kế toán hoạt động xuất khẩu sản phẩm, hàng hóa tại các doanh nghiệp thuộc tổng công ty chè việt nam - Pdf 23

LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả. Kết
quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là thành quả lao động trung thực cùa tác
giả. Các số liệu, tài liệu được sử dụng trong luận văn được tác giả thu thập, phân
tích, xử lý để lựa chọn ra các dữ liệu phù hợp với đề tài nghiên cứu là trung thực và
có nguồn gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Thị Thanh Huyền
LỜI CẢM ƠN
i
Trong khuôn khổ hạn chế của luận văn,với những kết quả còn rất khiêm tốn
trong việc nghiên cứu về hoàn thiện kế toán hoạt động xuất khẩu sản phẩm, hàng
hóa tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Chè Việt Nam, tác giả hy vọng đóng
góp một phần nhỏ bé phục vụ thực tế cho lĩnh vực kế toán xuất khẩu sản phẩm,
hàng hóa đang có tiềm năng và phát triển đa dạng ở nước ta.
Tác giả đặc biệt xin được bày tỏ lòng cảm ơn tới thày giáo hướng dẫn : T.S
Lưu Đức Tuyên- Giảng viên trường Học Viện Tài Chính - Người hướng dẫn khoa
học cho luận văn đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo tác giả trong quá trình hoàn
thành luận văn
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thày giáo, cô giáo thuộc bộ
môn kế toán – kiểm toán khoa sau đại học trường Đại Học Thương Mại đã giúp đỡ
và tạo điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành tốt quá trình học tập cũng như
nghiên cứu.
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, các cô, chú, anh, chị,
các đồng nghiệp tại các doanh nghiệp trực thuộc Tổng công ty Chè Việt Nam đã
hỗ trợ cho tác giả rất nhiều trong việc cung cấp thông tin của đơn vị làm cơ sở thực
tế hoàn thành luận văn cao học này.
Xin cảm ơn các thày, cô giáo và các bạn đã quan tâm đọc luận văn này,
mong nhận được ý kiến đóng góp để luận văn không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận
mà còn có ý nghĩa trong thực tế
.

Sơ đồ 3.4 Sơ đồ nghiệp vụ XK khẩu hàng hóa trực tiếp tại công ty Hồng Trà
v
MỤC LỤC
vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu Chữ viết đầy đủ
TM Tiền mặt
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
DDĐK Dở dang đầu kỳ
QĐ Quyết định
BTC Bộ tài chính
GTGT Giá trị gia tăng
DV Dịch vụ
KD Kinh doanh
SX Sản xuất
SP Sản phẩm
HH Hàng hóa
TKĐU Tài khoản đối ứng
XNK Xuất nhập khẩu
VNĐ Việt nam đồng
$USD Đồng dolla
TSCĐ Tài sản cố định
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
XHCN Xã hội chủ nghĩa
NSNN Ngân sách nhà nước
TK Tài khoản
TGNH Tiền gửi ngân hàng
MTV Một thành viên
vii
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

phản ánh và đôn đốc quá trình thực hiện hợp đồng và các quan hệ thanh toán một
1
cách chính xác, rõ ràng. Mặt khác, hoạt động xuất khẩu được tiến hành làm nảy sinh
nhiều loại chứng từ khác nhau. Do đó, cần xây dựng hệ thống kế toán với quy mô,
trình tự luân chuyển chứng từ hợp lý, phù hợp vơi yêu cầu quản lý của doanh
nghiệp. Các thông tin kế toán cần phải được cung cấp kịp thời cho mục tiêu : quản
lý doanh nghiệp, kiểm tra của Nhà nước và các đối tượng liên quan đến doanh
nghiệp. Tuy nhiên, trong thực tế công tác kế toán xuất khẩu còn rất nhiều bất cập,
mặc dù các doanh nghiệp đã cố gắng sửa đổi, bổ sung theo quy định của Bộ Tài
Chính . Tính trung thực, chính xác của các số liệu kế toán chưa đảm bảo độ tin cậy
để đánh giá thực trạng tài chính, thực trạng hoạt động sản xuất, kinh doanh của
doanh nghiệp. Việc sử dụng các loại chứng từ chưa thống nhất, đồng bộ, bên cạnh
đó công tác tổ chức luân chuyển chứng từ chưa hợp lý. Quá trình vận dụng hệ thống
tài khoản vào hạch toán không đầy đủ, chính xác làm cho những thông tin về tài
chính bị sai lệch, không đảm bảo độ tin cậy. Việc tổ chức hệ thống sổ và ghi chép
không hợp lý có thể là nguyên nhân gây ra sự trùng lặp oặc cung cấp không kịp thời
thông tin cho quản lý. Vì vậy, việc nghiên cứu về thực trạng và giải pháp nhằm
hoàn thiện kế toán hoạt động kinh doanh xuất khẩu sản phẩm, hàng hóa trong doanh
nghiệp là một trong những vấn đề cần được quan tâm hàng đầu, nhằm đáp ứng nhu
cầu thông tin ngày càng phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh .
Xuất phát từ vai trò của kế toán hoạt động xuất khẩu đối với các doanh nghiệp
và qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về kế toán hoạt động kinh doanh xuất khẩu
sản phẩm, hàng hóa tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Chè Việt Nam tác giả
đã nhận thấy kế toán hoạt động xuất khẩu sản phẩm hàng hóa tại các đơn vị này còn
tồn tại nhiều vấn đề đòi hỏi phải có sự quan tâm nghiên cứu nhằm giúp các doanh
nghiệp có thể nắm bắt được thông tin một cách thường xuyên, chính xác và đầy đủ,
từ đó có biện pháp thúc đẩy quá trình kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
đem lại hiệu quả kinh tế . Do vậy, hiện nay hơn bao giờ hết, các doanh nghiệp này
phải giải quyết bằng được vấn đề làm thế nào để nâng cao hiệu quả xuất khẩu.
Chính vì nhận thức được tầm quan trọng của kế toán hoạt động xuất khẩu sản phẩm,

nhuận chịu thuế (được xác định dựa trên những quy định của luật thuế thu nhập
doanh nghiệp) và lợi nhuận kế toán (được xác định dựa trên các quy định của kế
toán ) có sự khác biệt, từ đó có sự chênh lệch về thuế thu nhập doanh nghiệp theo
phương pháp tính của thuế và kế toán.
Luận văn Thạc sỹ : “ Hoàn thiện kế toán lưu chuyển hàng hóa xuất khẩu tại
các doanh nghiệp thuộc liên minh hợp tác xã Việt Nam” Tác giả Lê Thị Đương –
3
2008; Người hướng dẫn khoa học : TS. Đinh Thị Mai. Luận văn đã đề cập đến một
số cơ sở lý luận về kế toán hoạt động lưu chuyển hàng hóa xuất khẩu như so sánh
các chuẩn mực kế toán quốc tế tương ứng với các chuẩn mực kế toán của Việt Nam
(trang 10-25) tuy nhiên luận văn vẫn chưa giải quyết được vấn đề lập dự phòng
giảm giá hàng tồn kho và dự phòng các khoản nợ phải trả cho các hợp đồng không
thể hủy bỏ.
Luận văn thạc sỹ: “ Hoàn thiện kế toán xuất nhập khẩu tại công ty sản xuất,
xuất nhập khẩu Tổng hợp Hà Nội ” tác giả : Đặng Thị Hồng Hà -2007, giáo viên
hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Văn Công: Luận văn đã nêu ra được một số cơ sở lý
luận về kế toán hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa (trang 5-30) tuy
nhiên luận văn vẫn chưa đề cập đến các chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) liên
quan, các vấn đề tồn tại và hạn chế của kế toán với luật thuế và theo mô hình kế
toán hoạt động xuất nhập khẩu của các nước trên thế giới
Ngoài ra tác giả cũng đã tham khảo thêm các bài viết : Kế toán dự phòng
giảm giá hàng tồn kho của TS Đoàn Vân Anh đăng trên tạp chí kiểm toán ngày
28/5/2008; Hạch toán rủi ro, thay đổi tỷ giá bằng hợp đồng tương lai của ThS Trần
Thượng Bích La đăng trên tạp chí kế toán ngày 8/7/2008; Bao thanh toán và
phương pháp hạch toán của ThS Nguyễn Trung lập đăng trên tạp chí kế toán ngày
13/6/2007;
Nhìn chung các đề tài, bài viết này cũng đã hệ thống hóa được những vấn đề
lý luận cơ bản về kế toán hoạt động kinh doanh xuất khẩu và tổ chức công tác kế
toán hoạt động kinh doanh xuất khẩu sản phẩm, hàng hóa tại các đơn vị sản xuất
kinh doanh. Nêu lên được thực trạng kế toán hoạt động xuất khẩu tại trong một số

Qua đề tài khoa học này tác giả hệ thống hóa những vấn đề lý luận về kế
toán hoạt động xuất khẩu sản phẩm, hàng hóa trong các doanh nghiệp , tác giả
muốn làm sáng tỏ hơn một số vấn đề cơ bản liên quan đến kế toán hoạt động xuất
khẩu sản phẩm, hàng hóa như tổ chức công tác kế toán xuất khẩu và thực hiện các
nghiệp vụ một cách nhanh chóng, thông suốt. Nghiên cứu, phân tích và làm rõ một
số lý luận chung về kế toán xuất khẩu làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng kế
toán hoạt động xuất khẩu sản phẩm, hàng hóa tại các doanh nghiệp thành viên thuộc
Tổng công ty Chè Việt Nam.
1.4.2 Về thực tiễn
Tác giả tập trung đánh giá, phân tích thực trạng kế toán hoạt động xuất khẩu
sản phẩm, hàng hóa trong các Doanh nghiệp thuộc Tổng công ty chè Việt Nam,
đánh giá, nhận xét và chỉ rõ từng ưu điểm, thế mạnh để từ đó đề xuất một số giải
5
pháp và điều kiện nhằm hoàn thiện hơn nữa kế toán hoạt động xuất khẩu sản phẩm,
hàng hóa trong các Doanh nghiệp thuộc Tổng công ty chè nói chung và các doanh
nghiệp sản xuất chè nói riêng.
1.5 Các câu hỏi đặt ra cho nghiên cứu
Đặc điểm của các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty chè có gì khác so với
các loại hình doanh nghiệp khác?
Đặc thù của các công ty này ảnh hưởng như thế nào đến công tác tổ chức
công tác kế toán hoạt động xuất khẩu sản phẩm, hàng hóa?
Các đơn vị nghiên cứu đã tuân thủ đầy đủ quy định của VAS10, 14 trong kế
toán hoạt động xuất khẩu sản phẩm, hàng hóa hay chưa? Còn gì bất cập cần giải
quyết?
Tổ chức công tác kế toán hoạt động xuất khẩu chưa hoàn thiện ảnh hưởng
như thế nào đến công tác tổ chức điều hành, đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
các công ty này?
Các phương hướng hoàn thiện nội dung của công tác tổ chức kế toán hoạt
động xuất khẩu sản phẩm, hàng hóa như thế nào? Yêu cầu ra sao?
1.6 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu

quản trị. Trên góc độ của kế toán tài chính, cung cấp thông tin chủ yếu cho đối
tượng bên ngoài có lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp cho doanh nghiệp. Do đó phương
pháp thu thập, xử lý thông tin đòi hỏi phải tuân thủ theo những chuẩn mực kế toán
chung được thừa nhận. Vì vậy tác giả có đi sâu nghiên cứu tìm hiểu những lý luận
khoa học về kế toán xuất khẩu sản phẩm, hàng hóa theo các chuẩn mực kế toán Việt
Nam liên quan : chuẩn mực số 02, 10, 14 . Trên góc độ kế toán quản trị, với vai trò
cung cấp thông tin hữu ích cho dự báo, tổ chức điều hành và ra quyết định của nhà
quản trị, tác giả đi sâu tìm hiểu các quan điểm về tổ chức kế toán quản trị trong các
doanh nghiệp, xác định mục tiêu của kế toán quản trị doanh thu hoạt động xuất
khẩu, kết quả kinh doanh của hoạt động xuất khẩu sản phẩm hàng hóa từ đó xác
định nội dung của tổ chức công tác kế toán quản trị hoạt động kinh doanh xuất khẩu
sản phẩm, hàng hóa trong các doanh nghiệp
Về mặt thực tiễn
Đề tài đã góp phần phản ánh đúng thực trạng kế toán hoạt động xuất khẩu tại
các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Chè Việt Nam, nêu ra những mặt mạnh, mặt
yếu từ đó kiến nghị một số giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại và hoàn thiện
hơn nữa kế toán hoạt động xuất khẩu sản phẩm, hàng hóa trong các đơn vị này.
Đồng thời tác giả hy vọng những giải pháp đó sẽ có ý nghĩa vận dụng thực tế trong
7
các đơn vị khác cùng nghành. Với đề tài nghiên cứu này, tác giả cũng mong muốn
góp phần giúp các nhà quản lý cũng như những người làm công tác kế toán trong
các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thực hiện đúng hơn về công tác kế toán hoạt
động xuất khẩu sản phẩm, hàng hóa. Qua đó giúp cho doanh nghiệp tối ưu hóa lợi
nhuận của mình trên cơ sở tuân thủ đúng và đầy đủ theo pháp luật.
1.7.2 Về phía tác giả
Với sự hướng dẫn nghiên cứu khoa học nhiệt tình của TS Lưu Đức Tuyên –
Giảng viên trường Học viện tài chính, sự cộng tác, chia sẻ kinh nghiệm của các
đồng nghiệp làm công tác kế toán tại các đơn vị nghiên cứu, tác giả đã có cơ hội
nắm bắt được những phương pháp nghiên cứu, tiếp cận vấn đề mới, học hỏi, đúc rút
được nhiều kinh nghiệm quý báu cả về lý luận và thực tiễn không những về kế toán

cũng như các luật pháp, các quy định của quốc gia, của địa phương…
Xuất khẩu là một trong những nghiệp vụ kinh tế quan trọng trong quan hệ
kinh tế đối ngoại. Cũng tương tự như nhập khẩu, xuất khẩu hàng hóa có thể thực
hiện theo những phương thức khác nhau như xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu ủy thác.
Về phương thức thanh toán, xuất khẩu hàng hóa có thể thanh toán trực tiếp bằng
ngoại tệ, thanh toán bằng hàng hóa hoặc xuất khẩu trừ nợ theo nghị định thư của
Nhà nước.
Hàng hóa xuất khẩu bao gồm ;
1. Hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam bao gồm: hàng hóa
xuất khẩu qua cửa khẩu đường bộ, đường sông, cảng biển, cảng hàng không, đường
sắt liên vận quốc tế, bưu điện quốc tế và địa điểm làm thủ tục hải quan khác được
thành lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Hàng hóa được đưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan .Khu
phi thuế quan bao gồm: khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thuế, khu bảo
thuế, kho ngoại quan, khu kinh tế thương mại đặc biệt, khu thương mại - công
9
nghiệp và các khu vực kinh tế khác được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng
Chính phủ, có quan hệ mua bán trao đổi hàng hóa giữa khu này với bên ngoài là
quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu.
3. Hàng hóa mua bán, trao đổi khác được coi là hàng hóa xuất khẩu, nhập
khẩu.
2.1.1.2 Đặc điểm hoạt động xuất khẩu sản phẩm, hàng hóa:
Ngày nay hoạt động xuất khẩu được thực hiện với hầu hết các mặt hàng. Tuy
nhiên đối với mỗi quốc gia khác nhau thì đối tượng này là khác nhau tùy thuộc vào
lợi thế so sánh của mỗi nước. Ngoài các yếu tố chính trị hay nghĩa vụ quốc tế thì
những hàng hóa nào mà giá trị thực hiện trên thị trường thế giới lớn hơn giá trị thực
hiện trên thị trường nội địa là đối tượng của hoạt động xuất khẩu .
Các điều kiện hoạt động xuất khẩu hàng hóa là phải thực hiện thông qua hợp
đồng ngoại thương được ký kết giữa các chủ thể có trụ sở chính của các bên nhất
thiết phải nằm ở các nước khác nhau trừ trường hợp một bên trong hợp đồng có trụ

Quy trình thực hiện xuất khẩu sản phẩm, hàng hóa là quy trình khép kín gồm
2 giai đoạn cơ bản: Thu mua sản phẩm, hàng hóa trong nước để xuất khẩu và tổ
chức công tác xuất bán sản phẩm, hàng hóa ra nước ngoài. Hai giai đoạn này có mối
quan hệ mật thiết với nhau, giai đoạn này là bước kế tiếp của giai đoạn kia và ngược
lại. Nếu việc mua hàng được thực hiện kịp thời, đầy đủ và đúng chủng loại đáp ứng
được yêu cầu về chất lượng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc bán hàng xuất khẩu
diễn ra nhanh chóng và mang lại hiệu quả cao. Ngược lại, kết quả của quá trình bán
hàng xuất khẩu lại là cơ sở để đưa ra quyết định thu mua loại hàng nào, số lượng
thu mua là bao nhiêu và thời điểm nào sẽ tiến hành thu mua. Do đó để xác định kết
quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu người ta chỉ xác định khi hàng hóa đó đã luân
chuyển được một vùng hay khi đã thực hiện xong một thương vụ ngoại thương.
Trước đây hoạt động xuất khẩu chỉ biểu hiện ở việc trao đổi buôn bán giữa
các quốc gia. Nhưng ngày nay đề cập đến hoạt động thương mại quốc tế lại là hoạt
động rất đa dạng, nó diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - văn hóa – xã
hội và phát triển trên diện rộng cả về không gian lẫn thời gian ( giữa hai hay nhiều
quốc gia khác nhau, trong một vài ngày hay kéo dài nhiều năm, thành viên trong
hợp đồng thương mại quốc tế không chỉ có hai bên mà có thể có nhiều bên cùng
tham gia…)
Hoạt động xuất khẩu hàng hóa không chỉ chịu sự điều chỉnh của các quy
định pháp lý trong nước mà còn phụ thuộc vào các quy tắc và thông lệ quốc tế như
các quy trình của một phương thức giao dịch, trị giá hàng hóa xuất khẩu thường
11
được căn cứ vào giá của mặt hàng đó ở sở giao dịch, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên
được xác định, quy định cụ thể trong từng điều kiện cơ sở giao hàng incoterm 2000(
quy định chung do phòng thương mại quốc tế ICC ban hành và xuất bản)
Tất cả các đặc điểm trên đã tạo ra những nét đặc thù và sự phức tạp trong
quản lý cũng như trong kế toán nghiệp vụ kinh doanh xuất khẩu.
2.1.1.3 Phạm vi xác định hàng xuất khẩu:
Bản chất xuất khẩu hàng hóa là việc mua bán, vận chuyển hàng hóa từ nước
này sang nước khác nên phạm vi xác định hàng xuất khẩu tuân theo các quy định và

* Đối với doanh nghiệp tham gia xuất khẩu:
Lợi thế mà quốc gia có được nhờ xuất khẩu là rõ ràng và động lực khiến cho
các doanh nghiệp xuất khẩu gồm có:
- Sử dụng khả năng dư thừa khi cung cấp quá nhiều cho thị trượng nội địa để
tì kiếm lợi ích từ thị trường nước ngoài
- Giảm chi phí khi mỗi lần sản lượng của nó được tăng lên
- Lợi ích nhiều hơn khi doanh nghiệp có thể cùng lúc cung cấp sản phẩm và
kinh doanh cả trong và ngoài nước
- Phân tán rủi ro bằng cách mở rộng thị trường ra nước ngoài, nhà sản xuất
có thể tối thiểu hóa các biến động về nhu cầu do chu kỳ kinh doanh thay đổi từ
nước này qua nước khác và vì các sản phẩm nằm ở các chu kỳ sống của chúng ở các
nước khác nhau
2.1.2 Các hình thức và phương thức kinh doanh xuất khẩu sản phẩm, hàng
hóa
2.1.2.1 Hình thức kinh doanh xuất khẩu sản phẩm, hàng hóa:
* Hình thức xuất khẩu trực tiếp: Là hoạt động xuất khẩu của một doanh
nghiệp có giấy phép xuất khẩu và có đủ điều kiện đàm phán với nước ngoài, đủ điều
kiện lưu thông hàng hóa trong nước và quốc tế. Trực tiếp tiến hành các giao dịch,
ký kết và thực hiện hợp đồng xuất khẩu với khách hàng nước ngoài, trên cơ sở tự
cân đối về tài chính, tìm kiếm bạn hàng, định đoạt giá cả, lựa chọn phương thức
thanh toán, xác định phạm vi kinh doanh trong khuôn khổ chính sách quản lý xuất
nhập khẩu của Nhà nước.
* Hình thức xuất khẩu ủy thác ( ủy thác cho đơn vị khác ): Là hình thức xuất
khẩu trong đó các doanh nghiệp ở các địa phương có nguồn hàng hóa, sản phẩm, tài
nguyên phong phú , có khả năng sản xuất gia công, thu mua hàng hóa, có giấy phép
xuất khẩu nhưng chưa đủ điều kiện đàm phán với nước ngoài hay chưa đủ điều kiện
13
lưu thông hàng hóa giữa trong nước và nước ngoài (gọi là bên giao ủy thác ) phải ủy
thác cho một doanh nghiệp xuất nhập khẩu có đủ điều kiện đàm phán, ký kết với
nước ngoài cũng như đủ điều kiện lưu thông hàng hóa (gọi là bên nhận ủy thác)

14
Trên cơ sở tự cân đối về tài chính, trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước và phải
thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước.
2.1.3 Các điều kiện thanh toán quốc tế
2.1.3.1Đơn vị tiền tệ sử dụng trong thanh toán :
Trong hoạt động ngoại thương liên quan đến ít nhất là hai loại đồng tiền khác
nhau ( đồng tiền bên nước xuất khẩu , đồng tiền bên nước nhập khẩu) và mục tiêu
tiền tệ của người xuất khẩu, người nhập khẩu cũng khác nhau. Để thanh toán tiền
hàng xuất khẩu, bên xuất khẩu và nhập khẩu có thể thỏa thuận đồng tiền thanh toán
là đồng tiền của nước người bán, hoặc đồng tiền của nước người mua hoặc đồng
tiền của nước thứ ba là một ngoại tệ mạnh có khả năng chuyển đổi như đồng Đôla
Mỹ, Yên Nhật, Bảng Anh, Frăng Pháp. Thông thường, đơn vị tiền tệ để thực hiện
quan hệ thanh toán trong xuất khẩu là đồng USD ($ - đôla Mỹ)
2.1.3.2 Đồng tiền thanh toán và đồng tiền tính toán
Đồng tiền tính toán : (Account curency) là đồng tiền dùng để biểu hiện giá cả và
xác định trị giá hợp đồng mua bán, thường dùng đồng tiền nào tương đối ổn định
nhất để làm đồng tiền tính toán, nhằm đảm bảo vững chắc giá trị hợp đồng.
Đồng tiền thanh toán : (Paying curency) là đồng tiền dùng để chi trả hợp đồng hay
thanh toán nợ nần giữa hai bên. Đồng tiền thanh toán có thể là đồng tiền của nước
xuất khẩu, nước nhập khẩu hoặc của nước thứ 3 thường là loại ngoại tệ mạnh hay it
ra là bằng đồng tiền tự do chuyển đổi
Vì mục tiêu của hai bên mua và bán thường không giống nhau nên hai bên cần thỏa
thuận thống nhất lựa chọn đồng tiền tính toán và đồng tiền thanh toán. Việc chọn
lựa này phụ thuộc vào : So sánh ưu thế của 2 bên; Vai trò và vị trí của đồng tiền
được chọn lựa trên thị trường quốc tế ; tập quán sử dụng đồng tiền trong thanh toán
quốc tế ; các thỏa thuận trong các liên minh kinh tế hay thương mại.
2.1.3.3 Điều kiện đảm bảo hối đoái
Ngày nay trên thế giới thường xuyên khủng hoảng tiền tệ và tài chính quốc tế, đồng
tiền của các nước kể cả USD, Yên Nhật, Euro, đồng bảng Anh cũng thường xuyên
biến động. Chính sự biến động này có thể gây tổn thất cho nhà xuất khẩu hoặc nhà

2.1.3.6 Điều kiện phương thức thanh toán
Phương thức thanh toán là cách thức để người bán thu tiền về và người mua thực
hiện chi trả, trong thương mại quốc tế có nhiều cách khác nhau để thực hiện việc
thanh toán do đó việc quy định điều kiện , phương thức thanh toán rất quan trọng.
Thông thường hai bên mua bán có thể lựa chọn và thỏa thuận thanh toán bằng một
16
trong các phương thức sau đây : Phương thức chuyển tiền, phương thức nhờ thu,
2.1.4 Các phương thức thanh toán quốc tế
Phương thức thanh toán là toàn bộ quá trình, cách thức nhận trả tiền hàng
trong giao dịch mua bán. Có nhiều phương thức thanh toán khác nhau được áp
dụng, mỗi phương thức đều có ưu điểm và nhược điểm, thể hiện thành mâu thuẫn
quyền lợi giữa người mua và người bán hay giữa người nhập khẩu và người xuất
khẩu. Thanh toán tiền hàng là quyền và nghĩa vụ của cả hai bên mua bán. Thanh
toán tiền hàng có ảnh hưởng trực tiếp tới vòng quay vốn của cả hai bên. Phương
thức thanh toán là một nội dung trọng yếu nhất của nghiệp vụ thanh toán quốc tế.
Nó chỉ rõ việc người bán dùng cách nào để thu tiền về và người mua trả tiền bằng
hình thức nào. Vì vậy, khi ký kết hợp đồng đòi hỏi hai bên mua bán tùy thuộc vào
từng điều kiện cụ thể và mức độ tin cậy lẫn nhau để lựa chọn phương thức thanh
toán thích hợp. Các phương thức thanh toán quốc tế dùng trong hoạt động ngoại
thương được chia thành hai nhóm:
2.1.4.1 Nhóm các phương thức thanh toán không kèm chứng từ:
- Phương thức chuyển tiền
- Phương thức ghi sổ
- Phương thức thư đảm bảo trả tiền
- Phương thức nhờ thu phiếu trơn
2.1.4.2Nhóm phương thức thanh toán có kèm chứng từ:
- Phương thức nhờ thu kèm chứng từ
- Phương thức tín dụng chứng từ
- Phương thức ủy thác thu mua
- Phương thức thanh toán qua tài khoản treo ở nước ngoài

Trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu thường sử dụng các phương tiện thanh
toán quốc tế sau:
2.1.5.1 Hối phiếu (Bill of exchange): Là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do
một người ký phát cho một người khác, yêu cầu người này khi nhìn thấy hối phiếu
hoặc đến một ngày cụ thể nhất định, hoặc đến một ngày có thể xác định trong tương
lai phải trả một số tiền nhất định trong tương lai phải trả một số tiền nhất định cho
một người nào đó, hoặc theo lệnh của người này trả cho người khác, hoặc trả cho
người cầm hối phiếu
2.1.5.2 Lệnh phiếu (promissory notes) Lệnh phiếu là một chứng khoán trong đó một
người gọi là người ký phát cam kết sẽ trả một số tiền nhất định vào một ngày nhất
18

Trích đoạn Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu thực trạng kế toán hoạt động xuất khẩu sản phẩm, hàng hóa tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty chè Những hạn chế: Định hướng xuất khẩu Chè của Tổng công ty chè Việt Nam Yêu cầu của việc hoàn thiện kế toán xuất khẩu chè tại các công ty Thành viên thuộc Tổng công ty chè Việt nam Theo góc độ kế toán tài chính
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status