đánh giá thực trạng tài chính và một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần gas petrolimex - Pdf 23

Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 4
1.1.1. Khái quát về TCDN và hoạt động của doanh nghiệp 4
1.2.1. Sự cần thiết của việc phân tích TCDN 8
1.2.2. Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 12
1.3.1. Phân tích khái quát tình hình tài chính 14
1.3.2. Phân tích tình hình tài chính thông qua các chỉ tiêu tài chính đặc trưng 18
1.3.3. Phân tích diễn biến vốn và sử dụng vốn 31
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CÔNG TY 34
Fax: (84-4) 8642249 34
Website: www.pgas.com.vn 34
2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển 34
Công ty cổ phần gas Petrolimex là đơn vị kinh doanh thương mại khí hóa lỏng
(LPG) hàng đầu của Việt Nam, sự hình thành và phát triển Công ty Cổ phần gas
Petrolimex trải qua qua 3 giai đoạn chủ yếu như sau: 35
Kết luận chương 75
Sinh viên: Nguyễn Hoài Đức Lớp: CQ45/11.08
1
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, trong điều kiện nền kinh tế nước nhà đang hội nhập
sâu với nền kinh tế thế giới, để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phải luôn
luôn củng cố tiềm lực tài chính và không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh
của mình. Muốn vậy đòi hỏi các nhà quản trị doanh nghiệp phải thường xuyên
tiến hành phân tích tài chính doanh nghiệp nhằm nắm bắt và kiểm soát được thực
trạng tài chính của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các quyết định tài chính phù hợp
để duy trì và phát triển doanh nghiệp.
Trên thực tế đã có không ít doanh nghiệp lúng túng trong việc huy động và sử
dụng vốn, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, không bảo toàn được vốn gây ra

1.1.1. Khái quát về TCDN và hoạt động của doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là một khâu của hệ thống tài chính trong nền kinh
tế, là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế
hàng hóa tiền tệ.
Bất kỳ doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh
cũng cần có một lượng vốn tiền tệ tối thiểu nhất định. Mỗi loại hình doanh
nghiệp, thậm chí từng doanh nghiệp trong thời kỳ khác nhau có phương thức
khác nhau để tạo lập nguồn vốn. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp bắt đầu từ việc dùng số vốn tiền tệ ban đầu để mua sắm các yếu tố đầu
vào cho đến khi sản xuất xong, bán hàng hóa và thu được tiền. Số tiền bán hàng
đó được doanh nghiệp sử dụng để trang trải các chi phí, nộp thuế, sau đó tiếp tục
phân phối. Do vậy, quá trình hoạt động kinh doanh từ góc độ tài chính cũng
chính là quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quĩ tiền tệ của doanh
nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp. Trong quá trình đó luôn
diễn ra sự vận động và chuyển hóa liên tục của các nguồn tài chính, tạo ra các
luồng chuyển dịch giá trị mà biểu hiện của nó là các luồng tiền tệ đi vào hoặc đi
ra khỏi chu kỳ kinh doanh.
Sinh viên: Nguyễn Hoài Đức Lớp: CQ45/11.08
4
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
Gắn liền với quá trình phân phối để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của
doanh nghiệp là các mối quan hệ tài chính phản ánh bản chất của TCDN. Bao
gồm:
• Nhóm các mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước:
Quan hệ này được thể hiện chủ yếu ở chỗ doanh nghiệp nộp thuế, lệ
phí vào ngân sách Nhà nước
• Nhóm mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh
tế và các tổ chức xã hội khác. Trong đó mối quan hệ giữa doanh
nghiệp và các chủ thể khác là mối quan hệ rất đa dạng, phong phú
được thể hiện trong việc thanh toán, thưởng phạt vật chất khi doanh

tế, kỹ thuật và tài chính. Trong đó, về mặt tài chính phải xem xét các khoản chi
tiêu vốn cho đầu tư và thu nhập do đầu tư đưa lại hay nói cách khác là xem xét
dòng tiền ra và dòng tiền vào liên quan đến khoản đầu tư để đánh giá cơ hội đầu
tư về mặt tài chính. Đó là quá trình hoạch định dự toán vốn đầu tư và đánh giá
hiệu quả tài chính của việc đầu tự.
b. Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động vốn đáp ứng kịp thời, đủ
nhu cầu vốn cho các hoạt động của doanh nghiệp.
Để có thể tổ chức huy động vốn kịp thời và đầy đủ điều đầu tiên mỗi
doanh nghiệp phải xác định nhu cầu vốn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nguồn vốn huy động gồm cả nguồn vốn ngắn hạn, nguồn vốn dài hạn. Tiếp theo
là tổ chức huy động kịp thời, đầy đủ và có lợi cho các hoạt động của doanh
nghiệp. Để có được cơ cấu nguồn vốn thích hợp nhất, cần xem xét cân nhắc
Sinh viên: Nguyễn Hoài Đức Lớp: CQ45/11.08
6
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
nhiều mặt như kết cấu nguồn vốn hiện tại của doanh nghiệp, chi phí sử dụng
từng nguồn, phân tích điểm lợi và bất lợi của từng phương thức huy động.
c. Sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu
chi và đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là việc huy động các nguồn
vốn mà điều quan trọng và khó khăn hơn là sử dụng số vốn đó như thế nào để
đem lại hiệu quả cao nhất. Tiến hành phân loại số vốn hiện có của doanh nghiệp
theo các tiêu thức khác nhau nhằm thuận lợi cho công tác quản lý vốn, đồng thời
tránh tình trạng vốn ứ đọng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Theo dõi các khoản
thu, chi trong quá trình hoạt động kinh doanh. Tìm các biện pháp nhằm lập lại sự
cân bằng giữa thu và chi bằng tiền để đảm bảo khả năng thanh toán.
d. Thực hiện việc phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của
doanh nghiệp.
Phân phối lợi nhuận là việc giải quyết mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa các
bên. Việc phân phối lợi nhuận vừa đảm bảo nguồn lực cho sự phát triển lâu dài

nghiệp. Mỗi đối tượng quan tâm dưới góc độ, mục đích khác nhau để đưa ra các
quyết định phù hợp với lợi ích của chính họ. Có thể chia các đối tượng quan tâm
đến những thông tin về tình hình tài chính của các DN thành hai nhóm: Nhóm có
quyền lợi trực tiếp và nhóm có quyền lợi gián tiếp.
Nhóm có quyền lợi trực tiếp bao gồm các nhà quản trị doanh nghiệp, nhà
đầu tư, người cho vay.
Nhóm có quyền lợi gián tiếp bao gồm các cơ quan quản lý Nhà nước,
người lao động, đối thủ cạnh tranh, nhà phân tích tài chính…
Sinh viên: Nguyễn Hoài Đức Lớp: CQ45/11.08
8
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
Các đối tượng sử dụng thông tin tài chính khác nhau sẽ đưa ra các quyết
định với mục tiêu khác nhau. Vì vậy, phân tích tài chính đối với mỗi đối tượng
khác nhau sẽ đáp ứng các vấn đề chuyên môn khác nhau.
- Phân tích TCDN đối với nhà quản lý doanh nghiệp: Các nhà quản lý
công ty doanh nghiệp là những người trực tiếp quản lý công ty, họ cần các thông
tin để nắm bắt, kiểm soát và chỉ đạo tình hình sản xuất, kinh doanh của công
ty.Các thông tin do các báo cáo tài chính thường không đáp ứng đủ nhu cầu
thông tin của họ, chính vì vậy họ cần được cung cấp thông tin phục vụ cho việc
quản lý doanh nghiệp và đưa ra các quyết định quản lý sản xuất kinh doanh của
công ty. Phân tích tài chính doanh nghiệp đối với các nhà quản lý công ty nhằm
đáp ứng những mục tiêu sau:
Một là: Tạo ra những chu kỳ đều đặn để đánh giá hoạt động quản lý trong
giai đoạn đã qua, việc thực hiện cân bằng tài chính, khả năng sinh lời, khả năng
thanh toán và rủi ro tài chính của công ty
Hai là: Hướng các quyết định của doanh nghiệp theo chiều hướng phù
hợp với tình hình thực tế của công ty, như quyết định về đầu tư, tài trợ, phân
phối lợi nhuận
Ba là: Phân tích tài chính của các doanh nghiệp là cơ sở cho những dự
đoán tài chính.

các cơ quan quản lý cấp bộ, cơ quan thuế, thanh tra tài chính, …Các cơ quan dựa
vào các báo cáo tài chính của doanh nghiệp để phân tích, đánh giá tình hình tài
chính nhằm mục đích kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh đồng
thời qua đó giúp các cơ quan nhà nước hoạch định các chính sách vĩ mô phù hợp
với tình hình chung của các doanh nghiệp.
Sinh viên: Nguyễn Hoài Đức Lớp: CQ45/11.08
10
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
- Phân tích tài chính đối với người lao động: Đó là những người hưởng
lương trong doanh nghiệp. Đây là những người có nguồn thu nhập duy nhất là
tiền lương được trả và các khoản tiền thưởng hoặc phụ cấp theo quy định. Kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh có tác động trực tiếp tới người lao động. Do
vậy, phân tích TCDN giúp cho họ định hướng việc làm ổn định, yên tâm trong
công việc.
Như vậy, thông qua việc phân tích TCDN giúp cho người sử dụng thông
tin ra quyết định, lựa chọn các phương án kinh doanh tối ưu để đạt dược mục
đích. Đồng thời nó là công cụ để đánh giá hoạt động kinh doanh được các nhà
đầu tư, các cơ quan quản lý Nhà nước và các đối tượng khác quan tâm sử dụng.
Do đó, phân tích TCDN đã trở thành công cụ không thể thiếu và có ý nghĩa thiết
thực trong nền kinh tế thị trường
1.2.1.3. Mục tiêu chủ yếu của việc phân tích TCDN.
Phân tích tài chính doanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin có tác dụng hữu
ích trong việc tạo ra các quyết định kinh doanh và kinh tế. Vì vậy phân tích tài
chính của doanh nghiệp phải đạt được các mục tiêu chủ yếu sau đây:
- Thứ nhất: Phân tích tài chính phải cung cấp được đầy đủ các thông tin
hữu ích cho các nhà đầu tư và những người sử dụng thông tin tài chính khác để
giúp họ có quyết định đúng đắn khi ra các quyết định đầu tư, quyết định cho
vay…
Ngoài ra phân tích tài chính còn cung cấp thông tin cho các chủ doanh
nghiệp, các nhà đầu tư, nhà cho vay và những người sử dụng khác trong việc

Sinh viên: Nguyễn Hoài Đức Lớp: CQ45/11.08
12
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
a. Phương pháp so sánh.
So sánh là một phương pháp nhằm nghiên cứu sự biến động và xác định
mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích. Để áp dụng phương pháp so sánh cần
chú ý các vấn đề sau đây.
Thứ nhất: Điều kiện so sánh.
- Phải tồn tại ít nhất hai đại lượng (2 chỉ tiêu).
- Các đại lượng phải đảm bảo tính chất so sánh được. Đó là sự thống nhất
về nội dung kinh tế, thống nhất về phương pháp tính toán, thống nhất về thời
gian và đơn vị đo lường.
Ngoài ra, trong trường hợp so sánh hai doanh nghiệp với nhau, ngoài các
điều kiện nêu trên, thì cần đảm bảo điều kiện khác như cùng quy mô, loại hình
hoạt động, có điều kiện kinh doanh tương tự nhau.
Thứ hai: Xác định gốc để so sánh.
Kỳ gốc so sánh tùy thuộc vào mục đích của phân tích.
- Gốc so sánh là kỳ kế hoạch khi đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu,
nhiệm vụ đặt ra.
- Gốc so sánh là trị số của chỉ tiêu phân tích ở kỳ trước hoặc hàng loạt kỳ
trước (năm trước) nếu mục đích của phân tích nhằm xác định xu hướng và tốc độ
phát triển của chỉ tiêu phân tích.
- Gốc so sánh có thể là số liệu của một doanh nghiệp hoặc có thể là số liệu
trung bình của ngành khi đánh giá vị trí của doanh nghiệp so với doanh nghiệp
khác hoặc là tổng thể một ngành.
Thứ ba: Kỹ thuật so sánh.
- So sánh về số tuyệt đối: Là việc xác định chênh lệch giữa trị số của chỉ
tiêu phân tích với trị số của kỳ gốc. Kết quả so sánh cho thấy sự biến động về số
tuyệt đối của chỉ tiêu hiện tượng kinh tế đang nghiên cứu.
Sinh viên: Nguyễn Hoài Đức Lớp: CQ45/11.08

Bảng cân đối kế toán là một tài liêu quan trọng đối với việc nghiên cứu
đánh giá khái quát tình hình tài chính, trình độ quản lý và sử dụng vốn cũng như
triển vọng kinh tế, tài chính của doanh nghiệp. Các vấn đề cần xem xét đánh giá
khi phân tích khái quát tình hình tài chính thông qua bảng cân đối kế toán bao
gồm.
* Thứ nhất: Xem xét sự biến động của tổng tài sản cũng như từng loại tài
sản thông qua việc so sánh giữa số cuối kỳ với số đầu năm cả về số tuyệt đối lẫn
số tương đối. Qua đó thấy được quy mô vốn, năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp. Trong đó:
- Sự biến động của TSLĐ và ĐTNH ảnh hưởng đến khả năng ứng phó với
các khoản vay ngắn hạn.
- Sự biến động của TSCĐ và ĐTDH phản ánh năng lực sản xuất của
doanh nghiệp
.
Nó cho biết doanh nghiệp có chú trọng vào đầu tư theo chiều sâu
hay chưa?
- Sự biến động của khoản mục các khoản phải thu do chính sách bán chịu
của doanh nghiệp hoặc do công tác thu hồi nợ.
- Sự biến động của hàng tồn kho có thể xuất phát từ nguyên nhân khách
quan từ sự biến động của thị trường, giá cả đầu vào và có thể từ nguyên nhân chủ
quan từ phía doanh nghiệp như việc doanh nghiệp chủ động tăng lượng nguyên
vật liệu đáp ứng yêu cầu của sản xuất, hay do công tác tiêu thụ sản phẩm .v.v.
* Thứ hai: Xem xét tính hợp lý của cơ cấu vốn, cơ cấu nguồn vốn tác
động như thế nào đến quá trình kinh doanh. Thực chất là đi phân tích khái quát
tình hình đầu tư và huy động vốn của doanh nghiệp. Để làm được điều đó, trước
hết phải xác định tỷ trọng của từng loại tài sản trong tổng tài sản, tỷ trọng của
từng nguồn vốn trong tổng nguồn vốn. Sau đó so sánh tỷ trọng từng loại giữa
Sinh viên: Nguyễn Hoài Đức Lớp: CQ45/11.08
15
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính

(VLĐTX) được xác định qua công thức.
VLĐTX = Nguồn vốn dài hạn - TSCĐ và ĐTDH hoặc
VLĐTX = TSLĐ và ĐTNH – Nguồn vốn ngắn hạn.
Nếu VLĐTX dương, điều đó chứng tỏ doanh nghiệp dư thừa nguồn vốn
dài hạn. Đây là dấu hiệu an toàn đối với doanh nghiệp vì nó cho phép doanh
nghiệp đương đầu với rủi ro có thể xảy ra như việc phá sản của khách hàng lớn,
việc cắt giảm tín dụng của các nhà cung cấp kể cả việc thua lỗ nhất thời.
1.3.1.2. Phân tích khái quát tình hình tài chính thông qua bảng báo cáo kết
quả kết quả kinh doanh.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng quát tình
hình và kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp, chi tiết theo hoạt động
kinh doanh và tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước về thuế và các khoản
khác phải nộp.
Số liệu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được sử dụng để tính
toán các chi tiêu về khả năng sinh lời, tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước
và các khoản phải nộp. Cùng với số liệu trên Bảng cân đối kế toán, số liệu trên
báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được sử dụng để tính toán hiệu quả sử
dụng vốn, các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận…
Khi phân tích khái quát báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cần xem xét
xác định các vấn đề cơ bản sau:
Xem xét sự biến động của từng chỉ tiêu trên phần Lãi-lỗ giữa kỳ này với
kỳ trước thông qua việc so sánh cả về số tuyệt đối và số tương đối. Đặc biệt chú
ý tới các chỉ tiêu như: Doanh thu, doanh thu thuần, lợi nhuận trước thuế và lợi
nhuận sau thuế…
Sinh viên: Nguyễn Hoài Đức Lớp: CQ45/11.08
17
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
1.3.2. Phân tích tình hình tài chính thông qua các chỉ tiêu tài chính đặc
trưng.
Số liệu trên báo cáo tài chính chưa lột tả được hết thực trạng tài chính của

* Hệ số khả năng thanh toán hiện thời
Là mối tương quan giữa tài sản ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn, là
thước đo khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
Tổng tài sản ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời =
Nợ ngắn hạn
Tỷ số này cho thấy công ty có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thành
tiền mặt để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn.
Hệ số này thấp thể hiện khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp ở mức
độ thấp và cũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn tiềm ẩn về tài chính có
thể xảy ra.
Hệ số này cao cho cho thấy tại thời điểm phân tích doanh nghiệp sẵn sàng
thanh toán các khoản nợ đến hạn. Tuy nhiên hệ số này quá cao chưa chắc là tốt
bởi vì có thể xảy ra khả năng doanh nghiệp đã để quá nhiều lượng tiền mặt dữ
trữ, công tác quản lý và thu hồi nợ, hay do công tác bán hàng không hiệu quả…
Những nguyên nhân này sẽ làm giảm đi hiệu quả sử dụng của vốn vì có một bộ
phận VLĐ không vận động. Mặt khác, tính hợp lý của hệ số này phụ thuộc vào
ngành nghề kinh doanh, ngành nghề nào mà TSLĐ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
tài sản thì hệ số này lớn và ngược lại. Do vậy, trong quá trình xem xét phải dựa
vào hệ số trung bình của ngành hoặc của các doanh nghiệp tiên tiến.
* Hệ số khả năng thanh toán nhanh.
Hệ số khả năng thanh toán nhanh là thước đo khả năng trả nợ ngay các khoản nợ
ngắn hạn của doanh nghiệp trong kỳ không dựa vào việc bán vật tư hàng hóa.
Sinh viên: Nguyễn Hoài Đức Lớp: CQ45/11.08
19
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho
Hệ số khả năng thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
Tại thời điểm đầu năm và cuối kỳ, nếu hệ số khả năng thanh toán nhanh

số khả năng thanh toán nhanh phản ánh mối quan hệ giữa nguồn để trả lãi vay và
lãi vay phải trả.

Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay =
Lãi vay phải trả trong kỳ
Hệ số này dùng để đo lường mức độ lợi nhuận có được đo sử dụng vốn để
trả lãi cho các chủ nợ. Nói cách khác, hệ số khả năng thanh toán lãi vay cho
chúng ta biết được việc doanh nghiệp sử dụng nợ có hiệu quả đến mức độ nào và
đem lại một khoản lợi nhuận bao nhiêu, có đủ bù đắp lãi vay phải trả không. Chú
ý khi phân tích chỉ số này cần quan tâm đến chính sách tài trợ của doanh nghiệp.
1.3.2.2. Các hệ số phản ánh cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn.
Nghiên cứu cơ cấu vốn, cơ cấu nguồn vốn, tỷ suất tự tài trợ sẽ cung cấp
cho các nhà quản trị tài chính một cách nhìn tổng quát về sự phát triển của doanh
nghiệp
.
Để đánh giá về cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp ta có
thể sử dụng một số chỉ tiêu sau:
+ Các chỉ tiêu về cơ cấu nguồn vốn.
Sinh viên: Nguyễn Hoài Đức Lớp: CQ45/11.08
21
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
Cơ cấu nguồn vốn là thành phần và tỷ trọng từng nguồn vốn so với tổng
nguồn vốn tại một thời điểm. Cơ cấu vốn phản ánh bình quân trong một đồng
vốn doanh nghiệp đang sử dụng có mấy đồng vay nợ, hoặc có mấy đồng vốn chủ
sở hữu. Hệ số nợ và hệ số vốn chủ sở hữu là 2 tỷ số quan trọng phản ánh cơ cấu
nguồn vốn.
Nợ phải trả
Hệ số nợ =
Tổng nguồn vốn

Để đánh giá mức độ hợp lý trong việc đầu tư vào các loại tài sản của
doanh nghiệp cần quan tâm đến đặc điểm sản xuất kinh doanh và tình hình kinh
doanh cụ thể của doanh nghiệp.
1.3.2.3. Các hệ số hiệu suất hoạt động.
Các hệ số hoạt động có tác dụng đo lường năng lực quản lý và sử dụng số
vốn hiện có của doanh nghiệp. Sau đây là các hệ số thường sử dụng để đánh giá
mức độ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động
+ Vòng quay hàng tồn kho.
Số vòng quay hàng tồn kho phản ánh số lần hàng tồn kho luân chuyển
được trong kỳ.
Giá vốn hàng bán
Vòng quay hàng tồn kho =
Hàng tồn kho bình quân
Đây là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp. Nếu số vòng quay hàng tồn kho cao so với doanh nghiệp trong
Sinh viên: Nguyễn Hoài Đức Lớp: CQ45/11.08
23
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
ngành cho biết việc tổ chức và quản lý hàng tồn kho là tốt, công tác bán hàng
hiệu quả. Nếu số vòng quay hàng tồn kho thấp có thể do doanh nghiệp dự trữ
nguyên vật liệu quá mức gây tình trạng ứ đọng vốn, sản phẩm bị tiêu thụ chậm.
Từ đó, có thể đặt doanh nghiệp vào tình thế khó khăn về tài chính trong tương
lai. Như vậy, để phân tích chỉ tiêu này chúng ta cần xem xét nhiều khía cạnh như
yếu tố thị trường đầu vào, đầu ra; chính sách tiêu thụ sản phẩm.
+ Vòng quay các khoản phải thu.
Chỉ tiêu này phản ánh số tốc độ luân chuyển của các khoản phải thu.
Doanh thu tiêu thụ (có thuế)
Vòng quay các khoản phải thu =
Số dư bình quân các khoản phải thu

Tốc độ luân chuyển của vốn lưu động còn được thể hiện qua chỉ tiêu số
ngày một vòng quay vốn lưu động. Công thức tính toán như sau:
Số ngày trong kỳ
Số ngày một vòng quay VLĐ =
Số vòng quay vốn lưu động trong kỳ
Số ngày một vòng quay vốn lưu động phản ánh trung bình một vòng quay
hết bao nhiêu ngày. Vòng quay vốn lưu động càng nhanh thì só ngày một vòng
quay càng giảm và chứng tỏ vốn lưu động càng được sử dụng có hiệu quả. Chỉ
tiêu này còn phụ thuộc vào đặc điểm của ngành nghề kinh doanh, do đó khi đưa
ra kết luận cần xem xét cụ thể hơn.
- Hiệu suất sử dụng vốn cố định và vốn dài hạn khác.
Sinh viên: Nguyễn Hoài Đức Lớp: CQ45/11.08
25

Trích đoạn Quỏ trỡnh hỡnh thành và phỏt triển
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status