tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành điện ở công ty cổ phần nhiệt điện phả lại - Pdf 23

Luận văn cuối khóa
Lời mở đầu
Trong thập niên cuối cùng của thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ
XXI nền kinh tế nớc ta đã từng bớc chuyển biến theo hớng kinh tế thị trờng tự
do dới sự điều tiết của Nhà nớc. Chuyển dịch theo định hớng tất yếu của quy
luật cung cầu; nền kinh tế nớc ta đã có những biến đổi tích cực, thay đổi cơ
bản nhất đó là: Từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, chậm phát triển, phụ
thuộc vào nớc ngoài đã biến đổi đợc thành một nền kinh tế với công nghệ kỹ
thuật ngày càng hiện đại, tiên tiến đã đảm bảo cung cấp các nhu cầu thiết yếu
cho cuộc sống của ngời dân và từng bớc có xuất khẩu sản phẩm ra nớc ngoài
đạt đợc những kết quả khả quan
Cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế nớc nhà, công tác hạch
toán kế toán - một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý
kinh tế - Tài chính của đất nớc đã và đang đòi hỏi phải có sự biến đổi về chất
để ngày càng phù hợp với yêu cầu quản lý và hội nhập của nền kinh tế nớc ta.
Trong nền kinh tế: Một doanh nghiệp sản xuất nào dù là doanh nghiệp Nhà n-
ớc hay doanh nghiệp t nhân, cũng đều phải quan tâm đến chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm. Vì giá thành sản phẩm là chỉ tiêu chất lợng tổng hợp phản
ánh trình độ quản lý, sử dụng vật t, lao động, thiết bị, trình độ tổ chức, công
nghệ sản xuất của doanh nghiệp, là cơ sở để đánh giá kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh. Việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
không những phải đảm bảo tính đúng, tính đủ, mà còn phải đảm bảo tính kịp
thời để phục vụ cho yêu cầu quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp và của những
bên quan tâm khác. Do đó, công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất là một vấn đề hết sức
quan trọng cần phải đợc tăng cờng cho phù hợp với chế độ kế toán mới.
Là một đơn vị sản xuất hàng hóa chiến lợc trong nền kinh tế Quốc dân,
sản phẩm điện năng của Công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại phục vụ cho sản
xuất và tiêu dùng trong nớc. Dù trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung,
quan liêu bao cấp hay trong nền kinh tế thị trờng, sản xuất điện vẫn giữ vai trò
quan trọng trong nền kinh tế Quốc dân. Công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại

Chơng III: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí
sản xuất và tính giá thành điện ở công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng và đợc sự quan tâm, hớng dẫn nhiệt tình của Thạc
sĩ Nguyễn Thị Ngọc Thạch và của các cán bộ nhân viên phòng Tài chính Kế
toán công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại, song do thời gian nghiên cứu và
trình độ có hạn nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận
đợc những ý kiến đóng góp, bổ sung để luận văn tốt nghiệp của em đợc hoàn
thiện hơn nữa.
Em xin chân thành cảm ơn!
SV:Nguyễn Thị Nhã Phơng Lớp: CQ45/21.05
2
Luận văn cuối khóa
CHƯƠNG 1
Cơ sở lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp
sản xuất điện
1.1. Đặc điểm, yêu cầu quản lý và nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp điện
1.1.1. Đặc điểm ngành điện ảnh hởng đến công tác kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành.
Điện năng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Ngành điện
là ngành cơ sở hạ tầng, tạo động lực cho cả nền kinh tế xã hội. Các nớc phát
triển trên thế giới, tất cả đều dựa trên cơ sở điện khí hoá.Khoa học công nghệ
ngày càng phát triển thì vai trò của điện khí hoá ngày càng rõ nét.
Điện là một sản phẩm đặc biệt, không có sản phẩm dở dang, không có
sản phẩm tồn kho, quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời. Điện
năng đợc sản xuất và phân phối đến nơi tiêu dùng thông qua hệ thống dây tải
điện, hệ thống biến áp cao thế, trung thế và hạ thế. Khi tiêu dùng, điện năng đ-
ợc chuyển hoá thành các dạng năng lợng khác nh nhiệt năng, cơ năng, quang
năngđể thoả mãn nhu cầu sử dụng điện trong sản xuất và trong đời sống sinh

sản phẩm lao vụ, dịch vụ hoàn thành nhất định.
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu mang tính giới hạn và xác định, vừa
mang tính chất khách quan vừa mang tính chủ quan. Trong hệ thống các chỉ
tiêu quản lý của doanh nghiệp, giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng
hợp, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản trong quá trình sản xuất kinh
doanh, cũng nh tính đúng đắn của những giải pháp quản lý mà doanh nghệp
đã thực hiện để nhằm mục đích hạ thấp chi phí, tăng cao lợi nhuận.
1.1.2.3. Mối quan hệ giữa CPSX, GTSP trong doanh nghiệp điện
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là các chỉ tiêu kinh tế
quan trọng trong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế phục vụ cho công tác
quản lý doanh nghiệp và có mối quan hệ mật thiết với doanh thu, kết
quả (lãi, lỗ) hoạt động sản xuất kinh doanh, do vậy đây là hai chỉ tiêu đ-
ợc chủ doanh nghiệp rất quan tâm.
Về mặt bản chất, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai
mặt thống nhất của quá trình sản xuất kinh doanh. Chúng giống nhau về
chất vì đều cùng là biểu hiện bằng tiền những hao phí về lao động sống
và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra nhng lại khác nhau về
mặt lợng. Khi nói đến chi phí sản xuất là giới hạn cho chúng trong một
thời kỳ nhất định không phân biệt cho loại sản phẩm nào, đã hoàn thành
hay cha. Còn khi nói đến giá thành sản xuất sản phẩm là xác định một l-
SV:Nguyễn Thị Nhã Phơng Lớp: CQ45/21.05
5
Luận văn cuối khóa
ợng chi phí nhất định tính cho một đại lợng kết quả hoàn thành nhất
định.
Đứng trên góc độ quá trình hoạt động thì việc tập hợp chi phí sản
xuất là một quá trình liên tục còn việc tính giá thành sản phẩm thực
hiện tại một điểm cắt có tính chu kỳ để so sánh chi phí với khối lợng
sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành. Do ta chỉ tính giá thành cho khối
lợng sản phẩm hoàn thành trong kỳ nên tại thời điểm tính giá thành có

doanh nghiệp điện trong việc quản lý hiệu quả chi phí sản xuất,hớng đến hạ
giá thành điện.
1.1.4. Nhiệm vụ, vai trò của kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm
Chi phí và Giá thành sản phẩm là các chỉ tiêu quan trọng trong hệ thống
các chỉ tiêu kinh tế phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp và có mối
quan hệ mật thiết với doanh thu, kết quả (lãi, lỗ) hoạt động sản xuất kinh
doanh, do vậy đợc chủ doanh nghiệp rất quan tâm.
Tổ chức kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm một cách khoa học, hợp
lý và đúng đắn có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý chi phí, giá thành sản
phẩm. Việc tổ chức kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý của chi phí phát sinh ở
doanh nghiệp, ở từng bộ phận, từng đối tợng, góp phần tăng cờng quản lý tài
sản, vật t lao động, tiền vốn một cách tiết kiệm, có hiệu quả. Mặt khác, tạo
điều kiện phấn đấu tiết kiệm chi phí hạ thấp giá thành sản phẩm. Đó là một
trong những điều kiện quan trọng cho doanh nghiệp một u thế trong cạnh
tranh.
Giá thành sản phẩm còn là cở sở để định giá bán sản phẩm, là cơ sở để
đánh giá hạch toán kinh tế nội bộ, phân tích chi phí, đồng thời còn là căn cứ
để xác định kết quả kinh doanh kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm với
nội dung chủ yếu thuộc về kế toán quản trị, cung cấp thông tin phục vụ công
tác quản lý doanh nghiệp.Song, nó lại là khâu trung tâm của toàn bộ công tác
kế toán ở doanh nghiệp, chi phối đến chất lợng của các phần hành kế toán
khác cũng nh chất lợng và hiệu quả của công tác quản lý kinh tế tài chính của
doanh nghiệp.
Kế toán doanh nghiệp cần phải xác định rõ vai trò và nhiêm vụ của mình
trong việc tổ chức kế toán chi phí và giá thành sản phẩm nh sau:
- Trớc hết, cần nhận thức đúng đắn vị trí vai trò của kế toán Chi phí và tính
Giá thành sản phẩm trong toàn bộ hệ thống kế toán doanh nghiệp, mối quan
hệ với các bộ phận kế toán có liên quan, trong đó kế toán các yếu tố Chi phí là
tiền đề cho kế toán Chi phí và Giá thành.

1.2.1. Phân loại chi phí sản xuất
1.2.1.1. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng của
chi phí
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu
đợc sử dụng trực tiếp cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm, lao vụ, dịch vụ.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm tiền lơng và các khoản phải trả
trực tiếp cho công nhân sản xuất, các khoản trích theo tiền lơng của công nhân
sản xuất nh kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
- Chi phí sản xuất chung: Là các khoản chi phí sản xuất liên quan đến
việc phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xởng, đội sản xuất.
Chi phí sản xuất chung bao gồm các yếu tố chi phí sản xuất sau:
SV:Nguyễn Thị Nhã Phơng Lớp: CQ45/21.05
8
Luận văn cuối khóa
+ Chi phí nhân viên phân xởng: Bao gồm chi phí tiền lơng, các khoản
phải trả, các khoản trích theo lơng của nhân viên phân xởng, đội sản xuất.
+ Chi phí vật liệu: Bao gồm chi phí vật liệu dùng chung cho phân xởng
sản xuất với mục đích là phục vụ và quản lý sản xuất.
+ Chi phí dụng cụ: Bao gồm chi phí về công cụ, dụng cụ dùng ở phân x-
ởng để phục vụ sản xuất và quản lý sản xuất.
+ Chi phí khấu hao TSCĐ: Bao gồm toàn bộ chi phí khấu hao của TSCĐ
thuộc các phân xởng sản xuất quản lý và sử dụng.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm các chi phí dịch vụ mua ngoài
dùng cho hoạt động phục vụ và quản lý sản xuất của phân xởng và đội sản
xuất.
+ Chi phí khác bằng tiền: Là các khoản chi trực tiếp bằng tiền dùng cho
việc phục vụ và quản lý sản xuất ở phân xởng sản xuất.
1.2.1.2. Phân loại chi phí sản xuất theo phơng pháp tập hợp chi phí
và mối quan hệ với đối tợng chịu chi phí
Chi phí sản xuất chia làm 2 loại:

trực tiếp, chi phí công cụ, chi phí khấu hao tài sản cốđịnh dùng trực tiếp vào
sản xuất sản phẩm. Loại chi phí này không thể cắt bỏ mà chỉ có thể giảm bằng
cách quản lýđịnh mức tiêu hao, cái tiến công nghệ
- Chi phí chung: các chi phí liên quan đến phục vụ quản lý sản xuất
có tính chất chung nh chi phí quản lý doanh nghiệp, quản lý phân xởng, tổđội.
Chi phí chung cần phải tiết kiệm triệt để, hạn chế hoặc loại trừ các chi phí
không cần thiết
Với cách phân loại này, các nhà quản trị có thể xác định đợc phơng h-
ớng tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm.
1.2.1.5. Một số cách phân loại khác
Ngoài các cách phân loại trên, chi phí sản xuất cũng có thể đợc nhận
diện qua các cách phân loại nh theo mối quan hệ chi phí với mức độ hoạt động
(chi phí khả biến, chi phí bất biến, chi phí hỗn hợp ), phân loại theo thẩm
quyền ra quyết định ( chi phí kiểm soát đợc và không kiểm soát đợc ) hay
phân loại chi phí sử dụng để ra quyết định (chi phí chênh lệch, chi phí cơ hội,
chi phí chìm). Tùy theo mục đích và hớng hoạt động, quản lý mà có thể chúý
nhận diện chi phí theo các khía cạnh khác nhau.
1.2.2. Giá thành sản phẩm
Có nhiều cách phân loại giá thành sản phẩm điện, tùy theo tiêu chí lựa
chọn mà giá thành sản phẩm có thể đợc phân loại thành các trờng hợp sau:
SV:Nguyễn Thị Nhã Phơng Lớp: CQ45/21.05
10
Luận văn cuối khóa
1.2.2.1.Phân loại theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá
thành
Theo cách phân loại này cần phải phân biệt đợc giá thành dự toán,
giá thành kế hoạch, giá thành định mức và giá thành thực tế.
o Giá thành dự toán: là chỉ tiêu giá thành đợc xây dựng trên cơ sở
thiết kế kỹ thuật đãđợc duyệt, các định mức kinh tế kỹ thuật do Nhà nớc
quy định.

nhiên, khác với giá thành kế hoạch đợc xây dựng trên cơ sở các định
mức bình quân tiên tiến và không biến đổi trong suốt cả kỳ kế hoạch,
giá thành định mức đợc xây dựng trên cơ sở các định mức về chi phí
hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch (thờng là ngày
đầu tháng) và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm nên giá thành định mức luôn
thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phíđạt đợc trong
quá trình thực hiện kế hoạch giá thành.
o Giá thành thực tế: là chỉ tiêu đợc xác định sau khi kết thúc
quá trình sản xuất sản phẩm dựa trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất thực
tế phát sinh do kế toán tập hợp và sản lợng sản phẩm đợc sản xuất trong
kì.
SV:Nguyễn Thị Nhã Phơng Lớp: CQ45/21.05
11
Luận văn cuối khóa
Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi
phí, xác định đợc các nguyên nhân vợt định mức chi phí trong kỳ hạch
toán. Từđó, điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp.
1.2.2.2.Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí
Theo phạm vi phát sinh chi phí, chỉ tiêu giá thành đợc chia thành
giá thành sản xuất và giá thành tiêu thụ.
o Giá thành sản xuất: là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi
phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm
vi phân xởng sản xuất. Đối với các đơn vịđiện, giá thành sản xuất gồm
chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí máy thi công, chi phí
sản xuất chung.
o Giá thành tiêu thụ: (hay còn gọi là giá thành toàn bộ) là chỉ
tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản
xuất, tiêu thụ sản phẩm. Giá thành tiêu thụđợc tính theo công thức.
Giá
thành

Luận văn cuối khóa
hoàn thành. Thông tin về giá thành sản xuất toàn bộ thờng đóng vai trò
chủ yếu trong các quyết định mang tính chiến lợc dài hạn nh quyết định
ngừng sản xuất hay tiếp tục sản xuất một mặt hàng nào đó. Vì thế, đây
là chỉ tiêu giá thành cóý nghĩa quan trọng trong quản trị doanh nghiệp.
- Giá thành sản xuất theo biến phí: Là loại giá thành trong đó
chỉ bao gồm biến phí thuộc chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công
trực tiếp, chi phí sản xuất chung tính cho sản phẩm hoàn thành. Chỉ tiêu
này đợc sử dụng khi nhà quản trị phải ra quyết định mang tính sách lợc,
ngắn hạn, tức thì.
- Giá thành sản xuất có phân bổ hợp lý định phí sản xuất: Là
loại giá thành trong đó bao gồm toàn bộ biến phí tính cho sản phẩm
hoàn thành và một phần định phíđợc phân bổ trên cơ sở mức hoạt động
thực tế so với công suất thiết kế. Chỉ tiêu này đợc sử dụng trong kiểm
soát quản lý.
- Giá thành toàn bộ theo biến phí: Là loại giá thành sản phẩm
trong đó bao gồm toàn bộ biến phí (biến phí sản xuất, biến phí quản lý,
biến phí bán hàng) tính cho sản phẩm tiêu thụ.
- Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ: Bao gồm giá thành
sản xuất và chi phí ngoài giáthành sản xuất tính cho sản phẩm tiêu thụ.
1.3.Tổ chức kế toán chi phí sản xuất tại doanh nghiệp điện.
1.3.1. Phơng pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất
* Phơng pháp phân bổ trực tiếp
Đây là phơng pháp áp dụng đối với chi phí sản xuất có liên quan trực
tiếp đến đối tợng tập hợp chi phí riêng biệt ( chi phí nguyên vật liệu trực tiếp,
chi phí nhân công trực tiếp)
* Phơng pháp phân bổ gián tiếp
Phơng pháp này áp dụng đối với chi phí sản xuất có liên quan đến nhiều
đối tợng tập hợp chi phí sản xuất không thể tổ chức ghi chép ban đầu riêng
theo từng đối tợng tập hợp chi phí riêng biệt .

(3b)

Giải thích sơ đồ:
(1) Trị giá thực tế nguyên vật liệu xuất kho cho chế tạo sản phẩm
(PPKKTX)
(2) Trị giá thực tế nguyên vật liệu xuất dùng cho sản phẩm (PPKKĐK)
(3) Mua nguyên vật liệu dùng trực tiếp chế tạo sản phẩm (tổng giá
thanh toán )
(3b) Thuế GTGT
(4) Trị giá thực tế nguyên vật liệu sử dụng không hết nhập lại kho, giá
trị phế liệu thu hồi.
(5) Phân bổ và kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho đối tợng
liên quan .
* Kế toán tập hợp và phân bổ chi phí nhân công trực tiếp.
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm: tiền lơng, tiền công, phụ cấp lơng,
tiền lơng, tiền ăn ca phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm hoặc
SV:Nguyễn Thị Nhã Phơng Lớp: CQ45/21.05
15
Luận văn cuối khóa
thực hiện các lao vụ, dịch vụ, các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ
quy định trên tiền lơng của công nhân trực tiếp sản xuất tính vào chi phí sản
xuất .
Đối với chi phí nhân công trực tiếp có liên quan trực tiếp đến từng đối t-
ợng chịu chi phí thì căn cứ vào chứng từ gốc tập hợp trực tiếp cho từng đối t-
ợng liên quan.Trờng hợp chi phí nhân công trực tiếp có liên quan đến nhiều
đối tợng tập hợp chi phí thì áp dụng phơng pháp tập hợp và phân bổ gián tiếp.
Đối với các khoản trích theo lơng thì căn cứ vào tỷ lệ trích quy định để
tính theo số tiền lơng của công nhân đã tập hợp hoặc phân bổ cho từng đối t-
ợng.
Để tập hợp và phân bổ chi phí nhân công trực tiếp kế toán sử dụng tài

tính giá thành sản phẩm. Chi phí sản xuất chung phát sinh ở phân xởng, đội
sản xuất nào thì kết chuyển để tính giá thành sản phẩm công việc của phân x-
ởng hặc đội sản xuất đó.Trờng hợp một phân xởng đội sản xuất trong kỳ có
sản xuất nhiều loại sản phẩm, nhiều công việc thì phải tiến hành phân bổ chi
phí sản xuất chung theo phơng pháp phân bổ gián tiếp.
Phơng pháp phân bổ cụ thể của từng khoản chi phí sản xuất chung
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: Trong đó khấu hao máy móc thiết bị
sản xuất, nếu tính riêng cho từng đối tợng chịu chi phí thì dùng phơng pháp
trực tiếp, nếu liên quan đến nhiều đối tợng thì dùng phơng pháp phân bổ gián
tiếp. Tiêu chuẩn phân bổ có thể là: Định mức chi phí khấu hao máy móc, thiết
bị sản xuất, hoặc giờ máy chạy thực tế.
- Chi phí năng lợng dùng cho sản xuất sản phẩm, nếu theo dõi trực tiếp
cho từng đối tợng bằng đồng hồ đo thì dùng phơng pháp trực tiếp, nếu liên
quan đến nhiều đối tợng chịu chi phí thì phân bổ gían tiếp. Tiêu chuẩn phân bổ
là: Định mức chi phí năng lợng hoặc số giờ máy làm việc thực tế kết hợp với
công suất tiêu hao của máy.
- Những chi phí còn lại đợc tập hợp và phân bổ cho đối tợng chịu chi
phí theo phơng pháp phân bổ gián tiếp, tiêu chuẩn phân bổ có thể là: tiền lơng
công nhân sản xuất, định mức chi phí, giờ công công nhân sản xuất.
Để tập hợp chi phí sản xuất chung kế toán sử dụng tài khoản 627- chi
phí sản xuất chung.
SV:Nguyễn Thị Nhã Phơng Lớp: CQ45/21.05
18
Luận văn cuối khóa
Sơ đồ kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung
TK 334 TK627 TK154
(1) (5)
TK152,153 TK 632
(2) (6)
TK 214

- Giá thành sản xuất của sản phẩm lao vụ đã hoàn thành trong kỳ.
- Kết chuyển chi phí sản phẩm dở dang đầu kỳ(KKĐK)
Số d: Bên Nợ- phản ánh chi phí sản phẩm lao vụ dở dang cuối kỳ.
Tài khoản 154 dợc mở chi tiết theo từng đối tợng kế toán tập hợp CPSX.
Trình tự tập hợp:

SV:Nguyễn Thị Nhã Phơng Lớp: CQ45/21.05
20
Luận văn cuối khóa
TK 621 TK154 TK138,152, 821
Ddk xxx
K/ chuyển
Chi phí nguyên, Trị giá SP hỏng bắt bồi thờng
vật liệu trực tiếp phế liệu thu hồi sản phẩm hỏng
TK622 TK155, 157
K/ chuyển
Chi phí nhân công Giá thành thực tế sản phẩm
trực tiếp hoàn thành nhập kho, gửi bán

TK 627 TK632

K/ c chi phí sản xuất Giá thành thực tế sản phẩm
chung bán ngay không qua kho 1.3.3.2. Kế toán tập hợp CPSX theo PP kiểm kê định kỳ.
Theo phơng pháp kiểm kê định kỳ, kế toán sử dụng TK 631 Giá thành sản
xuất để tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. TK 631 có kết
cấu nh sau:
Bên Nợ: - Kết chuyển giá trị của sản phẩm dở dang đầu k

1.4.1. Đối tợng tính giá thành sản phẩm
Đối tợng tính giá thành sản phẩm là các loại sản phẩm, công việc,
lao vụ mà doanh nghiệp đã sản xuất hoàn thành cần phải tính tổng giá
thành và giá thành đơn vị. Đối với doanh nghiệp điện, đối tợng tính giá
thành chính là từng Kwh điện phát lới đối với các nhà máy nhiệt điện,
thủy điện; từng Kwh điện truyền tải với các cơ sở truyền tải và từng
Kwh điện tiêu thụ với các cơ sở điện lực.Khi xác định đối tợng tính giá
thành cần căn cứ vào đặc điểm cơ cấu tổ chức sản xuất, đặc điểm qui
trình công nghệ sản xuất sản phẩm, đặc điểm tính chất của sản phẩm,
yêu cầu trình độ hạch toán và quản lý của từng doanh nghiệp.Trong các
doanh nghiệp lại căn cứ vào điều kiện cụ thể mà xác định đối tợng tính
giá thành cho phù hợp. Việc xác định đúng đối tợng tính giá thành là
căn cứ để kế toán kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản
phẩm, tính toán quá trình kinh doanh.
SV:Nguyễn Thị Nhã Phơng Lớp: CQ45/21.05
22
Luận văn cuối khóa
1.4.2. Phơng pháp đánh giá sản phẩm dở dang
Sản phẩm dở dang là những sản phẩm, công việc còn đang trong
quá trình sản xuất, gia công chế biến trên các giai đoạn công nghệ hoặc
đã hoàn thành một vài qui trình chế biến nhng vẫn còn phải gia công
chế biến mới trở thành thành phẩm.
Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ là việc tính toán xác định một
phần chi phí mà sản phẩm dở dang cuối kỳ phải chịu. Đây là một công
việc phức tạp tuỳ thuộc vào đặc điểm, tình hình cụ thể về tổ chức sản
xuất, về qui trình công nghệ, về tính chất cấu thành của chi phí và yêu
cầu trình độ quản lýcủa doanh nghiệp.
Em xin trình bày phơng pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp hoặc chi phí nguyên vật liệu chính
- Chi phí nguyên vật liệu bỏ ngay từ đầu quy trình công nghệ. Tỉ trọng

nhợc điểm là độ chính xác không cao vì khối lợng sản phẩm dở chỉ tính cho
chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.Ngoài ra có thể đánh giá sản phẩm dở theo
khối lợng sản phẩm hoàn thành tơng đơng hay theo chi phí sản xuất định mức.
SV:Nguyễn Thị Nhã Phơng Lớp: CQ45/21.05
23
Luận văn cuối khóa
Do đặc thù của sản xuất điện không có thứ phẩm, sản phẩm dở dang
nên công tác tính giá thành tại các doanh nghiệp điện không đánh giá sản
phẩm làm dở.
1.4.3. Phơng pháp tính giá thành
Phơng pháp tính giá thành sản phẩm là phơng pháp sử dụng số liệu chi phí
sản xuất đã tập hợp đợc trong kỳ để tính toán tổng giá thành và giá thành đơn
vị theo từng khoản mục chi phí cho các đối tợng tính giá thành.
Quy trình côngnghệ sản xuất ở các doanh nghiệp điện hầu hết là quy
trình công nghệ sản xuất giản đơn liên tục, tất cả các chi phí phát sinh đều
phục vụ cho sản xuất sản phẩm điện là chủ yếu nên tại các doanh nghiệp điện
áp dụng phơng pháp tính giá thành giản đơn.
Tính giá thành sản phẩm theo phơng pháp giản đơn:
Theo phơng pháp này,doanh nghiệp tập hợp các chi phí sản xuất phát
sinh trong kỳ để tính giá thành sản phẩm.
Z = C
1.5. Tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong
điều kiện áp dụng kế toán máy.
1.5.1. Sự cần thiết phải ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế
toán:
Trong nền kinh tế thị trờng ngày càng phát triển thì qui mô hoạt
động của doanh nghiệp ngày càng mở rộng, khối lợng thông tin cần thu
thập xử lý, cung cấp ngày càng nhiều và phức tạp. Thêm vào đó các đối
tợng sử dụng thông tin ngày càng phong phú, mục đích sử dụng khác
nhau, đòi hỏi thông tin kế toán cung cấp phải kịp thời và có chất lợng.

26
Sổ kế toán

- Sổ tổng hợp
- Sổ chi tiết
Chứng từ kế toán
Bảng tổng hợp
chứng từ kế toán
cùng loại
- Báo cáo tài chính
- Báo cáo kế toán
quản trị
Phần mềm
kế toán
Máy vi tính

Trích đoạn Phơng pháp kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Kế toán chi phí, công cụ, dụng cụ phân xởng Kế toán sửa chữa TSCĐ Kế toán chi phí sản xuất chung khác Nhận xét đánh giá chung về công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status