BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LÊ TRỌNG LỢI
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
SẢN XUẤT TẠI CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC TỔNG
CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 4 LUẬN VĂN THẠC SỸ
Nha Trang - năm 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
trình nghiên cứu của bản thân tôi và chưa được công bố trên bất kỳ phương tiện thông
tin nào. Mọi sự giúp đỡ để hoàn thành đề tài nghiên cứu này đã được cảm ơn đầy đủ, các
thông tin trích dẫn trong đề tài nghiên cứu này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả đề tài Lê Trọng Lợi
ii
LỜI CẢM ƠNVới tất cả sự chân thành, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đến TS. Phan Thị Dung cô
giáo hướng dẫn khoa học đã dành thời gian và tâm huyết hướng dẫn tôi hoàn thành
luận văn này một cách tốt nhất.
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tôi đã tham khảo, học tập kinh nghiệm từ
các kết quả nghiên cứu liên quan, các báo cáo chuyên ngành của nhiều tác giả ở các
trường Đại học, các tổ chức nghiên cứu…
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Kinh tế, Khoa đào tạo sau Đại
học Trường Đại học Nha Trang, cùng toàn thể các thầy cô giáo đã tận tình truyền đạt
những kiến thức quý báu, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu. Đặc biệt
là sự hợp tác giúp đỡ, tạo điều kiện về vật chất và tinh thần của Ban giám hiệu trường
Cao đẳng nghề Du lịch – Thương mại Nghệ An, sự giúp đỡ và động viên từ phía gia
đình, bạn bè và các đồng nghiệp nơi tôi đang công tác.
Tuy đã có nhiều cố gắng và nghiêm túc trong quá trình nghiên cứu, nhưng chắc
chắn luận văn vẫn còn nhiều thiếu sót và hạn chế. Tôi kính mong Quý thầy cô, các
chuyên gia, bạn bè đồng nghiệp và tất cả những ai quan tâm đến đề tài tiếp tục góp ý,
giúp đỡ để luận văn ngày càng được hoàn thiện hơn.
Bảng 2.1: Tổng hợp giá trúng thầu sau thuế – quốc lộ 8A Hà Tĩnh 54
Bảng 2.2 . Biểu chi tiết giá dự thầu công trình Quốc lộ quốc lộ 8A Hà Tĩnh
55
Biểu 3.1 Phiếu đề nghị cấp nhiên liệu 68
Biểu 3.2 Phiếu báo nhiên liệu còn lại trong xe/máy 70
Biểu 3.3 Bảng tổng hợp nhiên liệu còn lại trong xe máy tại công trình 71
Biểu 3.4: Bảng tổng hợp chi phí theo ứng xử của chi phí 72
Biểu 3.5: Tổng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo công trình 74
Biểu 3.6: Tæng hîp chi phÝ nh©n c«ng trùc tiÕp theo c«ng tr×nh 75
Biểu 3.7: Tæng hîp chi phÝ m¸y thi c«ng theo c«ng tr×nh 76
Biểu 3.8: Tæng hîp chi phÝ s¶n xuÊt chung theo c«ng tr×nh 78
v
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu của Tổng Công ty
40
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán Tổng công ty xây dựng công trình giao
1.2. NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT XÂY LẮP 9
1.2.1 Phân loại chi phí sản xuất, giá thành trong tổ chức kế toán quản trị chi phí
sản xuất , giá thành sản phẩm xây lắp 9
1.2.1.1 Chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp 9
1.2.1.2 Phân loại chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp 10
1.2.1.3 Giá thành sản phẩm xây lắp 16
1.2.1.4.Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp 17
1.2.2. Xây dựng định mức chi phí và lập dự toán chi phí sản xuất 18
1.2.2.1 Xây dựng định mức chi phí sản xuất. 18
1.2.2.2 Lập dự toán chi phí sản xuất 20
1.2.3 Kế toán quản trị chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp 23
1.2.3.1 Tổ chức hạch toán ban đầu: 23
1.2.3.2 Tổ chức vận dụng các tài khoản kế toán. 25
1.2.3.3 Tổ chức hệ thống sổ kế toán quản trị. 26
1.2.3.4 Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành . 27
vii
1.2.3.5 Phân tích mối quan hệ doanh thu – chi phí – lợi nhuận trong các doanh
nghiệp xây lắp 28
1.3 MÔ HÌNH KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT SẢN PHẨM
XÂY LẮP. 29
1.4 MỘT SỐ MÔ HÌNH KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ Ở CÁC NƯỚC TRÊN
THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM. 32
1.4.1 Mô hình kết hợp giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị 32
1.4.2 Mô hình tổ chức kế toán tài chính độc lập với kế toán quản trị (kế toán
tĩnh - áp dụng tại Pháp) 33
1.4.3 Những bài học cho Việt Nam trong xây dựng và vận dụng mô hình kế toán
quản trị chi phí sản xuất 35
Chương 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI
CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG
xây lắp 60
2.2.4.3 Tổ chức hệ thống sổ kế toán chi tiết chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp. 62
2.2.4.4 Tổ chức lập báo cáo kế toán 62
2.2.4.5 Kiểm soát thực hiện dự toán và phân thích thông tin phục vụ ra quyết
định kinh doanh. 62
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG
TRÌNH GIAO THÔNG 4. 63
2.3.1 Kết quả đã đạt được 63
2.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân chủ yếu 64
Chương 3: HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TÓAN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN
XUẤT TẠI CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC TỔNG CÔNG TY XÂY
DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 4.
67
3.1 Một số giải pháp hoàn thiện 67
3.1.1. Về chứng từ kế toán 67
3.1.2. Về hạch toán chi phí vào các khoản mục chi phí 69
3.1.3. Về phân loại và phân bổ chi phí 72
3.1.4. Về xác định chi phí dở dang và tính giá thành sản phẩm 73
3.1.5. Về xây dựng hệ thống định mức 79
3.1.6. Về báo cáo nội bộ 79
KẾT LUẬN
80
TÀI LIỆU THAM KHẢO
81
PHỤ LỤC
a
1
PHẦN MỞ ĐẦU
2
có tính thực tiễn cao trong tình hình hiện nay và đó là lý do tôi chọn đề tài nghiên cứu
là “ Hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất tại các doanh nghiệp
thuộc Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4 “
2.Tổng quan các nghiên cứu liên quan:
Tham khảo một số tài liệu liên quan đến công tác kế toán quản trị chi phí sản
xuất tại các doanh nghiệp xây lắp như: Xây dựng kế toán quản trị trên webketoan, đề
tài Hoàn thiện mô hình kế toán quản trị chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp tại các
doanh nghiệp xây lắp của Nguyễn Thị Thu Thủy – Khối kế toán trường Học Viện Tài
Chính
3. Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán quản trị chi phí sản xuất
trong các doanh nghiệp xây lắp.
Đánh giá thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất tại các doanh
nghiệp thuộc Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4.
Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí sản
xuất tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là kế toán quản trị chi phí sản xuất của các doanh
nghiệp thuộc Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4 từ năm 2009-2011
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin
- Nguồn thông tin sơ cấp: Phỏng vấn các chuyên gia, và các doanh nghiệp
thuộc Tổng Công Ty Xây Dựng Cổng Trình Giao Thông 4
- Nguồn thông tin thứ cấp: Được lấy từ phòng kế toán. Các đội sản xuất, các
công trình của các doanh nghiệp thuộc Công Ty Xây Dựng Cổng Trình Giao
Thông 4
Phương pháp nghiên cứu
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT
TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.1. QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ VAI TRÒ CỦA KẾ TOÁN QUẢN
TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP.
1.1.1 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh xây lắp và ảnh hưởng của nó đến
tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp.
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất có vị trí hết sức quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân. Xây dựng cơ bản là quá trình xây dựng mới, xây dựng lại, cải tạo,
hiện đại hoá, khôi phục các công trình nhà máy, xí nghiệp, đường xá cầu cống, nhà
cửa…nhằm phục vụ cho sản xuất và đời sống của xã hội. Chi phí cho đầu tư xây dựng
cơ bản chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng ngân sách nhà nước cũng như ngân sách của
doanh nghiệp.
Sản xuất xây lắp là một ngành sản xuất có tính chất công nghiệp. Tuy nhiên đây
là ngành sản xuất công nghiệp đặc biệt . Sản phẩm xây lắp cũng được tiến hành một
cách liên tục từ khâu thăm dò, điều tra khảo sát đến thiết kế thi công và quyết toán
công trình khi hoàn thành. Sản xuất xây lắp có tính dây chuyền, giữa các khâu của hoạt
động sản xuất có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, nếu một khâu ngừng trệ sẽ ảnh hưởng
đến hoạt động sản xuất của các khâu khác.
Hoạt động sản xuất kinh doanh xây lắp có những đặc điểm riêng mang tính đặc
thù chi phối cách thức quản lý doanh nghiệp cũng như chi phối đến nội dung, phương
pháp và cách thức tổ chức kế toán nói chung và tổ chức kế toán quản trị chi phí sản
xuất sản phẩm nói riêng.
Hoạt động sản xuất kinh doanh xây lắp có những đặc điểm cơ bản là:
Thứ nhất: Sản phẩm xây lắp mang tính đơn chiếc, riêng lẻ:
Sản phẩm sản xuất xây lắp không có sản phẩm nào giống sản phẩm nào, mỗi sản
phẩm đều có yêu cầu về mặt thiết kế mỹ thuật, kết cấu, hình thức, địa điểm xây dựng
khác nhau, riêng biệt theo từng hợp đồng giao nhận thầu xây lắp của bên giao thầu. Từ
Do thời gian thi công kéo dài nên kỳ tính giá thành không xác định hàng tháng
như trong sản xuất công nghiệp mà được xác định tuỳ thuộc vào đặc điểm kỹ thuật của
từng công trình thể hiện qua phương pháp lập dự toán và thanh toán giữa bên giao thầu
và nhận thầu. Đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm xây lắp hoàn thành đến giai
đoạn quy ước là điểm dừng kỹ thuật hợp lý. Việc xác định đúng đắn đối tượng tính giá
6
thành và kỳ tính giá thành sẽ đáp ứng yêu cầu quản lý kịp thời và chặt chẽ chi phí sản
xuất, đánh giá đúng đắn tình hình quản lý thi công của từng thời kỳ nhất định.
Thứ tư: Hoạt động xây lắp thường diễn ra ngoài trời, chịu tác động trực tiếp bởi
điều kiện môi trường, thiên nhiên và do đó việc thi công xây lắp ở mức độ nào đó
mang tính chất thời vụ. Do đặc điểm này, trong quá trình thi công cần tổ chức quản lý
lao động, vật tư chặt chẽ, đảm bảo thi công nhanh, đúng tiến độ khi điều kiện môi
trường thời tiết thuận lợi. Trong điều kiện thời tiết không thuận lợi ảnh hưởng đến chất
lượng thi công, có thể phát sinh các khối lượng công trình phải phá đi làm lại và các
thiệt hại phát sinh do ngừng sản xuất, doanh nghiệp cần có kế hoạch điều độ sao cho
phù hợp nhằm tiết kiệm chi phí hạ giá thành.
Thứ năm: Sản phẩm xây lắp thường có thời gian sử dụng lâu dài nên mọi sai lầm
trong quá trình thi công thường khó sửa chữa phải phá đi làm lại. Sai lầm trong sản
xuất xây lắp vừa gây lãng phí, vừa để lại hậu quả có khi rất nghiêm trọng, lâu dài và
khó khắc phục. Do đặc điểm này mà trong quá trình thi công cần thường xuyên kiểm
tra giám sát chất lượng công trình.
Thứ sáu: Để nhận được công trình các doanh nghiệp xây lắp phải trải qua đấu
thầu. Do đó công tác xác định giá dự toán của công trình cần phải được coi trọng để từ
đó có được mức giá bỏ thầu hợp lý, đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh doanh xây lắp
của doanh nghiệp và khả năng trúng thầu.
1.1.2 Quản trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp.
Từ những đặc điểm của hoạt động sản xuất kinh doanh xây lắp nói trên cho thấy
công tác quản lý chi phí cho từng công trình là rất khó khăn. Tuy nhiên các doanh
nghiệp xây lắp cũng cần biết các hao phí vật chất mà doanh nghiệp đã bỏ vào quá
Để đáp ứng yêu cầu quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
trong việc cung cấp thông tin cho việc ra quyết định của nhà quản lý ở các cấp phù
hợp với mục đích sử dụng thông tin, hệ thống kế toán doanh nghiệp chia làm kế toán
tài chính và kế toán quản trị.
Những điểm giống nhau của KTTC và KTQT
Về bản chất kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành không thể tách rời của hệ
thống kế toán KTTC hay KTQT đều có nhiệm vụ tổ chức hệ thống thông tin kinh kế,
tài chính trong doanh nghiệp.
KTQT và KTTC đều cung cấp thông tin kế toán. Kế toán quản trị sử dụng rộng
rãi các số liệu ghi chép của KTTC mặc dù nó vẫn được triển khai làm gia tăng thêm
các số liệu này của KTTC.
8
KTTC và KTQT đều có trách nhiệm cung cấp thông tin phục vụ quản lý doanh
nghiệp, kế toán tài chính liên quan đến quản lý trên toàn doanh nghiệp, còn kế toán
quản trị quản lý trên từng bộ phận cho đến người cuối cùng của tổ chức có trách nhiệm
với các chi phí của doanh nghiệp.
Những điểm khác nhau của KTTC và KTQT:
Những điểm khác nhau giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị chủ yếu phát
sinh từ việc chúng cung cấp thông tin phục vụ cho các đối tượng sử dụng khác nhau.
Những điểm khác nhau là:
Đối tượng sử dụng thông tin: Đối tượng sử dụng thông tin của kế toán quản trị
chủ yếu là các nhà quản trị trực tiếp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Ngược lại, đối tượng sử dụng thông tin của kế toán tài chính chủ yếu là
các bộ phận bên ngoài doanh nghiệp không trực tiếp điều hành hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
Đặc điểm của thông tin: Thông tin của kế toán quản trị chủ yếu đặt trọng tâm
trong tương lai và kế toán quản trị quan tâm nhiều đến tính linh hoạt, thích hợp và tốc
độ của thông tin hơn là độ chính xác tuyệt đối.
Tính pháp lệnh: Báo cáo của kế toán tài chính có tính pháp lệnh cao. Sổ sách báo
có một văn bản pháp lý nào về chế độ, thể lệ kế toán ghi nhận có một loại kế toán cần
thiết cho quản trị doanh nghiệp là kế toán quản trị. Mặc dù thông tin kế toán quản trị
cung cấp xuất phát từ yêu cầu quản lý của nhà quản trị doanh nghiệp và việc ghi chép
kế toán quản trị có tính độc lập và không hoàn toàn tuân thủ theo nguyên tắc, chuẩn
mực, văn bản quy định của Nhà nước về kế toán, song cần thiết phải có tài liệu hướng
dẫn tổ chức kế toán quản trị cho các doanh nghiệp.
Về mặt thực tiễn: Cùng với nhận thức chưa đầy đủ về kế toán quản trị nên trên thực
tế các nhà quản trị chưa thấy rõ tác dụng to lớn của những thông tin phục vụ ra quyết định
để điều hành, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh một cách kịp thời hiệu quả mà
những thông tin đó không chỉ là thông tin chỉ được trình bày trên báo cáo tài chính.
1.2. NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT XÂY LẮP.
1.2.1 Phân loại chi phí sản xuất, giá thành trong tổ chức kế toán quản trị chi phí
sản xuất , giá thành sản phẩm xây lắp
1.2.1.1 Chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 1 (IAS1), chi phí là các yếu tố làm giảm lợi
ích kinh tế của doanh nghiệp trong kỳ, dưới hình thức các khoản tiền chi ra hoặc giảm
tài sản, hoặc làm phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm nguồn vốn chủ sở hữu
nhưng không liên quan đến các khoản rút vốn. Ngoài các chi phí phát sinh trong hoạt
10
động kinh doanh thông thường, theo chuẩn mực kế toán quốc tế, các khoản lỗ và thiệt
hại từ các hoạt động khác cũng được tính vào chi phí của doanh nghiệp.
Kế toán tài chính trong doanh nghiệp xây lắp cho rằng chi phí là biểu hiện bằng
tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ
ra để tiến hành sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định. Như vậy theo quan
điểm này thì chi phí của doanh nghiệp phải được ghi nhận theo nguyên tắc phù hợp
giữa chi phí và thu nhập, chỉ được xác định trên toàn doanh nghiệp và gắn với kỳ hạch
toán.
Khác với kế toán tài chính, kế toán quản trị có quan điểm riêng về chi phí sản
xuất của doanh nghiệp đó là: chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là toàn bộ số tiền doanh nghiệp phải trả về các loại
dịch vụ mua ngoài sử dụng vào quá trình sản xuất xây lắp của doanh nghiệp.
- Chi phí khác bằng tiền: Là toàn bộ các khoản chi phí phát sinh trong quá trình
sản xuất xây lắp ở doanh nghiệp ngoài các yếu tố trên và được thanh toán bằng tiền.
Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí cho biết
trong một kỳ doanh nghiệp đã chi ra bao nhiêu, cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng loại
chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra, là căn cứ số liệu cung cấp để lập thuyết minh báo
cáo tài chính, cung cấp thông tin cho quản trị doanh nghiệp, phục vụ cho việc phân
tích tình hình thực hiện dự toán chi phí.
* Theo mục đích và công dụng:
Theo cách phân loại này, các khoản chi phí có mục đích công dụng giống nhau
được xếp chung vào cùng một khoản chi phí không cần xét đến chi phí đó có nội dung
kinh tế như thế nào. Chi phí sản xuất xây lắp được phân chia thành các khoản mục sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là chi phí về các loại vật liệu chính, vật liệu
phụ, vật kết cấu, vật liệu luân chuyển (ván khuôn, giàn giáo) cần thiết sử dụng trực
tiếp vào việc sản xuất chế tạo sản phẩm.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Là chi phí về tiền lương, tiền công, các khoản phụ
cấp có tính chất thường xuyên (phụ cấp lưu động, phụ cấp trách nhiệm) của công nhân
trực tiếp sản xuất xây lắp.
- Chi phí sử dụng máy thi công: Là toàn bộ chi phí sử dụng xe, máy thi công
phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất xây lắp công trình bao gồm: chi phí khấu hao
máy thi công, chi phí sửa chữa thường xuyên máy thi công, chi phí tiền lương của
công nhân điều khiển máy và phục vụ máy thi công, chi phí nhiên liệu và động lực
dùng cho máy thi công và các chi phí khác như chi phí di chuyển, tháo lắp máy thi
công…
12
- Chi phí sản xuất chung: Là các khoản chi phí trực tiếp khác ngoài các khoản chi
phí trên phát sinh ở tổ, đội, công trường xây dựng bao gồm: lương nhân viên quản lý
đội, các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của công nhân trực
- Biến phí (Chi phí biến đổi): Là những chi phí mà tổng số thay đổi tỷ lệ với sự
thay đổi của mức độ hoạt động. Do vậy, xét về mặt lý thuyết, sự biến động của chi phí
trong mối quan hệ với khối lượng hoạt động có thể xẩy ra các trường hợp:
+ Tổng biến phí thay đổi tỷ lệ thuận trực tiếp với khối lượng hoạt động thực hiện,
còn biến phí tính cho một đơn vị khối lượng hoạt động thì không thay đổi. Biến phí
trong trường hợp này được gọi là biến phí tỷ lệ.
+ Tổng biến phí tăng nhanh hơn tốc độ tăng khối lượng hoạt động, vì vậy biến
phí trung bình của một đơn vị khối lượng cũng tăng lên. Trường hợp này xẩy ra khi
cường độ lao động vượt quá mức bình thường, hiệu lực của các yếu tố sản xuất giảm
đi hoặc có sự tăng thêm khối lượng sản phẩm, đòi hỏi phải tăng cường nhiều hơn các
chi phí sản xuất.
+ Tổng biến phí tăng chậm hơn khối lượng hoạt động, vì vậy biến phí trung bình
của một đơn vị khối lượng hoạt động giảm xuống. Trường hợp này xẩy ra khi tăng
khối lượng hoạt động đã tạo điều kiện để sử dụng tốt hơn các yếu tố của quá trình sản
xuất.
Trong xây lắp, biến phí bao gồm: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân
công trực tiếp, chi phí máy thi công. Một đặc điểm của ngành xây lắp là trong định
mức do nhà nước quy định, chi phí sản xuất chung được tính theo tỷ lệ nhất định so
với chi phí trực tiếp. Vì vậy, một bộ phận của chi phí sản xuất chung cũng được coi là
biến phí bao gồm: chi phí vật liệu phụ, lao động gián tiếp, chi phí nhiên liệu.
- Định phí (Chi phí cố định hay chi phí bất biến): Là những chi phí mà tổng số
không thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi còn chi phí tính cho một khối lượng
hoạt động thì thay đổi. Trong định phí lại có thể phân thành: định phí tuyệt đối, định
phí tương đối, định phí bắt buộc và định phí không bắt buộc.
Trong quản trị doanh nghiệp cần phân biệt các loại định phí sau:
+ Định phí tuyệt đối: Là các chi phí mà tổng số không thay đổi khi có sự thay đổi
của khối lượng hoạt động, do đó nếu khối lượng hoạt động thay đổi theo chiều tăng lên
thì định phí trung bình đơn vị khối lượng hoạt động sẽ giảm đi và ngược lại. Ví dụ
như: chi phí thuê đất và nhà xưởng làm lán trại thi công, chi phí khấu hao máy móc
thiết bị tại công trường theo phương pháp đường thẳng, tiền lương cố định (trả theo
chi phí điện thoại, chi phí tiền lương khoán cho Ban điều hành… Vì vậy, chi phí hỗn
hợp mang đặc tính của cả hai loại định phí và biến phí nên khi lập dự toán chi phí thì
cần tách chi phí hỗn hợp thành hai bộ phận riêng biệt định phí và biến phí bằng cách
sử dụng phương pháp phân tích chi phí như phương pháp cực đại, cực tiểu, phương
pháp bình phương bé nhất.
15
Việc phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí có ý nghĩa vô cùng quan
trọng, nó giúp cho các nhà quản trị có thể hoạch định kế hoạch, kiểm tra tình hình thực
hiện kế hoạch và ra các quyết định cần thiết. Cách phân loại này giúp cho các nhà
quản trị có thể nhìn nhận và khai thác hết khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp mình.
Bên cạnh đó việc phân biệt chi phí của doanh nghiệp ra thành biến phí và định phí còn
giúp các nhà quản trị xác định đúng đắn phương hướng để nâng cao hiệu quả của chi
phí.
+ Đối với biến phí: Phương pháp chính là tiết kiệm tổng biến phí và biến phí đơn vị.
+ Đối với định phí: Cần phấn đấu nâng cao hiệu lực của định phí trong quá trình
sản xuất kinh doanh.
* Phân loại chi phí theo thẩm quyền ra quyết định.
Căn cứ vào thẩm quyền các cấp ra quyết định chi phối đến chi phí, chi phí sản
xuất được chia thành chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được.
- Chi phí kiểm soát được ở một cấp quản lý nào đó là chi phí mà cấp đó có thẩm
quyền ra quyết định.
- Chi phí không kiểm soát được ở một cấp quản lý nào đó là chi phí mà cấp đó
không có thẩm quyền chi phối ra quyết định.
Việc phân biệt chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được có ý
nghĩa quan trọng đối với việc lập báo cáo kết quả bộ phận. Về nguyên tắc khi xác định
kết quả của từng bộ phận cá biệt trong doanh nghiệp chỉ tính đến các chi phí bộ phận
đó kiểm soát được.
* Theo yêu cầu của việc lựa chọn các phương án sản xuất kinh doanh:
Theo cách phân loại này, chi phí được phân ra thành: