LỜI NÓI ĐẦU
Trong thời đại ngày nay, các nước trên thế giới có những cơ chế, chính
sách tạo điều kiện nhằm khuyến khích xuất khẩu, từ đó tạo điều kiện cho nhập
khẩu và phát triển cơ sở hạ tầng. Hoạt động xuất khẩu chính là một phương tiện
để thúc đẩy phát triển kinh tế, là một vấn đề quyết định và không thể thiếu được
của mỗi quốc gia trong sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Đối với Việt Nam hoạt động xuất khẩu thực sự có ý nghĩa chiến lược
trong công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Bởi vậy, trong chính sách kinh
tế Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của hoạt động
xuất khẩu và coi đó là một trong ba chương trình kinh tế lớn cần tập trung thực
hiện.
Xuất phát từ đặc điểm tự nhiên và đặc điểm kinh tế xã hội là một nước
thuần nông với hơn 70% dân số làm nông nghiệp, Việt Nam xác định mặt hàng
nông sản nói chung và gạo nói riêng là mặt hàng xuất khẩu chủ yếu và chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Công ty Lương Thực Cấp I Lương
Yên là một trong những đơn vị kinh doanh xuất khẩu gạo lớn của Việt Nam
đang phát triển đi lên ở cả trong điều kiện khó khăn nhiều mặt, đặc biệt là sự
cạnh tranh gay gắt trong và ngoài nước, thị trường biến động.... Để đứng vững
và tiếp tục phát triển hơn nữa Công ty Lương Thực Cấp I Lương Yên cần không
ngừng hoàn thiện chiến lược phát triển lâu dài cũng như đề ra được kế hoạch,
biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu trong từng giai đoạn cụ thể.
Về thực tập tại Công ty Lương Thực Cấp I Lương Yên, với ý thức về sự
phức tạp và tầm quan trọng của hoạt động xuất khẩu cũng như đòi hỏi thực tế
của việc hoàn thiện hiệu quả của hoạt động xuất khẩu, với sự giúp đỡ của thầy
cô cùng toàn thể cán bộ phòng Kinh tế đối ngoại em mạnh dạn lựa chọn đề tài:
"Thực trạng và biện pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu gạo ở Công ty Lương
Thực Cấp I Lương Yên" làm luận văn tốt nghiệp.
2
Kết cấu của luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận, được chia làm 3
Cơ sở hoạt động xuất khẩu hàng hoá là hoạt động mua bán trao đổi hàng
hóa trong nước. Lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, phạm vi chuyên môn
hoá ngày càng cao nên số sản phẩm dịch vụ đáp ứng nhu cầu của con người
ngày một dồi dào, đồng thời sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước cũng tăng lên.
Nói cách khác, chuyên môn hoá thúc đẩy nhu cầu mậu dịch và ngược lại, một
quốc gia không thể chuyên môn hoá sản xuất nếu không có hoạt động mua bán
trao đổi với các nước khác. Chính chuyên môn hoá quốc tế là biểu hiện sinh
động của quy luật lợi thế so sánh. Quy luật này nhấn mạnh sự khác nhau về chi
phí sản xuất- coi đó là chìa khoá của phương thức thương mại.
4
Đối với Việt Nam, một quốc gia đang có sự chuyển dịch sang nền kinh tế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước thì hoạt động xuất khẩu được đặt ra cấp
thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế xã hội.
Việt Nam là nước nhiệt đới gió mùa, đông dân, lao động dồi dào, đất đai màu
mỡ... Bởi vậy, nếu Việt Nam tận dụng tốt các lợi thế này để sản xuất hàng xuất
khẩu là hướng đi đúng đắn, phù hợp với quy luật thương mại quốc tế.
2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu
2.1. Đối với nền kinh tế quốc dân
Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
Ở các nước kém phát triển, một trong những vật cản chính đối với sự tăng
trưởng kinh tế là thiếu tiềm lực về vốn trong quá trình phát triển. Nguồn vốn huy
động từ nước ngoài được coi là cơ sơ chính nhưng mọi cơ hội đầu tư hoặc vay
nợ từ nước ngoài và các tổ chức quốc tế chỉ tăng lên khi các chủ đầu tư và người
cho vay thấy được khả năng xuất khẩu của đất nước đó, vì đây là nguồn chính
để đảm bảo rằng nước này có thể trả nợ được.
Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế hướng
ngoại.
Thay đổi cơ cấu sản xuất và tiêu dùng một cách có lợi nhất, đó là thành
2.2. Đối với một doanh nghiệp
Ngày nay xu hướng vươn ra thị trường nước ngoài là một xu hướng chung
của tất cả các quốc gia và các doanh nghiệp. Việc xuất khẩu các loại hàng hóa
và dịch vụ đem lại các lợi ích sau:
Thông qua xuất khẩu các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia vào
cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng. Những yếu tố đó
đòi hỏi doanh nghiệp phải hình thành một cơ cấu sản xuất phù hợp với thị
trường.
Xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp luôn luôn phải đổi mới và hoàn thiện
công tác quản lý sản xuất, kinh doanh nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá
thành.
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường, mở
rộng quan hệ kinh doanh với các bạn hàng cả trong và ngoài nước, trên cơ sở hai
6
bên cùng có lợi, tăng doanh số và lợi nhuận đồng thời phân tán và chia sẻ rủi ro,
mất mát trong hoạt động kinh doanh, tăng cường uy tín kinh doanh của doanh
nghiệp.
Xuất khẩu khuyến khích việc phát triển các mạng lưới kinh doanh của
doanh nghiệp, chẳng hạn như hoạt động đầu tư, nghiên cứu và phát triển các
hoạt động sản xuất, marketing...., cũng như sự phân phối và mở rộng trong việc
cấp giấy phép.
3. Nội dung của hoạt động xuất khẩu
Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế. Nó
không phải là hành vi mua bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống quan hệ mua bán
phức tạp, có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc
đẩy hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và từng bước nâng
cao mức sống của nhân dân.
Hoạt động xuất khẩu được tổ chức, thực hiện với nhiều nghiệp vụ, nhiều
khâu, tạo nên những vòng quay kinh doanh. Mỗi khâu, mỗi nghiệp vụ phải được
phải trả lời các câu hỏi: xuất khẩu cái gì, dung lượng thị trường đó ra sao, sự
biến động của hàng hóa trên thị trường như thế nào, thương nhân giao dịch là ai,
phương thức giao dịch nào, chiến thuật kinh doanh cho từng giai đoạn cụ thể để
đạt được mục tiêu đề ra.
3.1.1. Nhận biết mặt hàng xuất khẩu
Việc nhận biết hàng xuất khẩu, trước tiên phải dựa vào nhu cầu của sản
xuất và tiêu dùng về quy cách, chủng loại, kích cỡ, giá cả, thời vụ và các thị hiếu
cũng như tập quán tiêu dùng của từng vùng, từng lĩnh vực sản xuất. Từ đó xem
xét các khía cạnh của hàng hóa thị trường thế giới. Về khía cạnh thương phẩm,
phải hiểu rõ giá trị công dụng, các đặc tính, quy cách phẩm chất, mẫu mã. Nắm
bắt đầy đủ các mức giá cho từng điều kiện mua bán và phẩm chất hàng hóa, khả
năng sản xuất và nguồn cung cấp chủ yếu của các công ty cạnh tranh, các hoạt
động dịch vụ cho hàng hóa như bảo hành, sửa chữa, cung cấp thiết bị...
Để lựa chọn được mặt hàng kinh doanh, một nhân tố quan trọng là phải
tính toán được tỷ suất ngoại tệ hàng xuất khẩu. Đó là số lượng bản tệ phải chi ra
để có thể thu về 1 đồng ngoại tệ. Nếu tỷ suất này thấp hơn tỷ giá hối đoái thì
việc xuất khẩu có hiệu quả.
8
Việc lựa chọn mặt hàng xuất khẩu không chỉ dựa vào những tính toán hay
ước tính, những biểu hiện cụ thể hàng hóa, mà còn phải dựa vào cả những kinh
ngiệm của người ngoài thị trường để dự đoán được các xu hướng biến động
trong thị trường nước ngoài cũng như trong nước, khả năng thương lượng để đạt
được các điều kiện mua bán có ưu thế hơn.
3.1.2. Nghiên cứu dung lượng thị trường và các nhân tố ảnh hưởng
Dung lượng thị trường là khối lượng hàng hóa được giao dịch trên một
phạm vi thị trường nhất định trong một thời gian nhất định (thường là 1 năm).
Nghiên cứu dung lượng thị trường cần xác định nhu cầu của khách hàng, kể cả
lượng dự trữ, xu hướng biến động của nhu cầu trong từng thời điểm, các vùng,
các khu vực có nhu cầu lớn và đặc điểm nhu cầu từng khu vực, từng lĩnh vực
tố tự nhiên như thiên tai, hạn hán, động đất..., các yếu tố về chính trị xã hội.
Nắm vững dung lượng thị trường và các nhân tố ảnh hưởng trong từng
thời kỳ có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu nói
chung và trong hoạt động xuất khẩu nói riêng. Nó giúp cho các nhà kinh doanh
cân nhắc các đề nghị, ra quyết định kịp thời, nhanh chóng chớp thời cơ, đạt hiệu
quả kinh doanh cao nhất. Cùng với nghiên cứu dung lượng thị trường người
kinh doanh phải nắm bắt được tình hình kinh doanh mặt hàng đó trên thị trường,
các đối thủ cạnh tranh và đặc biệt là các điều kiện về chính trị, Thương mại pháp
luật, tập quán buôn bán quốc tế, khu vực để có thể hòa nhập với thị trường, tránh
được những sơ suất trong giao dịch.
3.1.3. Nghiên cứu về giá cả hàng hoá
Nghiên cứu về giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới là vấn đề quan
trọng đối với bất cứ đơn vị kinh doanh xuất khẩu nào, đặc biệt là đối với những
doanh nghiệp bắt đầu tham gia vào kinh doanh chưa đủ mạng lưới nghiên cứu
và cung cấp thông tin.
Xu hướng biến động giá cả trên thị trường quốc tế rất phức tạp và chịu dự
chi phối của các nhân tố sau:
+ Nhân tố chu kì: là sự vận động có tính chất quy luật của nền kinh
tế, đặc biệt là sự biến động thăng trầm của nền kinh tế các nước lớn.
10
+ Nhân tố lũng đoạn của các công ty siêu quốc gia. Đây là nhân tố
quan trọng ảnh hưởng đến sự hình thành và giá cả của các loại hàng hoá trên thị
trường quốc tế.
+ Nhân tố cạnh tranh, bao gồm: cạnh tranh giữa người bán với
người bán, người mua với người mua và người bán với người mua. Trong thực
tế cạnh tranh thường làm cho giá rẻ hơn.
+ Nhân tố cung- cầu: là nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến
lượng cung cấp hoặc khối lượng hàng hoá tiêu thụ trên thị trường, do vậy có ảnh
hưởng rất lớn đến sự biến động của giá cả hàng hoá.
vào kinh nghiệm của người làm công tác giao dịch, có thể dựa trên cơ sở nghiên
cứu các vấn đề sau:
Tình hình sản xuất kinh doanh, lĩnh vực và phạm vi kinh doanh, khả năng
cung cấp hàng hoá.
Khả năng về vố, cơ sở vật chất, kỹ thuật
Thái độ và quan điểm kinh doanh là chiếm lĩnh thị trường hay cố gắng
giành lấy độc quyền về hàng hoá.
Uy tín, quan hệ của bạn hàng
- Thái độ chính trị
Trong việc lựa chọn thương nhân giao dịch tốt nhất là nên lựa chọn đối
tác trực tiếp tránh những đối tác trung gian, trừ trường hợp doanh nghiệp muốn
thâm nhập vào thị trường mới mà mình chưa có kinh nghiệm.
3.2. Tổ chức thực hiện kế hoạch xuất khẩu
3.2.1. Tạo nguồn hàng xuất khẩu
Nguồn hàng là toàn bộ hàng hoá và dịch vụ của một công ty hoặc một địa
phương hoặc toàn bộ đất nước có khả năng xuất khẩu được.
Tạo nguồn hàng xuất khẩu là toàn bộ những hoạt động từ đầu tư sản xuất
kinh doanh đến các nghiệp vụ nghiên cứu thị trường, ký kết hợp đồng vận
chuyển, bảo quản, sơ chế, phân loại nhằm tạo ra hàng hoá có đầy đủ tiêu chuẩn
cần thiết cho xuất khẩu.
Để tạo nguồn hàng cho xuất khẩu các doanh nghiệp có thể đẩu tư trực tiếp
hoặc gián tiếp sản xuất, có thể thu gom hoặc có thể ký hợp đồng thu mua với các
12
chân hàng, các đơn vị sản xuất hoặc ký hợp đồng thu mua kết hợp với hướng
dẫn kỹ thuật.
Công tác thu mua tạo nguồn hàng cho xuất khẩu là một hệ thống các công
việc, các nghiệp vụ , bao gồm:
- Nghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu
Nghiên cứu nguồn hàng là nghiên cứu khả năng cung cấp hàng xuất khẩu
xây dựng kho, nhất là những kho đòi hỏi phải trang bị nhiều phương tiện bảo
quản đắt tiền.
Hệ thống thu mua cần phải gắn với điều kiện giao thông của các địa
phương. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa thu mua và vận chuyển là cơ sở để đảm
bảo tiến độ thu mua và chất lượng của hàng hoá. Tuỳ theo đặc điểm của hàng
hoá mà có phương án vận chuyển hợp lý.
- Kí kết hợp đồng trong thu mua tạo nguồn xuất khẩu.
Phần lớn khối lượng hàng hóa được mua bán giữa các doanh nghiệp ngoại
thương với các nhà sản xuất hoặc với các chân hàng đều thông qua hợp đồng thu
mua, đổi hàng, gia công... Dựa trên những thoả thuận và tự nguyện các bên ký
kết hợp đồng là cơ sở vững chắc đảm bảo các hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp diễn ra bình thường.
- Xúc tiến khai thác nguồn hàng
Sau khi ký kết hợp đồng với các chân hàng và các đơn vị sản xuất, doanh
nghiệp ngoại thương phải lập kế hoạch thu mua, tiến hành sắp xếp các phần việc
phải làm và chỉ đạo các bộ phận thực hiện kế hoạch. Cụ thể là:
Đưa hệ thống các kênh thu mua đã được thiết lập đi vào hoạt động. Có thể
tổ chức bộ máy chỉ đạo thu mua theo từng mặt hàng hoặc từng nhóm hàng
Chuẩn bị đầy đủ các thủ tục giấy tờ, chứng từ, hóa đơn, bộ phận giám
định chất lượng hàng hóa và các thủ tục khác để giao nhận hàng theo hợp đồng
đã ký.
Tổ chức hệ thống kho tàng tại các điểm nút các kênh, đảm bảo đủ khả
năng tiếp nhận và giải tỏa nhanh “dòng hàng vào ra”.
Tổ chức vận chuyển hàng theo các địa điểm đã quy định, làm các thủ tục
cần thiết để thuê phương tiện vận chuyển thích hợp, thuê xếp dỡ sao cho cước
14
phí phù hợp với từng nhóm hàng. Tuỳ theo mặt hàng có thể tổ chức bao gói
hoặc dự trữ hợp lý trong quá trình vận chuyển có thể xuất ngay.
Đưa các cơ sở sản xuất, gia công chế biến vào hoạt động theo phương án
nhiều thời gian và do đó có thể bỏ lỡ mất thời cơ mua bán. Người ta có thể sử
dụng điện tín để khắc phục nhược điểm này.
Đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp: Gặp gỡ trực tiếp giữa hai bên để
trao đổi mọi điều kiện buôn bán, là một hình thức đặc biệt quan trọng. Hình thức
này đẩy nhanh tốc độ giải quyết mọi vấn đề giữa hai bên và nhiều khi là lối thoát
cho những đàm phán bằng thư tín đã kéo dài lâu mà không có kết quả. Đàm
phán bằng gặp gỡ trực tiếp tuy hiệu quả hơn hình thức thư tín, điện tín, song đây
cũng là hình thức đàm phán khó khăn nhất, đòi hỏi người tiến hành đàm phán
phải giỏi nghiệp vụ, tự tin, phản ứng nhạy bén đủ tỉnh táo và bình tĩnh dò xét ý
kiến đối phương.
Như vậy, trong mỗi cách đàm phán giao dịch đều có những điểm thuận
lợi và bất lợi khác nhau. Điều đó yêu cầu người tham gia đàm phán phải nắm
được đặc điểm của mỗi loại từ đó phát huy lợi thế và khôn khéo tránh được bất
lợi.
Việc giao dịch đàm phán có kết quả sẽ dẫn tới việc kí kết hợp đồng xuất
khẩu. Một hợp đồng cần phải đầy đủ các điều khoản để tránh sự tranh chấp của
hai bên, thông thường bao gồm:
* Số hợp đồng
* Ngày, tháng, năm kí kết hợp đồng
* Tên, địa chỉ của các bên kí kết
* Các điều khoản của hợp đồng, trong đó có các điều khoản chủ yếu là:
+ Điều 1: Tên hàng, quy cách, phẩm chất, số lượng, bao bì, kí mã
hiệu
+ Điều 2: Giá cả (đơn giá, tổng trị giá)
+ Điều 3: Thời gian, địa điểm, phương tiện giao hàng
+ Điều 4: Giám định hàng hóa
+ Điều 5: Điều kiện xếp hàng, thưởng phạt
+ Điều 6: Những chứng từ cần thiết cho lô hàng
+ Điều 7: Thanh toán
16
17
Nhóm biện pháp liên quan đến tổ chức nguồn hàng, cải tiến cơ cấu xuất
khẩu:
+ Xây dựng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực.
+ Đẩy mạnh gia công hàng xuất khẩu.
+ Tăng cường đầu tư cho xuất khẩu.
+ Lập các khu chế xuất
Nhóm các biện pháp tài chính, bao gồm:
+ Tín dụng xuất khẩu
+ Trợ cấp xuất khẩu
+ Chính sách tỷ giá
+ Miễn, giảm và hoàn lại thuế
Nhóm biện pháp thể chế – tổ chức.
+ Lập các viện nghiên cứu cung cấp thông tin cho các nhà xuất
khẩu
+ Đào tạo cán bộ, chuyên gia giúp các nhà xuất khẩu
+ Lập các cơ quan Nhà nước ở nước ngoài để nghiên cứu tại chỗ
tình hình thị trường hàng hóa, thương nhân và chính sách của chính phủ ở nước
sở tại.
+ Nhà nước đứng ra kí kết các Hiệp định thương mại, Hiệp định
hợp tác kỹ thuật, vay nợ, viện trợ....Trên cơ sở đó thúc đẩy xuất khẩu.
Các công cụ cơ bản quản lý xuất khẩu gồm có:
Thủ tục hải quan xuất khẩu hàng hóa
Hạn ngạch xuất khẩu
Quản lý ngoại tệ
3.3.2. Đánh giá hiệu quả của hoạt động xuất khẩu
Ý nghĩa của công việc này là nhằm tạo điều kiện cho các thành viên trong
doanh nghiệp thấy được các kết quả và hạn chế trong quá trình thực hiện hoạt
động kinh doanh xuất khẩu, từ đó rút ra kinh nghiệm kinh doanh, đồng thời có
X
: tổng chi phí thực hiện hoạt động xuất khẩu
- Chỉ tiêu lợi nhuận trong xuất khẩu:
+ Lợi nhuận tính cho một mặt hàng:
P
X
= q(p – f)
Trong đó:
P
x
: lợi nhuận của mặt hàng xuất khẩu
q : khối lượng hàng xuất khẩu
p : giá trị một đơn vị hàng xuất khẩu
f : chi phí đầy đủ của một đơn vị hàng xuất khẩu
Chỉ tiêu này giúp ta phân biệt lợi nhuận của từng mặt hàng, lô hàng,
chuyến hàng
+ Tổng lợi nhuận hàng năm của doanh nghiệp xuất khẩu:
19
X
X
X
C
L
D
=
∑ ∑
=
−=
n
i
tích các yếu tố thiết thực nhất để đưa ra các biện pháp tác động cụ thể.
1.1. Tỷ giá hối đoái và tỷ suất ngoại tệ của hàng xuất khẩu
Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ này thể hiện bằng một số
đơn vị tiền tệ của nước kia. Tỷ giá hối đoái là phương tiện so sánh giá trị hàng
hóa trong nước và trên thị trường quốc tế, là một trong những căn cứ quan trọng
để doanh nghiệp đưa ra quyết định liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa
quốc tế nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng.
Trong trường hợp tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam giảm so với ngoại tệ
mạnh (USD, GBP, FRF, DEM...) thì các doanh nghiệp có thể thu được nhiều lợi
nhuận từ hoạt động xuất khẩu và ngược lại. Chính vì vậy, các doanh nghiệp có
thể thông qua nghiên cứu và dự đoán xu hướng biến động của tỷ giá hối đoái để
20
đưa ra biện pháp xuất khẩu phù hợp, lựa chọn thị trường có lợi, lựa chọn nguồn
hàng, đồng tiền thanh toán.....
Tương tự, tỷ suất ngoại tệ hàng xuất khẩu cũng như “một chiếc gậy vô
hình” đã làm thay đổi, chuyển hướng giữa các mặt hàng, các phương án kinh
doanh của doanh nghiệp xuất khẩu.
1.2. Mục tiêu và chiến lược phát triển kinh tế
Thông qua mục tiêu và chiến lược phát triển kinh tế thì Chính phủ có thể
đưa ra các chính sách khuyến khích hay hạn chế xuất nhập khẩu. Chẳng hạn
chiến lược phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóa đòi hỏi
xuất khẩu để thu ngoại tệ đáp ứng nhu cầu nhập khẩu các trang thiết bị máy móc
phục vụ sản xuất; mục tiêu bảo hộ sản xuất trong nước đưa ra chính sách khuyến
khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng....
1.3. Các chính sách thuế
Một số chính sách chủ yếu cần quan tâm đối với nhà xuất khẩu:
*Thuế quan: trong hoạt động xuất khẩu thuế quan là loại thuế đánh vào
từng đơn vị hàng xuất khẩu. Việc đánh thuế xuất khẩu được Chính phủ ban hành
nhằm quản lý xuất khẩu theo chiều hướng có lợi nhất cho nền kinh tế trong nước
3. Các yếu tố chính trị pháp luật
Các yếu tố chính trị pháp luật ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động xuất
khẩu. Các công ty kinh doanh xuất khẩu đều phải tuân thủ các quy định của các
Chính phủ có liên quan, tập quán và luật pháp quốc gia, quốc tế:
Các quy định của luật pháp Việt Nam đối với hoạt động xuất khẩu (thuế,
thủ tục quy định về mặt hàng xuất khẩu, quy định quản lý về ngoại tệ...)
Các hiệp ước, hiệp định thương mại mà Việt Nam tham gia
Các quy định nhập khẩu của các quốc gia mà doanh nghiệp có quan hệ
làm ăn
Các vấn đề pháp lý và tập quán quốc tế có liên quan tới việc xuất khẩu
(Công ước Viên 1980, Incoterm 1990....)
Ngoài những vấn đề nói trên, chính phủ còn thực hiện các chính sách
ngoại thương khác như: hàng rào phi thuế quan, ưu đãi thuế quan...
Chính sách ngoại thương của Chính phủ trong mỗi thời kỳ có sự thay đổi.
Sự thay đổi đó là một trong những rủi ro lớn đối với nhà làm kinh doanh xuất
22
khẩu. Vì vậy, họ phải nắm được chiến lược phát triển kinh tế của đất nước để
biết được xu hướng vận động của nền kinh tế và sự can thiệp của Nhà nước.
4. Các yếu tố về tự nhiên và công nghệ
Khoảng cách địa lý giữa Việt Nam và các nước sẽ ảnh hưởng đến chi phí
vận tải , tới thời gian thực hiện hợp đồng, thời điểm ký kết hợp đồng do vậy, nó
ảnh hưởng tới việc lựa chọn nguồn hàng, lựa chọn thị trường, mặt hàng xuất
khẩu....
Vị trí của các nước cũng ảnh hưởng đến việc lựa chọn nguồn hàng, thị
trường tiêu thụ. Ví dụ: việc mua bán hàng hóa với các nước có cảng biển có chi
phí thấp hơn so với các nước không có cảng biển.
Thời gian thực hiện hợp đồng xuất khẩu có thể bị kéo dài do bị thiên tai
như bão, động đất...
Sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin cho
hàng rào này phụ thuộc chủ yếu vào quan hệ kinh tế song phương giữa hai nước
nhập khẩu và xuất khẩu.
Ngày nay, đã và đang hình thành rất nhiều liên minh kinh tế ở các mức độ
khác nhau, nhiều hiệp định thương mại song phương, đa phương được kí kết với
mục tiêu đẩy mạnh hoạt động thương mại quốc tế. Nếu quốc gia nào tham gia
vào các liên minh kinh tế này hoặc kí kết các hiệp định thương mại thì sẽ gặp
nhiều thuận lợi trong hoạt động xuất khẩu của mình. Ngược lại, đó chính là rào
cản đối với việc thâm nhập vào thị trường khu vực đó.
7. Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp
7.1. Tiềm lực tài chính
Là một yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua
khối lượng (nguồn) vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh, khả
năng phân phối (đầu tư) có hiệu quả các nguồn vốn. Khả năng quản lý có hiệu
quả các nguồn vốn trong kinh doanh của doanh nghiệp thể hiện qua các chỉ tiêu:
Vốn chủ sở hữu (vốn tự có)
Vốn huy động
Tỷ lệ tái đầu tư về lợi nhuận
Khả năng trả nợ ngắn hạn và dài hạn
24
Các tỷ lệ về khả năng sinh lợi
7.2. Tiềm năng con người
Trong kinh doanh (đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại- dịch vụ, hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu) con người là yếu tố quan trọng hàng đầu để
đảm bảo thành công. Chính con người với năng lực thật của họ mới lựa chọn
đúng được cơ hội và sử dụng sức mạnh khác mà họ đã và sẽ có: vốn, tài sản, kỹ
thuật, công nghệ...một cách có hiệu quả để khai thác và vượt qua cơ hội.
7.3. Tiềm lực vô hình (tài sản vô hình)
Tiềm lực vô hình tạo nên sức mạnh của doanh nghiệp trong hoạt động
thương mại. Tiềm lực vô hình không phải tự nhiên mà có. Tuy có thể được hình
Cơ sở vật chất - kỹ thuật phản ánh nguồn tài sản cố định doanh nghiệp có
thể huy động vào kinh doanh: thiết bị, nhà xưởng... Nếu doanh nghiệp có cơ sở
vật chất kỹ thuật càng đầy đủ và hiện đại thì khả năng nắm bắt thông tin cũng
nhưn việc thực hiện các hoạt động kinh doanh xuất khẩu càng thuận tiện và có
hiệu quả.
III. CÁC HÌNH THỨC XUẤT KHẨU CHỦ YẾU
Với mục tiêu là đa dạng hóa các hình thức kinh doanh xuất khẩu nhằm
phân tán và chia sẻ rủi ro, các doanh nghiệp ngoại thương có thể lựa chọn nhiều
hình thức xuất khẩu khác nhau. Một số hình thức xuất khẩu thường được các
doanh nghiệp lựa chọn, bao gồm:
1. Xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là xuất khẩu các hàng hoá và dịch vụ do chính doanh
nghiệp sản xuất ra hoặc mua từ các đơn vị sản xuất trong nước, sau đó xuất khẩu
ra nước ngoài với danh nghĩa là hàng của mình.
Hình thức này có ưu điểm là lợi nhuận mà đơn vị kinh doanh xuất khẩu
thường cao hơn các hình thức khác do không phải chia sẻ lợi nhuận qua khâu
trung gian. Với vai trò là người bán trực tiếp, đơn vị ngoại thương có thể nâng
cao uy tín của mình. Tuy vậy, nó đòi hỏi đơn vị phải ứng trước một lượng vốn
khá lớn để sản xuất hoặc thu mua hàng và có thể gặp nhiều rủi ro.
2. Xuất khẩu gián tiếp
Xuất khẩu gián tiếp là việc cung ứng hàng hoá ra thị trường nước ngoài
thông qua các trung gian xuất khẩu như người đại lý hoặc người môi giới. Đó có
26