sức quan trọng và cần thiết cho sự
phát triển của họ. Song với các nớc kém phát triển thì tình hình lại khác.
Lâu nay, để xuất khẩu sang thị trờng các nớc phát triển, họ phải dựa chủ
yếu vào các u đãi đó và việc phải đối mặt với sự dỡ bỏ này trong thời tơng
đối gian ngắn sẽ là một thách thức vô cùng lớn cho hoạt động xuất khẩu nói

15
riêng và cho sự phát triển kinh tế xã hội nói chung. Đây là một tác động mà
chúng ta buộc phải sẵn sàng chuẩn bị sớm để tránh những cú sốc không
đáng có trong nền kinh tế.
- Các tầng lớp dễ bị tổn thơng trong xã hội luôn là những nhóm bất
lợi trong toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. Vì vậy, phải thấy đợc
các đổ vỡ, bất ổn từ trong các khía cạnh xã hội của sự phát triển, nhất là các
cú sốc bên ngoài, rất dễ xấy ra trong hệ thống kinh tế thế giới hiện nay, sẽ
tác động mạnh đến các nhóm "yếu thế", đặc biệt là khu vực nông nghiệp và
nông thôn, các vùng sâu, vùng xa. Điều đó cũng có nghĩa là, việc thiết định
các chính sách xã hội, chính sách quản lý sự phát triển ở các địa phơng
luôn phải tính đến các thay đổi thờng xuyên của bối cảnh quốc tế và khu
vực.
- Việt Nam có lợi thế là tăng trởng và phát triển trong môi trờng
chính trị - xã hội ổn định. Tuy vậy, những bất ổn của khu vực với những
động thái: vấn đề hạt nhân ở Bắc Triều tiên, Philippin và Thái Lan trở thành
đồng minh ngoài NATO của Mỹ, các bất ổn về tôn giáo, sắc tộc... ở một số
nớc trong khu vực... sẽ có tác động nhất định đến sự phát triển kinh tế ở H
Ni, vi t cỏch l Th ụ ca mt nc là thành viên ASEAN và là một
quốc gia khu vực Đông Nam á. Cần lu ý rằng, gần 70% đầu t vào H Ni
là đến từ các nớc trong khu vực Đụng và Đông Nam á, do vậy các tác
động nói trên cần đợc đặc biệt chú ý.


nhập bình quân đầu ngời/thàng của hộ gia đình tăng nhanh. Tỷ lệ đói,
nghèo (TCVN) giảm nhanh, từ 30% số hộ năm 1990 xuống gần 10% năm
2002. Mỗi năm giải quyết việc làm cho 1,3 đến 1,4 triệu lao động. Tuổi thọ
bình quân tăng từ 65 năm 1990 lên 69 tuổi năm 2002. Sự nghiệp giáo dục, y
tế, văn hoá cũng đợc cải thiện khá nhiều...
Kế thừa những thành tựu tăng trởng trong quá khứ, trong t
ơng lai
nền kinh tế-xã hội của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng với tốc độ nhanh và ổn

17
định. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ta mục tiêu tổng quát của
chiến lợc phát triển kinh tế xã hội Việt Nam 10 năm 2001-2010 và tầm
nhìn đến 2020 là: "Đa nớc ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao
rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng để
đến năm 2020 nớc ta cơ bản trở thành một nớc công nghiệp theo hớng
hiện đại. Nguồn lực con ngời, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ
tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh đợc tăng cờng; thể chế kinh tế
thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa đợc hình thành về cơ bản; vị thế
của nớc ta trên trờng quốc tế đợc nâng cao"
1
.
.
Mục tiêu tổng quát của
chiến lợc nêu trên đợc cụ thể hoá thành một số mục tiêu nh sau:
2

Mục tiêu phát triển kinh tế x hội:
1.
GDP tăng trởng hàng năm đạt khoảng trên 7% cho giai đoạn 2001-
2010; Tích luỹ nội bộ nền kinh tế đạt 30% GDP năm 2010 và 35% năm

1 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, trang 159
2
D bỏo chi tit, xem biu phn Ph lc

18
5.
Tăng tỷ lệ dân số đợc sử dụng nớc sạch từ 65% lên 80%;
6.
Tăng độ che phủ rừng từ 28% lên 40%...
Mục tiêu cho các ngành cụ thể:
1. Công nghiệp và xây dựng: Tăng trởng giá trị gia tăng công nghiệp
(kể cả xây dựng) bình quân giai đoạn 2001-2010 khoảng 9%, giai
đoạn 2011-2020 khoảng 9,4%. Đến năm 2010, GDP công nghiệp
chiếm khoảng 42%, sử dụng khoảng 23 - 24% lao động xã hội, và
năm 2020 chiếm khoảng 45% GDP và sử dụng khoảng 30% lao động
xã hội. Giá trị xuất khẩu công nghiệp sẽ chiếm 70-75% tổng kim
ngạch xuất khẩu cả nớc. Bảo đảm cung cấp và an toàn năng lợng
(điện, dầu khí, than), đáp ứng nhu cầu về thép xây dựng, phân lân,
một phần phân đạm. Cơ khí chế tạo đáp ứng 40% nhu cầu trong nớc.
Tỷ lệ nội địa hoá trong sản xuất xe cơ giới, máy và thiết bị đạt 60 -
70%, công nghiệp điện tử, thông tin trở thành ngành mũi nhọn, chế
biến hầu hết nông sản xuất khẩu, công nghiệp hàng tiêu dùng đáp ứng
nhu cầu trong nớc và tăng nhanh xuất khẩu.
2. Nông, lâm, ng nghiệp: Giá trị gia tăng nông nghiệp (kể cả thuỷ sản,
lâm nghiệp) tăng bình quân hàng năm 3,5 - 4,0%. Đến năm 2010,
tổng sản lợng lơng thực có hạt đạt khoảng 40 triệu tấn. Tỷ trọng
nông nghiệp trong GDP khoảng 14% năm 2010 và 9% năm 2020, tỷ
trọng ngành chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp tăng
lên khoảng 25%. Thuỷ sản đạt sản lợng 3,0-3,5 triệu tấn (trong đó
khoảng 1/3 là sản phẩm nuôi trồng). Bảo vệ 10 triệu ha rừng tự nhiên,

Các vùng khác cũng đều có tốc độ tăng trởng trên 7,5%, trong đó
vùng KTTĐ Miền Nam có tốc độ tăng là 9,25%, vùng KTTĐ Miền trung là
9,5%.
Để thực hiện chức năng đầu tàu lôi kéo sự phát triển của cả nớc và
các địa phơng, Thủ đô Hà Nội với các tiềm năng và lợi thế riêng có của
mình phải đợc phát triển nhanh hơn, chất lợng hơn mức trung bình của cả
nớc và phải là một trong số ít các địa phơng có tốc độ phát triển nhanh
nhất cả nớc trên hầu hết mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội (đặc biệt là
trong các ngành công nghiệp và dịch vụ). Theo tính toán, để thực hiện các
mục tiêu chiến lợc của đất nớc, để lôi kéo các địa phơng khác phát triển,
sự phát triển của Hà Nội phải đạt đợc một số mục tiêu cơ bản nh sau:
- Tốc độ tăng trởng GDP bình quân hàng năm của Hà Nội phải đạt 11-
12% cho giai đoạn 2006-2010, tơng đơng với thành phố Hồ Chí Minh
và gấp từ 1,46-1,73 lần tốc độ tăng trởng trung bình của cả n
ớc. Trong
đó, tốc độ tăng trởng của công nghiệp nhanh hơn khoảng 1,7- 1,9 lần,
của dịch vụ khoảng 1,6-1,8 lần.
- Hà Nội phải là địa phơng thu hút đợc nhiều lao động cú trỡnh cao
nhất vào các ngành công nghiệp và dịch v.
- Hà Nội phải là địa phơng có xuất khẩu công nghiệp và dịch vụ nhiều
hơn, và nhanh hơn so với cả nớc.

20
Nh vậy, các t tởng, mục tiêu của chiến lợc phát triển của cả
nớc, của vùng ĐBSH và vùng KTT phía Bắc phải đợc thể hiện trong
chiến lợc phát triển Thủ ô Hà Nội, đặc biệt là trong các ngành công
nghiệp, dịch vụ với mức độ cao hơn, chất lợng lớn hơn, tốc độ tăng cao
hơn.
2.2. Chủ trơng tiếp tục chuyển dịch cơ cấu và nâng cao chất lợng
các ngành trong cơ cấu kinh tế của cả nớc và của các tỉnh vùng
21
2.2.1. Dự báo xu thế chuyển dịch và nâng cao chất lợng cơ cấu trong
công nghiệp bằng cách phát triển các ngành sản xuất chủ lực.
Đến năm 2010, cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp của cả nớc và các
vùng (ĐBSH và KTTĐBB) sẽ chuyển dịch theo các định hớng cơ bản sau:
(a) u tiên phát triển các ngành sản xuất công nghiệp chủ lực (mũi nhọn) là
chủ trơng xuyên suốt trong phát triển công nghiệp Việt Nam và vùng
ĐBSH, vùng KTTĐ phớa Bắc.
Thực hiện chủ trơng này, công nghiệp cả nớc và vùng KTTĐ phớa Bắc
và ĐBSH sẽ u tiên phát triển các ngành công nghiệp phần mềm, thiết bị tin
học, tự động hoá (sản xuất các thiết bị tự động, rôbốt) vật liệu từ tính cao
cấp, vật liệu kỹ thuật cao (cách nhiệt, chịu mài mòn), sứ polyme cách điện,
polyme dẫn điện, vật liệu mới, vật liệu composit, polyme tổng hợp...; sản
xuất thép (các sản phẩm thép hợp kim, thép tấm, thép lá, thép chế tạo); công
nghiệp cơ khí chế tạo đáp ứng nhu cầu chế biến nông sản thực phẩm và sản
xuất hàng tiêu dùng cao cấp v.v
(b) Coi trọng phát triển các ngành công nghiệp sử dụng lao động có trình
độ cao, các sản phẩm có sức cạnh tranh để xuất khẩu. Chú trọng phát
triển công nghiệp phụ trợ để tăng giá trị gia tăng của sản phẩm, tăng
sức cạnh tranh, đảm bảo thắng lợi trong hội nhập
Thực hiện chủ trơng này, công nghiệp vùng KTTĐBB và ĐBSH sẽ
coi trọng phát triển các ngành dệt may, giày da, các ngành cơ khí chế tạo thiết
bị và phù tùng nh các thiết bị cho sản xuất ô tô, xe máy, sản xuất thiết bị điện,
linh kiện điện tử, sản xuất động cơ nổ, động cơ điện (nhất là động cơ điện công
suất lớn).
(c) Tiếp tục cải tạo, nâng cấp công nghiệp cơ khí để về lâu dài, đủ sức trang
bị cho nền kinh tế quốc dân và xuất khẩu
Thực hiện chủ trơng này, vùng ĐBSH và vùng KTTĐBB sẽ tiếp tục

truyền thống ở khu vực nông thôn ở tất cả các tỉnh trên cơ sở bảo vệ môi
trờng sinh thái. Quan tâm đến phát triển tiểu thủ công nghiệp, nhất là làng
nghề truyền thống và làng có nghề phục vụ xuất khẩu.
2.2.2. Dự báo xu thế chuyển dịch và nâng cao chất lợng cơ cấu ngành
dịch vụ
Đến năm 2010, cơ cấu nội bộ ngành dịch vụ của cả nớc và các vùng
(ĐBSH và KTTĐ phớa Bc) sẽ chuyển dịch theo các định hớng cơ bản sau:
(a) Tập trung phát triển dịch vụ chất lợng cao và toàn diện, đặc biệt là
dịch vụ tài chính ngân hàng, thơng mại, du lịch, dịch vụ công nghệ,
viễn thông, vận tải hàng hải, phát triển thị trờng bất động sản, thị
trờng vốn, thị trờng chứng khoán; phát huy có hiệu quả các tổ chức
tài chính. Hình thành những trung tâm dịch vụ tiêu biểu của quốc gia,
mang ý nghĩa khu vực, quốc tế.
Thực hiện chủ trơng này, đối với vùng ĐBSH và vùng KTTĐ phớa
Bc: Ngành dịch vụ tài chính ngân hàng sẽ xây dựng hệ thống ngân hàng
hiện đại, hình thành tập đoàn tài chính;
Dịch vụ viễn thông sẽ phát triển ở trình độ cao, hiện đại, đảm bảo dịch vụ
thông tin rộng khắp và kịp thời, đảm bảo thông suốt liên lạc quốc tế;

23
Dịch vụ vận tải hàng hải: khuyến khích đổi mới tàu, nhất là đội tàu lớn. Ưu
tiên đầu t phát triển mạnh những dịch vụ hàng hải quốc tế, xuất khẩu
thuyền viên;
Dịch vụ hàng không: hoàn thành việc hiện đại hoá các sân bay hiện có, tiến
tới xây dựng sân bay quốc tế mới đạt trình độ quốc tế và phục vụ quy mô
vận tải lớn;
Dịch vụ xây dựng: thực hiện chính sách hiện đại hoá công nghệ công nghiệp
xây dựng để đáp ứng nhu cầu xây dựng trong nớc và xuất khẩu ra nớc
ngoài;
Dịch vụ chuyển giao công nghệ: Xây dựng trung tâm khoa học công nghệ

Đối với ĐBSH, cần đảm bảo cho ngời nông dân có tỷ lệ nông sản hàng
hoá tơng ứng 60%
(1)
đảm bảo giá trị sản xuất của các ngành phi nông
nghiệp chiếm tỷ trọng khoảng trên 70% trong nông thôn (hiện nay
khoảng 40%). Kéo theo đó, dân số nông thôn đến năm 2010 còn khoảng
50-60%. Thực hiện đổi mới phân công lao động, trong đó chỉ khoảng
30- 40% lao động làm nông nghiệp (khoảng 2,7- 3 triệu lao động), còn
lại làm phi nông nghiệp, dịch vụ.
(b) Chuyển mạnh cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn theo hớng
phát triển nền nông nghiệp sạch, sinh thái với công nghệ cao và công
nghệ sinh học.
Đối với ĐBSH, cần hình thành các vùng sản xuất lúa, rau, chăn nuôi lợn,
bò sữa, gia cầm, hoa, cây cảnh... theo hớng phát triển có quy mô thích hợp
và chất lợng cao phục vụ xuất khẩu và cung cấp sản phẩm sạch cho nhân
dân (nhất là cho đô thị và khu công nghiệp) trên cơ sở đa dạng các loại hình
sản xuất, trang trại, hộ gia đình, phát triển mạnh kinh tế hợp tác và hợp tác
xã; mở rộng liên kết giữa các thành phần kinh tế. Các cây trồng, con vật
nuôi chủ lực của vùng ĐBSH tiêu biểu là lúa chất lợng cao, rau thực phẩm
cao cấp; hoa, cây cảnh, cây ăn quả, giống cây, con, lợn siêu nạc, bò kiêm
dụng thịt và sữa, vịt siêu trứng và vịt thịt chất lợng cao.
(c) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi,
thuỷ sản, giảm dần tỷ trọng ngành trồng trọt; phát triển ngành nghề
nông thôn để chuyển một số lao động nông nghiệp sang các ngành sản
xuất phi nông nghiệp.
Đối với ĐBSH:
(1) Phát triển lơng thực: Sản lợng lợng thực của vùng đến 2010 đạt
7,5-8 triệu tấn, riêng lúa khoảng 7 triệu tấn. ổn định diên tích lúa nh hiện
nay (khoảng 7,5-7,6 triệu ha) thông qua việc thâm canh , sử dụng các giống
lúa lai cho năng suất cao và giống lúa chất lợng cao, đa vụ đông dần trở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status