MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế thế giới năm 2010 mặc dù đang phục hồi sau khủng hoảng tài chính toàn
cầu và có những chuyển biến tích cực, song nhìn chung chưa thực sự ổn định và
còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất lợi tác động đến kinh tế nước ta. Ở trong nước,
thiên tai liên tiếp xảy ra, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống dân cư.
Năm 2010 là năm có ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng, đây là năm cuối thực hiện
Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010 và Chiến lược phát triển
kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010.
Với quyết tâm cao của cả nước, Việt Nam được đánh giá là một trong những
nước sớm vượt qua giai đoạn khó khăn và phục hồi nhanh sau khủng hoảng tài
chính toàn cầu.GDP tăng 6,78% so với năm 2009, rong đó quý I tăng 5,84%; quý
II tăng 6,44%; quý III tăng 7,18% và quý IV tăng 7,34%. Đây là mức tăng khá
cao so với mức tăng 6,31% của năm 2008 và cao hơn hẳn mức 5,32% của năm
2009, vượt mục tiêu đề ra 6,5%. Trong 6,78% tăng chung của nền kinh tế, khu
vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,78%, đóng góp 0,47 điểm phần trăm;
công nghiệp, xây dựng tăng 7,7%, đóng góp 3,20 điểm phần trăm và khu vực
dịch vụ tăng 7,52%, đóng góp 3,11 điểm phần trăm.lạm phát tăng 11,75% so với
năm 2009,thị trường tài chính tiền tệ còn nhiều biến động.
Hoạt động kinh doanh ngân hàng là loại hình kinh doanh có rất nhiều rủi ro,
dễ bị tổn thương khi có gian lận và sai sót, việc bảo đảm an toàn trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng thương mại không những được các nhà kinh doanh
ngân hàng quan tâm mà còn là mối quan tâm của người gửi tiền, của các cơ quan
quản lý Nhà nước, của toàn xã hội về sự phá sản của một ngân hàng có thể gây
nên đổ vỡ dây chuyền trong hệ thống tài chính – ngân hàng, ảnh hưởng rất lớn
đối với toàn bộ nền kinh tế. Để ngăn ngừa những tổn thất và các rủi ro có thể xảy
ra trong quá trình hoạt đông kinh doanh ngân hàng, ngoài các biện pháp thanh
tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý Nhà nước, trước hết đòi hỏi ngân
hàng thương mại phải có những biện pháp hữu hiệu. Mà biện pháp quan trọng
nhất là ngân hàng thương mại phải thiết lập được hệ thống kiểm tra,kiểm soát nội
bộ một cách đầy đủ và có hiệu quả. Ý thức được tầm quan trọng của việc thiết
NGÂN HÀNG
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
1.1.1 Khái niệm hệ thống KSNB
Hiện nay, ở Việt Nam đang tồn tại hai quan niệm khá khác nhau về
HTKSNB là quan niệm của Việt Nam và của quốc tế. Trong đó, quan niệm của
Việt Nam về HTKSNB thể hiện rõ nhất qua Chuẩn mực Kiểm toánViệt Nam số
400 - Đánh giá rủi ro và KSNB:
HTKSNB là các quy định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm
toán xây dựng và áp dụng nhằm đảm bảo cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các
quy định để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập
báo cáo tài chính trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu
quả tài sản của đơn vị.
Theo quan niệm này, HTKSNB của một đơn vị bao gồm ba nhân tố là môi
trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát. Môi trường kiểm
soát là những nhận thức, quan điểm, sự quan tâm và hoạt động của thành viên
của Hội đồng quản trị, BGĐ đối với HTKSNB và vai trò của HTKSNB trong
đơn vị. Môi trường kiểm soát có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của các thủ
tục kiểm soát. Môi trường kiểm soát mạnh sẽ hỗ trợ đáng kể cho các thủ tục
kiểm soát cụ thể. Tuy nhiên, môi trường kiểm soát mạnh không đồng nghĩa với
HTKSNB mạnh. Môi trường kiểm soát mạnh tự nó chưa đủ đảm bảo tính hiệu
quả của toàn bộ HTKSNB.
Hệ thống kế toán là các quy định về kế toán và các thủ tục kế toán mà đơn
vị được kiểm toán áp dụng để thực hiện ghi chép kế toán và lập báo cáo tài
chính.
Thủ tục kiểm soát là các quy chế và thủ tục cho Ban lãnh đạo đơn vị thiết
lập và chỉ đạo thực hiện trong đơn vị nhằm đạt được mục tiêu quản lý cụ thể.
Còn quan niệm của quốc tế về HTKSNB được thể hiện qua khái niệm mới
về HTKSNB của Liên đoàn Kế toán Quốc tế trong Chuẩn mực Kiểm toán Quốc
tế (CMKTQT) số 315 – Tìm hiểu đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn
vị, đánh giá các rủi ro có sai sót trọng yếu - có hiệu lực cho các cuộc kiểm toán
như: quan hệ lợi ích/chi phí, thông đồng giữa các bên liên quan, sai sót mang
tính con người, v.v
- KSNB có hiệu quả trợ giúp cho đơn vị đạt được các mục tiêu liên quan
đến hoạt động, báo cáo tài chính và tuân thủ: KSNB giữ cho đơn vị luôn hướng
tới các mục tiêu đã định và đạt được các mục đích đề ra và giảm thiểu những
biến động ngoài mong đợi trong quá trình đó. KSNB nâng cao tính hữu hiệu và
hiệu quả của các hoạt động, giảm rủi ro mất tài sản, và trợ giúp đảm bảo độ tin
cậy của các báo cáo tài chính, tuân thủ luật pháp và các quy định liên quan.
1.1.2 Mục tiêu của hệ thống KSNB
Bảo đảm độ tin cậy và tính trung thực của thông tin
Hệ thống KSNB tốt phải bảo đảm cho hệ thống thông tin báo cáo của
doanh nghiệp phải được chính xác, cập nhật đầy đủ để doanh nghiệp có thể đưa
ra được các quyết sách kịp thời, đúng và có hiệu quả. Cụ thể hơn, hệ thống
KSNB phải bảo đảm sự tin cậy, chính xác, kịp thời về tình hình sản xuất kinh
doanh; các quyết toán năm; các hồ sơ, báo cáo tài chính, kế toán khác; các báo
cáo giải trình trước cổ đông, các cơ quan quản lý, các đối tác để khi các thông
tin này được gửi tới Hội đồng quản trị, Ban điều hành, cổ đông, cơ quan quản lý
giám sát thì những người nhận thông tin này có thể đưa ra được các quyết định
chính xác. Tính chính xác của các thông tin tài chính có thể đạt được thông qua
việc thực thi các qui trình của hệ thống KSNB.
Bảo đảm sự tuân thủ
Hệ thống KSNB cần:
- Duy trì và kiểm tra việc tuân thủ các chính sách có liên quan đến các
hoạt động của doanh nghiệp;
- Ngăn chặn và phát hiện kịp thời cũng như xử lý các sai phạm và gian lận
trong mọi hoạt động của doanh nghiệp;
- Đảm bảo việc ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác cũng như việc lập báo
cáo tài chính trung thực và khách quan;
- Đảm bảo cho toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp theo đúng pháp luật,
phù hợp với yêu cầu của việc giám sát cũng như phù hợp với các nguyên tắc, quy
sản, sổ sách hoặc cung cấp thông tin đầy đủ và tin cậy. Nhiệm vụ của các nhà
quản lý là xây dựng một hệ thống KSNB hữu hiệu và kết hợp hài hoà bốn mục
tiêu trên.
1.1.3 Các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB
Để thực hiện các chức năng kiểm tra kiểm soát hệ thống KSNB trong
doanh nghiệp thường bao gồm các bộ phận cấu thành cơ bản sau:
1.1.3.1 Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát bao gồm toàn bộ nhân tố bên trong và bên ngoài
đơn vị, có tính môi trường tác động đến việc thiết kế, hoạt động và xử lý dữ liệu
của các loại hình KSNB.
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 400, môi trường kiểm soát là những
nhận thức, những quan điểm, sự quan tâm và hành động của các thành viên Hội
đồng quản trị, Ban giám đốc đối với hệ thống KSNB và vai trò của hệ thống
KSNB trong đơn vị. Nếu Ban quản lý cấp cao tin rằng sự kiểm soát là quan
trọng, những người khác trong tổ chức cũng sẽ cảm thấy như vậy và đáp ứng
bằng cách tôn trọng triệt để những chế độ và những thể thức được đề ra. Ngược
lại, nếu các thành viên trong tổ chức thấy rõ kiểm soát không là điều quan tâm
chính của Ban quản lý cấp cao, và họ chỉ tán thành hơn là hỗ trợ một cách có ý
nghĩa, thì hầu như chắc chắn là các mục đích kiểm soát sẽ không đạt được một
cách có hiệu quả.
Một môi trường kiểm soát tốt là nền móng cho những tiêu chuẩn khác. Nó
quy định sự thực thi và cấu trúc cũng như môi trường ảnh hưởng đến chất lượng
KSNB. Một vài nhân tố chính ảnh hưởng tới môi trường kiểm soát là:
Đặc thù về quản lý:
Các nhà quản lý cấp cao là người quyết định và điều hành mọi hoạt động
của đơn vị, chính vì thế các quan điểm khác nhau trong việc điều hành các hoạt
động của các nhà quản lý tạo nên đặc thù về quản lý của đơn vị. Các quan điểm
này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các chính sách, chế độ, quy định và cách thức
tiến hành kiểm soát trong đơn vị. Việc trả lời một số câu hỏi tương tự sau đây về
quan điểm điều hành của Ban quản lý sẽ cho biết thái độ của Ban quản lý đối với
trọng trong môi trường kiểm soát. Nếu việc lập và thực hiện kế hoạch được tiến
hành nghiêm túc sẽ trở thành công cụ kiểm soát rất hữu hiệu. Thí dụ về một hệ
thống dự toán hiệu quả là phải nhận biết rõ những chênh lệch trọng yếu giữa kết
quả thực tế với kế hoạch, và có hành động sửa sai thích hợp ở cấp quản lý thích
hợp.
Uỷ ban kiểm soát:
Uỷ ban kiểm soát bao gồm những lãnh đạo cao nhất đơn vị như thành viên
hội đồng quản trị nhưng không kiêm nhiệm chức vụ quản lý và những chuyên
gia am hiểu về lĩnh vực kiểm soát. Uỷ ban kiểm soát thường có nhiệm vụ và
quyền hạn sau:
- Giám sát việc chấp hành pháp luật của công ty.
- Kiểm tra và giám sát công việc của kiểm toán viên nội bộ.
- Giám sát quá trình lập báo cáo tài chính của đơn vị.
- Đại diện cho công ty mời kiểm toán viên bên ngoài và phải giữ liên lạc
với họ.
- Hoà giải mâu thuẫn (nếu có) giữa Ban giám đốc và kiểm toán viên bên
ngoài.
Vì thế, sự độc lập và hữu hiệu trong hoạt động của Uỷ ban kiểm soát là
nhân tố quan trọng trong môi trường kiểm soát.
Môi trường bên ngoài:
Ngoài các nhân tố bên trong nêu trên, thì môi trường kiểm soát chung của
doanh nghiệp còn chịu ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài, như môi trường
pháp lý, đường lối phát triển của đất nước Những nhân tố này tuy không phụ
thuộc vào sự kiểm soát của các nhà quản lý nhưng ảnh hưởng rất lớn đến phong
cách điều hành của các nhà quản lý cũng như việc thiết kế và vận hành các quy
chế và thủ tục KSNB.
Kiểm toán nội bộ:
Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế (International Federation of Accountants
- IFAC), kiểm toán nội bộ là “một hoạt động đánh giá được lập ra trong một
doanh nghiệp như là một loại dịch vụ cho doanh nghiệp đó, có chức năng kiểm
xuất. Hàng loạt nhân viên giỏi của một công ty nào đó ra đi để chuyển sang
doanh nghiệp khác hoặc thành lập công ty riêng .v.v. Những rủi ro đó sẽ làm cho
doanh nghiệp bị bất ngờ và dẫn đến thiệt hại ảnh hưởng đến mục tiêu của doanh
nghiệp nếu như chúng không được doanh nghiệp lường trước. Vì vậy mỗi doanh
nghiệp cần phải xây dựng cho mình một chính sách, quy trình và phương pháp
quản lý rủi ro thích hợp.
Chính sách quản lý rủi ro được xây dựng trong đó xác định phương pháp
tiếp cận đối với rủi ro và quản lý rủi ro. Đồng thời chính sách quản lý rủi ro cũng
nêu rõ trách nhiệm trong việc quản lý rủi ro trong toàn bộ doanh nghiệp.
Quy trình quản lý rủi ro được thiết kế mang tính đồng bộ và có sự gắn kết
với việc xây dựng và thực thi chiến lược của doanh nghiệp. Về cơ bản, quy trình
quản lý rủi ro cần chứa đựng những giai đoạn hay bước công việc cơ bản như
xác định rủi ro, mô tả rủi ro, lượng hóa rủi ro, phân tích rủi ro, xếp hạng rủi ro,
đánh giá rủi ro, lập báo cáo về rủi ro, xử lý rủi ro, theo dõi và rà soát quy trình
trình quản lý rủi ro.
Kèm theo quy trình quản lý rủi ro là hệ thống những phương pháp luận và
công cụ phục vụ công tác quản lý rủi ro đồng bộ được thiết kế cho các công đoạn
khác nhau của quy trình kinh doanh. Để thực thi quy trình quản lý rủi ro một
cách hiệu quả cần tranh thủ sự ủng hộ và cam kế tủng hộ của lãnh đạo doanh
nghiệp, phân công trách nhiệm rõ ràng cũng như phân bổ nguồn lực phù hợp,
đào tạo và tuyên truyền về quản lý rủi ro cho mọi đối tượng liên quan.
Tóm lại môi trường kiểm kiểm soát bao gồm toàn bộ các nhân tố ảnh
hưởng đến việc thiết kế, vận hành và xử lý dữ liệu của hệ thống KSNB, trong đó
nhân tố quan trọng là sự nhận thức về hoạt động kiểm tra kiểm soát và điều hành
của các nhà quản lý doanh nghiệp.
1.1.3.2 Hệ thống thông tin
Hệ thống kế toán là hệ thống thông tin chủ yếu của đơn vị, bao gồm toàn
bộ hệ thống chứng từ, sổ sách, tài khoản kế toán và các báo cáo tài chính thường
niên. Mục đích của hệ thống này là nhận biết, thu thập, phân loại, phân tích, ghi
sổ và báo cáo các nghiệp vụ kinh tế tài chính của đơn vị, thoả mãn chức năng
Nguyên tắc phân công, phân nhiệm
Theo nguyên tắc này, mỗi người trong đơn vị đều phải đảm đương một
nhiệm vụ, trọng trách khác nhau, và công việc được phân công đều cho mọi
người. Như vậy, sẽ tránh tình trạng công việc không hiệu quả do năng lực có hạn
của một số cá nhân, hoặc xảy ra gian lận do không có sự chuyên môn hoá, soát
xét thường xuyên giữa những người thực hiện với nhau.
Nguyên tắc bất kiêm nhiệm
Cần thiết phải có sự phân cấp trách nhiệm, quyền hạn theo phạm vi thích
hợp nhằm ngăn ngừa hiện tượng lạm dụng quyền hạn vào mục đích cá nhân, như
tách biệt người ghi sổ tài sản với người quản lý tài sản, tách biệt thủ quỹ với kế
toán quỹ,
Nguyên tắc uỷ quyền, phê chuẩn
Nguyên tắc uỷ quyền phải được đảm bảo hợp lý rằng việc uỷ quyền được
tiến hành bởi đúng cấp có thẩm quyền, đúng đối tượng được uỷ quyền, và chỉ
được thừa lệnh trong một phạm vi nhất định. Theo nguyên tắc này, quá trình uỷ
quyền được tiếp tục mở rộng xuống các cấp thấp hơn, tạo nên hệ thống phân chia
trách nhiệm và quyền hạn mà vẫn không làm mất tính tập trung của doanh
nghiệp.
Thủ tục kiểm soát là các quy chế và thủ tục do Ban lãnh đạo đơn vị lập và
chỉ đạo thực hiện trong đơn vị nhằm đạt được các mục tiêu quản lý cụ thể.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 Đánh giá rủi ro và KSNB,
các thủ tục kiểm soát chủ yếu gồm:
- Lập, kiểm tra, so sánh và phê duyệt các số liệu, tài liệu liên quan đến đơn
vị;
- Kiểm tra tính chính xác của các số liệu kế toán;
- Kiểm tra chương trình ứng dụng và môi trường tin học;
- Kiểm tra số liệu giữa sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết;
- Kiểm tra, phê duyệt các tài liệu kế toán;
- Đối chiếu số liệu nội bộ với bên ngoài;
- So sánh, đối chiếu kết quả kiểm kê thực tế với số liệu trên sổ kế toán;
quyền của mình. Trong thực tế, có nhiều trường hợp, người quản lý bỏ qua các
qui định kiểm soát trong việc thực hiện một nghiệp vụ cụ thể (tuyển dụng nhân
viên trực tiếp không qua kiểm tra phỏng vấn của bộ phận nhân sự). Các quyết
định này thường được biện minh bằng tính hiệu quả của công việc, bằng mối
quan hệ giữa chi phí và lợi ích. Điều này đúng trong một số trường hợp. Tuy
nhiên, việc dành cho người quản lý một sự tùy tiện quá lớn có thể dẫn đến không
kiểm soát được rủi ro và làm cho môi trường kiểm soát trở nên yếu kém.
- Sự mâu thuẫn quyền lợi: Sự mâu thuẫn quyền lợi của một nhân viên sẽ
xảy ra khi một lợi ích khác ảnh hưởng đến họ ngoài lợi ích của họ gắn với tổ
chức. Khi đó, lòng trung thành của họ đối với tổ chức sẽ bị chi phối, họ có thể
chọn lựa những hành động gây tổn hại cho lợi ích của tổ chức quản lý theo kiểu
“gia đình trị” hay “đồng hương” cũng là một nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn
quyền lợi. Khi đó nhân viên có thể đặt quyền lợi của người thân lên trên quyền
lợi của tổ chức, có rất nhiều dạng mâu thuẫn quyền lợi có thể xảy ra. Nói chung,
khi một nhân viên trung thành với cùng một lúc hai quyền lợi khác nhau thì mâu
thuẫn quyền lợi sẽ tồn tại.
- Quan hệ giữa lợi ích và chi phí: việc thiết kế hệ thống nội bộ phải đảm
bảo nguyên tắc: Lợi ích từ hệ thống của hệ thống KSNB phải lớn hơn chi phí để
thực hiện nó.
- Hệ thống KSNB không bao quát được những rủi ro không lường trước
được: Hầu hết các biện pháp kiểm soát đều tập trung vào các sai phạm dự kiến,
vì thế khó có thể phát hiện được các sai phạm đột xuất hay bất thường.
1.2 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ KIỂM
TRA,KIỂM SOÁT TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.2.1 Khái quát về ngân hàng thương mại.
*Khái niệm:
Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM: Ở Mỹ :
Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài
chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương
NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc,
ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo
nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp.
Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để
gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng
một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể
kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an
toàn. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh
tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.
Chức năng tạo tiền:
Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân
NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn
tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc
thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế.
Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là
chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín
dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại
được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư
trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận
của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với
chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong
nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.
* Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của NHTM:
Sự gia tăng nhanh chóng trong danh mục sản phẩm dịch vụ:
Ngày nay, các ngân hàng đang mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ tài
chính mà họ cung cấp cho khách hàng. Qúa trình mở rộng danh mục sản phẩm
dịch vụ đã tăng tốc trong những năm gần đây dưới áp lực cạnh tranh gia tăng từ
các tổ chức tài chính khác, từ sự hiểu biết và đòi hỏi cao hơn của khách hàng, và
từ sự thay đổi công nghệ. Nó cũng làm tăng chi phí của ngân hàng và dẫn đến rủi
ro phá sản cao hơn. Các sản phẩm dịch vụ mới đã có ảnh hưởng tốt đến ngành
chúng mới làm cho các cơ hội đó trở thành hiện thực. Và công chúng đã làm việc
đó. Hàng tỷ USD trước đây được gửi trong các tài khoản tiết kiệm thu nhập thấp
và các tài khoản giao dịch không sinh lợi kiểu cũ đã được chuyển sang các tài
khoản có mức thu nhập cao hơn, những tài khoản có tỷ lệ thu nhập thay đổi theo
điều kiện thị trường. Ngân hàng đã phát hiện ra rằng họ đang phải đối mặt với
những khách hàng có giáo dục hơn, nhạy cảm với lãi suất hơn. Các khoản tiền
gửi “trung thành” của họ có thể dễ tăng cường khả năng cạnh tranh trên phương
diện thu nhập trả cho công chúng gửi tiền và nhạy cảm hơn với ý thích thay đổi
của xã hội về vấn đề phân phối các khoản tiết kiệm.
Cách mạng trong công nghệ ngân hàng:
Đối mặt với chi phí hoạt động cao hơn, từ nhiều năm gần đây các ngân hàng
đã và đang chuyển sang sử dụng hệ thống hoạt động tự động và điện tử thay thế
cho hệ thống dựa trên lao động thủ công, đặc biệt là trong công việc nhận tiền
gửi, thanh toán bù trừ và cấp tín dụng. Những ví dụ nổi bật nhất bao gồm các
máy rút tiền tự động ATM, cho phép khách hàng truy nhập tài khoản tiền gửi của
họ 24/24 giờ; Máy thanh toán tiền POS được lắp đặt ở các bách hóa và trung tâm
bán hàng thay thế cho các phương tiện thanh toán hàng hóa dịch vụ bằng giấy;
và hệ thống máy vi tính hiện đại xử lý hàng ngàn giao dịch một cách nhanh
chóng trên toàn thế giới
1.2.2 Kiểm tra,kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thương mại.
Uỷ ban tiêu chuẩn kế toán Australia (Australian Accounting Standards
Board) định nghĩa “Kiểm soát là khả năng của một thực thể trong việc chi phối
quá trình ra quyết định, trực tiếp hoặc gián tiếp, trong mối quan hệ với các chính
sách tài chính và vận hành của một thực thể khác, qua đó tạo khả năng cho chủ
thể đó vận hành theo các mục tiêu của chủ thể kiểm soát”. Khái niệm kiểm soát,
đo đó sẽ bao gồm 3 nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất là khả năng kiểm soát liên quan đến năng lực của hội sở (được ví như
công ty mẹ) về quyền lực tài chính để có thể chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp quá
trình ra quyết định của chi nhánh, công ty trực thuộc, công ty tham gia góp vốn
(công ty con).
hệ thống kế toán không những cung cấp thông tin cho các cấp quản lý ra quyết
định mà còn có tác dụng kiểm soát nhiều mặt hoạt động của ngân hàng. Chính vì
thế, hệ thống kế toán là một mắt xích quan trọng của cơ chế kiểm soát nội bộ.
Thủ tục hay quy trình kiểm soát là trình tự và nội dung của các bước công việc
mà bộ phận kiểm soát nội bộ có thẩm quyền phải thực hiện để hoàn thành trách
nhiệm được giao. Tuỳ từng lĩnh vực hoạt động của ngân hàng mà quy trình và
thủ tục kiểm soát được tiến hành khác nhau. Tuy nhiên, dù thủ tục kiểm soát có
khác nhau thì vẫn phải đảm bảo một số nguyên tắc cơ bản như nguyên tắc phân
công, phân nhiệm; nguyên tắc bất kiêm nhiệm và nguyên tắc uỷ quyền và phê
chuẩn. Hoạt động kiểm soát của ngân hàng, do đó, sẽ được phân loại như sau:
- Kiểm soát quản lý là việc kiểm soát các hoạt động riêng lẻ của ngân hàng, do
nhân viên độc lập với người thực hiện hoạt động đó tiến hành. Kiểm soát quản lý
diễn ra thường xuyên và là hoạt động quan trọng nhất trong cơ chế kiểm soát nội
bộ của ngân hàng.
- Kiểm soát xử lý được đặt ra để kiểm tra việc xử lý các giao dịch, tức là kiểm tra
lại những công việc mà nhân viên ngân hàng đã thực hiện và đã được công nhận,
cho phép, phân loại, tính toán, ghi chép và tổng hợp trong báo cáo.
- Kiểm soát để bảo vệ tài sản là các biện pháp, quy chế kiểm soát nhằm đảm bảo
sự an toàn của tài sản và thông tin trong ngân hàng.
- Kiểm soát tổng quát là sự kiểm soát tổng thể đối với tất cả các hoat động và
giao dịch diễn ra trong ngân hàng.
Dễ dàng nhận thấy, kiểm soát nội bộ đóng vai trò rất quan trọng đối với sự an
toàn và khả năng phát triển trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương
mại. Việc xây dựng và thực hiện được một cơ chế kiểm soát nội bộ phù hợp và
hiệu quả sẽ cho phép các ngân hàng thương mại chống đỡ tốt nhất với rủi ro.
1.3 QUY TRÌNH KIỂM TRA,KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
Quy trình của một cuộc kiểm tra,kiểm soát gồm 3 bước:
+ B1 : lập kế hoạch kiểm tra,kiểm soát.
+ B2 : thực hiện kiểm tra,kiểm soát.
+ Các chế độ kế toán.
Các bộ phận cấu thành kế hoạch kiểm tra.
- Kế hoạch về nội dung kiểm tra: bao gồm các thông tin, các nghiệp vụ
được kiểm tra, để lập được kế hoạch về nội dung kiểm tra, kiểm tra viên cần
phân tích được đối tượng kiểm tra, xác định được mục tiêu tổng thể và mục tiêu
chi tiết của cuộc kiểm tra, qua đó xác định phạm vi, quy mô, xác định lĩnh vực
trọng yếu cần kiểm tra. trong kế hoạch về nội dung kiểm tra viên cũng cần xác
định được các phương pháp cũng như các phương tiện hỗ trợ và sự phối hợp
giữa các bước, các nhóm kiểm tra
- Kế hoạch về thời gian:
+ Thời gian tổng thể của cuộc kiểm tra,kiểm soát.
+ Thời gian chi tiết để kiểm tra từng khâu, từng nghiệp vụ.
- Kế hoạch về nhân sự: liên quan đến việc lựa chọn số lượng Kiểm tra
viên cũng như các yêu cầu nghề nghiệp đối với các Kiểm tra viên.
1.3.2. Thực hiện kiểm tra,kiêm soát.
Thực hiện kiểm tra là giai đoạn Kiểm tra viên triển khai thực hiện các nội
dung đã ghi trong kế hoạch kiểm tra.
Thực hiện kiểm tra gồm các bước sau:
+ Nghiên cứu đánh giá hệ thống kế toán và các quy chế kiểm soát nội bộ.
+ Thu thập bằng chứng bằng việc áp dụng các kỹ thuật.
+ Tiến hành phân tích, đánh giá các thông tin đã thu thập được để đưa ra ý
kiến nhận xét của mình về đối tượng kiểm tra.
1.3.3. Kết thúc kiểm tra,kiểm soát.
Trong bước này kiểm toán viên phải làm những công việc cuối cùng để
hoàn tất kiểm toán, các bước phải làm là:
+ Chuẩn bị hoàn thành kiểm tra.
+ Lập báo cáo kiểm tra.
+ Hoàn chỉnh hồ sơ kiểm tra.
+ Giải quyết các sự việc phát sinh sau khi lập báo cáo kiểm tra nếu có.
* Chuẩn bị hoàn thành kiểm tra: