nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại sở giao dịch ngân hàng tmcp ngoại thương việt nam - Pdf 23

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu sử dụng trong chuyên đề là trung thực, có nguồn trích dẫn rõ ràng. Nếu
sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 14 tháng 05 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Hoàng Thị Thanh Vân
Hoàng Thị Thanh Vân Lớp:VBII -8A2
Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 3
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ 3
RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1. Ngân hàng thương mại và hoạt động tín dụng của NHTM 3
1.1.1. Khái ni m ngân h ng th ng m iệ à ươ ạ 3
1.1.2. Ho t ng tín d ng c a NHTMạ độ ụ ủ 4
1.2. Tổng quan về rủi ro trong NHTM 5
1.2.1. Khái ni m v r i roệ ề ủ 5
1.2.2. Nguyên nhân r i roủ 6
1.2.3. Các lo i r i roạ ủ 7
1.3. Rủi ro tín dụng của NHTM 9
1.3.1. Khái ni m v b n ch t c a r i ro tín d ngệ à ả ấ ủ ủ ụ 9
1.3.2. Nguyên nhân c a r i ro tín d ngủ ủ ụ 10
1.3.3. Ch tiêu ph n ánh r i ro tín d ngỉ ả ủ ụ 11
1.4. Quản lý rủi ro tín dụng trong NHTM 11
1.4.1. Khái ni m qu n lý r i ro tín d ngệ ả ủ ụ 11
1.4.2. Các ph ng pháp qu n lý r i ro tín d ngươ ả ủ ụ 12
CHƯƠNG 2 19

3.3.1. Ki n ngh i v i NHNT VCBế ị đố ớ 44
3.3.2. Ki n ngh i v i ngân h ng nh n cế ị đố ớ à à ướ 44
3.3.3. Ki n ngh i v i chính phế ị đố ớ ủ 45
KẾT LUẬN 46
Hoàng Thị Thanh Vân Lớp:VBII -8A2
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
B ng 2.1: S c c u t ch c các phòng ban trong SGDả ơđồ ơ ấ ổ ứ 21
B ng 2.2 : Ngu n v n huy ng c a SGD n m 2007ả ồ ố độ ủ ă 24
B ng 2.3: D n tín d ng các n m 2005-2007ả ư ợ ụ ă 25
B ng 2.4 : K t qu kinh doanh các n m 2005-2007ả ế ả ă 26
B ng 2.5 : T l n khó òi các n m 2005-2007ả ỷ ệ ợ đ ă 30
B ng 2.6: Các ch tiêu phân tích t i chính c b nả ỉ à ơ ả 34
B ng 2.7: Tóm t t k t qu x p h ng tín d ng doanh nghi pả ắ ế ả ế ạ ụ ệ 35
B ng 2.8: D n tín d ng c a SGD n m 2007ả ư ợ ụ ủ ă 38
Hoàng Thị Thanh Vân Lớp:VBII -8A2
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC KÝ TỰ VIẾT TẮT
ĐTDA – Đầu tư dự án
GHTD – Giới hạn tín dụng
NHNN – Ngân hàng nhà nước
NHTMCP NT VN – Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam
NHTM – Ngân hàng thương mại
QHKH – Quan hệ khách hàng
QLN – Quản lý nợ
QLRR – Quản lý rủi ro
SGD NHNT – Sở giao dịch ngân hàng ngoại thương Việt Nam
TCTD – Tổ chức tín dụng
VCSH – Vốn chủ sở hữu

1
Chuyên đề tốt nghiệp
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống lại những vấn đề có tính lý luận về rủi ro tín dụng để khẳng
định rủi ro tín dụng là một tất yếu song vẫn có thể phòng ngừa và hạn chế
được để đảm bảo an toàn và khả năng sinh lời của ngân hàng.
- Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng tại Sở giao dịch ngân hàng
TMCP Ngoại Thương Việt Nam, tìm ra hạn chế,tồn tại để từ đó tìm ra biện
pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng.Từ đó đưa ra biện
pháp,kiến nghị nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng cho SGD Ngân
Hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank).
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
+ Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại SGD Vietcombank
+Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại SGD
Vietcombank
4. Phương pháp nghiên cứu
- Chuyên đề sử dụng các biện pháp duy vật biện chứng, suy luận logic
kết hợp với phương pháp duy vật lịch sử. Sử dụng số liệu thực tế để luận
chứng thông qua các phương pháp so sánh, thống kê, đồ thị…
5. Kết cấu của chuyên đề
Kết cấu chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1 - Quản lý rủi ro tín dụng của NHTM
Chương 2 - Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại SGD NHTMCP NT VN
Chương 3 - Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại SGD
NHTMCP NT VN
Hoàng Thị Thanh Vân Lớp:VBII- 8A2
2
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 1

nhiều khía cạnh, thứ nhất ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế,
ngân hàng là cầu nối của doanh nghiệp và những nhà đầu tư, thông qua hoạt
động tín dụng thu hút vốn và cung cấp vốn, đồng thời thông qua các hoạt
động thanh toán, kinh doanh ngoại hối, các ngân hàng thương mại điều tiết tài
chính trong nước theo sự vận động của nền tài chính quốc tế, thúc đẩy ngoại
thương và nội thương, giúp đẩy mạnh phát triển kinh tế. Hệ thống các ngân
hàng thương mại còn là một kênh quan trọng giúp Nhà nước điều tiết vĩ mô
nền kinh tế bằng các nghiệp vụ thị trường mở.
1.1.2. Hoạt động tín dụng của NHTM
Tín dụng theo một định nghĩa đơn giản nhất là sự vay mượn lẫn nhau
dựa trên nguyên tắc hoàn trả và sự tín nhiệm. Tín dụng bao gồm 6 loại hình
quan hệ: tín dụng thương mại, tín dụng nhà nước, tín dụng ngân hàng, tín
dụng thuê mua, tín dụng tiêu dùng, tín dụng quốc tế.
Tín dụng là nghiệp vụ quan trọng bậc nhất trong các hoạt động của
ngân hàng. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại là việc NHTM sử
dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng cho các tổ chức
cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ
có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính, và các hình thức khác theo quy
định của ngân hàng nhà nước, dựa trên một số nguyên tắc nhất định nhằm
đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời.
Các nguyên tắc tín dụng của NHTM
- Khách hàng phải cam kết sẽ hoàn trả vốn gốc và lãi vay trong thời
gian xác định đúng theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Nguồn vốn của
ngân hàng chủ yếu là từ các khoản tiền gửi và các khoản vay mượn của ngân
hàng, nên người nhận tín dụng cũng phải thực hiện đúng theo cam kết, đây là
điều kiện tiên quyết để ngân hàng tồn tại và hoạt động kinh doanh.
- Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo đúng mục đích đã
Hoàng Thị Thanh Vân Lớp:VBII- 8A2
4
Chuyên đề tốt nghiệp

Chuyên đề tốt nghiệp
Rủi ro luôn song hành cùng hoạt động của ngân hàng. Bản chất của rủi
ro là khách quan, không thể tránh khỏi.Chúng ta không thể loại trừ hoàn toàn
rủi ro mà chỉ có thể hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất có thể được.
1.2.2. Nguyên nhân rủi ro
1.2.2.1. Do khách hàng
Khách hàng có thể vì nhiều lý do chủ quan và khách quan mà gây ra rủi
ro cho ngân hàng. Những rủi ro chủ quan có thể được ngân hàng dự báo trước
hay nhận thấy trong khi thẩm định tín dụng, song những rủi ro khách quan
thường không thể dự trù, do vậy mỗi ngân hàng đều có một bộ phận dự phòng
rủi ro. Những rủi ro khách quan như khách hàng gửi tiền vì lý do cá nhân có
thể rút tiền trước hạn, gây rủi ro trong hoạt động nhận tiền gửi, khách hàng
gặp rủi ro bất trắc không thể trả nợ đúng hạn. Những rủi ro chủ quan do khách
hàng như trình độ kinh doanh kém, nên thua lỗ không thể trả nợ gốc và lãi,
hay khách hàng có mục đích lừa đảo từ đầu, chây ỳ không trả nợ, khách hàng
do chạy theo ngành kinh doanh lợi nhuận cao nên chịu rủi ro cuối cùng không
thể trả nợ… Những rủi ro này đều có thể dự đoán nếu công tác thẩm định tín
dụng làm tốt đạt chất lượng, công tác quản lý tín dụng sâu sát theo đúng yêu
cầu đề ra.
1.2.2.2. Do ngân hàng
Ngân hàng cũng thường tự gây ra rủi ro, phần nhiều là do nguyên nhân
chủ quan. Đó là sự kém cỏi trong công tác quản lý, kiểm tra giám sát các hoạt
động của ngân hàng, cùng với đó là do nhân viên kém trình độ nghiệp vụ,
hoặc không tuân thủ quy trình nghiệp vụ, những nhân viên này vì mưu lợi cá
nhân nên móc ngoặc với khách hàng, ví dụ như giúp khách hàng đảo nợ, để
khách hàng có thể trả món vay cũ, vay món mới, còn mình thì đạt khối lượng
mục tiêu đề ra.
1.2.2.3. Những nguyên nhân khách quan khác
Hoàng Thị Thanh Vân Lớp:VBII- 8A2
6

Chuyên đề tốt nghiệp
+ Rủi ro trong quản lý và kinh doanh ngân quỹ
Ngân hàng có thể gặp rủi ro thậm chí khi tiền ở tại quỹ. Trên thế giới
những vụ cướp ngân hàng không phải hiếm, ở VN vừa xảy ra 1 vụ tại tp
HCM. Song quản lý ở đây không chỉ hiểu theo nghĩa đen. Tiền tại quỹ của
ngân hàng không bao giờ cố định, nó luôn vận động để sinh lợi trong ngắn
hạn, một mặt vẫn đảm bảo khả năng thanh khoản của ngân hàng, như nghiệp
vụ cho vay qua đêm… Song những nghiệp vụ này không phải không bao hàm
rủi ro. Đơn cử một ví dụ dễ thấy, đó là kinh doanh ngoại tệ, sử dụng khe hở tỷ
giá để thu lợi nhuận Acbit, một nghiệp vụ rất rủi ro.
+ Rủi ro tín dụng : sẽ trình bày chi tiết ở phần sau.
+ Rủi ro trong quản lý và kinh doanh chứng khoán
Chứng khoán là một lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro rất lớn. Tuy ngân hàng chủ
yếu chỉ kinh doanh những chứng khoán ít rủi ro như trái phiếu và tín phiếu
song không phải không chịu rủi ro từ đây, điển hình là cho vay đầu tư chứng
khoán và cầm cố bằng cổ phiếu
+ Rủi ro đối với các tài sản khác của ngân hàng: ngân hàng còn có những
tài sản khác như tài sản cố định, tài sản đi thuê, tài sản cầm cố, …
1.2.3.3. Một số rủi ro thường gặp
+ Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng được chấp nhận như một thực tế mà ngân hàng phải đối
mặt, bởi rủi ro tín dụng đến từ mọi phía và ta không thể lường trước hết. Do
vậy, ngân hàng luôn xác định tỷ lệ tổn thất dự kiến và trích lập quỹ dự phòng
rủi ro, và nếu thực tế đạt dưới mức này thì có nghĩa ngân hàng đã làm tốt
công tác quản trị rủi ro tín dụng.
+ Rủi ro hối đoái
Tỷ giá luôn luôn thay đổi hàng ngày hàng giờ do nhiều nguyên nhân, bởi
tỷ giá định theo quan hệ cung cầu trên thị trường. Khi tỷ giá hối đoái thay đổi
vượt quá dự tính, ngân hàng có thể bị thặng dư hay thâm hụt tạm thời, và
Hoàng Thị Thanh Vân Lớp:VBII- 8A2

Hoàng Thị Thanh Vân Lớp:VBII- 8A2
9
Chuyên đề tốt nghiệp
đồng thời trích lập các quỹ dự phòng rủi ro. Nếu thực tế ít hơn con số này, thì
ngân hàng đã đạt thành công trong quản trị rủi ro.
1.3.2. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng đến từ rất nhiều nguyên nhân:
+ Rủi ro do nguyên nhân bất khả kháng
Trong thời gian vay, người vay có thể gặp một số trở ngại khách quan
dẫn đến việc sản xuất kinh doanh gặp khó khăn, bị đình trệ, dẫn đến trả chậm
hoặc không thể trả nợ : Thiên tai, chiến tranh, vấn đề chính trị tôn giáo, những
chính sách của chính phủ, an ninh, môi trường pháp lý …
Những nguyên nhân này khó có thể phòng tránh hay dự báo, vượt quá
tầm kiểm soát của người vay và cho vay. Do vây, ngân hàng và khách hàng
thường cùng nhau giải quyết hậu quả những rủi ro này, và thường đi đến sự
nhất trí.
+ Rủi ro do nguyên nhân chủ quan người vay
Khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vay không đúng mục đích,
chủ định lừa đảo, chây ỳ không trả nợ ngân hàng. Đây là một thực tế, và loại
khách hàng này không phải là hiếm, nhưng nếu làm tốt công tác thẩm định và
kiểm tra giám sát từ khâu đầu tiên, số lượng khách hàng này có thể được nhận
thấy và ngăn ngừa. Ngoài ra, còn có khách hàng yếu kém trong quản lý, khả
năng dự báo bất trắc kém, dẫn đến kinh doanh thua lỗ, không thể trả nợ, và
khách hàng ưa thích mạo hiểm,kinh doanh những ngành rủi ro cao, có nguy
cơ phá sản. Những loại khách hàng trên cần phải được nhận biết và ngăn chặn
ngay trong những quan hệ tiếp xúc đầu tiên với ngân hàng.
+ Rủi ro do nguyên nhân từ phía ngân hàng
Ngân hàng quản lý nội bộ lỏng lẻo, hệ thống kiểm tra giám sát không
hiệu quả, trong khi đó nhân viên kém đạo đức, thiếu tinh thần trách nhiệm,
mưu lợi riêng, gây tổn hại cho ngân hàng bằng nhiều cách như bắt tay với

quản lý rủi ro tín dụng luôn được quan tâm chú ý và đặt lên hàng đầu, bởi hậu
quả của rủi ro tín dụng có thể ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh
Hoàng Thị Thanh Vân Lớp:VBII- 8A2
11
Chuyên đề tốt nghiệp
thường kỳ của ngân hàng, gây thiệt hại cho ngân hàng.
Vậy, quản lý rủi ro tín dụng là việc sử dụng các biện pháp nghiệp vụ
để kiểm soát chất lượng tín dụng, hạn chế hậu quả xấu trong hoạt động tín
dụng, giảm thiểu sự tổn thất cho ngân hàng.
1.4.2. Các phương pháp quản lý rủi ro tín dụng
1.4.2.1. Hạn chế các khoản nợ có vấn đề, nợ quá hạn, nợ khó đòi
Các ngân hàng đều thực hiện nhiều biện pháp để hạn chế các khoản nợ
có vấn đề, và thực tế ngân hàng nhà nước đã đưa ra nhiều quy định về an toàn
tín dụng trong luật các tổ chức tín dụng (1997) và trong các nghị định của
ngân hàng nhà nước : QĐ 457/2005/QĐ-NHNN về các tỷ lệ bảo đảm an toàn
trong hoạt động của các TCTD (19/4/2004) và QĐ 03/2007/QĐ-NHNN sửa
đổi bổ sung một số điều trong quyết định 457 (19/1/2007).
Ngân hàng xác định danh mục các khoản tín dụng với mức độ rủi ro
khác nhau, dựa trên điểm của khách hàng. Đối với khách hàng doanh nghiệp,
ngân hàng tìm kiếm thông tin về khách hàng và dự án kinh doanh, cả trong
quá khứ và định hướng kế hoạch phát triển trong tương lai. Ngân hàng sử
dụng các chỉ tiêu định tính và định lượng để tính điểm rồi xếp loại mức độ rủi
ro cho khách hàng. Tương tự như vậy, đối với khách hàng cá nhân, cho vay
tiêu dùng, ngân hàng cũng sử dụng phương pháp này để sắp xếp định lượng
thông tin về người vay như thu nhập, chi tiêu, qua đó ra quyết định về khoản
tín dụng. Ngoài ra, đối với các trung gian tài chính khác, ngân hàng dùng độ
tín nhiệm để xếp hạng tổ chức đi vay, cuối cùng là cho vay đối với Nhà nước,
tuy rất an toàn song lợi nhuận thu được không đáng kể.
Ta có thể lượng hóa rủi ro tín dụng bằng cách sử dụng nhiều mô hình, ở
đây tôi chỉ xin giới thiệu một số mô hình đang được sử dụng.

một trong những điều kiện đầu tiên của khoản vay. Bởi, tài sản bảo đảm
không chỉ là một vật dùng để thanh lý thu hồi vốn khi cần thiết mà nó còn là
một biện pháp gắn chặt trách nhiệm và nghĩa vụ trả nợ của người đi vay. Khi
xảy ra rủi ro tín dụng, đây sẽ là nguồn thu hồi tài sản của ngân hàng, do vậy
Hoàng Thị Thanh Vân Lớp:VBII- 8A2
13
Chuyên đề tốt nghiệp
cán bộ thẩm định cần chú ý tới những yếu tố như tuổi thọ, điều kiện và mức
độ chuyên dụng của tài sản, đặc biệt là những khía cạnh nhạy cảm như vấn đề
lạc hậu về công nghệ, cũng như tình hình thị trường của tài sản bảo đảm, ví
dụ thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, thị trường vàng…
. Conditions Các điều kiện khác
Các điều kiện này bao gồm những điều kiện bên trong như chính sách tín
dụng từng thời kỳ của ngân hàng, việc mua sắm, đầu tư, chính sách lương
thưởng, những điều kiện ràng buộc trong hợp đồng tín dụng. Ngoài ra còn có
những điều kiện bên ngoài như định hướng phát triển kinh tế xã hội của Nhà
nước, chính sách thuế, và tiêu chuẩn về công nghệ môi trường.
. Control Kiểm soát
Ngân hàng cho vay đối với khách hàng nhưng không có nghĩa là ngân
hàng từ bỏ hoàn toàn các quyền đối với khoản tiền đó. Ngân hàng vẫn có
những cơ chế kiểm tra kiểm soát nhất định để có thể phát hiện những dấu hiệu
làm cho khoản vay trở thành khoản vay có vấn đề để có những điều chỉnh phù
hợp. Đồng thời, nếu phát hiện khách hàng có những vi phạm với hợp đồng tín
dụng, ngân hàng có thể hủy hợp đồng và thu hồi khoản tín dụng. Đây là một
cơ chế và là một điều kiện mà ngân hàng sử dụng để quản trị rủi ro tín dụng.
* Mô hình định lượng: Mô hình điểm số Z - sử dụng với các doanh nghiệp
Mô hình này do E.I.Alman dùng đo điểm tín dụng đối với các doanh
nghiệp vay vốn. Đại lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp qua đó phân loại
rủi ro tín dụng đối với người vay, Z phụ thuộc vào trị số các chỉ số tài chính
của người vay và tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác

mức
+ Một công tác cần được hoàn thành đó là xác định dấu hiệu các khoản
cho vay có vấn đề, giới hạn các khoản tín dụng và đa dạng hóa khách hàng,
sản phẩm, thị trường. Đây là một vấn đề có tính định hướng chiến lược với
hoạt động của ngân hàng, và có thể hạn chế rủi ro tín dụng ở mức tối đa có
thể, cùng với các hoạt động như mua bảo hiểm tiền gửi, tiền vay và tham gia
Hoàng Thị Thanh Vân Lớp:VBII- 8A2
15
Chuyên đề tốt nghiệp
trung tâm thông tin tín dụng (CIC), ngân hàng có thể tối thiểu hóa các khoản
nợ có vấn đề.
1.4.2.2. Quản lý nợ quá hạn – nợ khó đòi, các khoản nợ có vấn đề
Dù các ngân hàng có đạt hiệu quả cao trong vấn đề hạn chế nợ có vấn
đề, thì nợ quá hạn vẫn sẽ là một thực tế tồn tại khách quan, luôn luôn đi kèm
với hoạt động của ngân hàng. Do vậy, chúng ta không chỉ cần tìm cách hạn
chế nó, mà cần quản lý và xử lý nó một cách có hiệu quả.
+ Công việc đầu tiên cần phải làm đó là phân loại nợ vay có vấn đề,
phân tích nguyên nhân của tình trạng này và tìm phương án giải quyết. Mỗi
khoản nợ có vấn đề đều có nguyên nhân riêng và do vậy cũng cần có phương
án xử lý phù hợp. Nếu vấn đề là do khách quan, ngân hàng và khách hàng sẽ
cùng bàn bạc và đưa ra biện pháp tốt nhất cho cả hai bên, đảm bảo lợi ích của
ngân hàng song cũng có những nhượng bộ hợp tình hợp lý với khách hàng,
giữ được một mối quan hệ tốt. Song nếu nguyên nhân là do chủ quan, thì vấn
đề lại khác hẳn. Dù cho khách hàng do thiếu khả năng hay thiếu đạo đức thì
xử lý triệt để khoản vay luôn là sự lựa chọn chính xác nhất. Như vậy từ
nguyên nhân của khoản nợ có vấn đề ta sẽ đưa ra hai biện pháp giải quyết.
Thứ nhất là ngân hàng sử dụng chính sách hỗ trợ khách hàng đang gặp khó
khăn để giúp khách hàng vượt qua giai đoạn khó khăn, còn nếu khách hàng
lừa đảo chây ỳ, ngân hàng sẽ lập tức kết thúc hợp đồng tín dụng, thanh lý tài
sản, và thu hồi khoản nợ vay.

Nghiệp vụ này không những giải quyết được vấn đề rủi ro tín dụng, mà
còn tăng khả năng thanh khoản cho tài sản của ngân hàng, ngân hàng có thể
đa dạng hóa các khoản cho vay.
1.4.2.4. Sử dụng những hợp đồng tín dụng phái sinh để quản lý rủi ro tín dụng
+ Hợp đồng trao đổi tín dụng (Credit SWAP)
Hai ngân hàng thông qua một tổ chức tín dụng trung gian, ký một hợp
đồng trao đổi toàn bộ thu nhập từ một danh mục các khoản cho vay có giá trị
như nhau. Hợp đồng này cho phép ngân hàng đa dạng hóa danh mục đầu tư,
Hoàng Thị Thanh Vân Lớp:VBII- 8A2
17
Chuyên đề tốt nghiệp
ngành hàng, giảm sự phụ thuộc vào một thị trường truyền thống duy nhất.
+ Hợp đồng quyền tín dụng (Credit OPTIONS)
Ngân hàng ký hợp đồng với một tổ chức kinh doanh quyền, đảm bảo
thanh toán toàn bộ khoản cho vay nếu khoản cho vay giảm giá đáng kể hoặc
không thể được thanh toán. Nếu rủi ro không xảy ra, ngân hàng chỉ mất phí
mua quyền.
+ Hợp đồng trao đổi các khoản tín dụng rủi ro
Thông qua môi giới, ngân hàng mua một hợp đồng quyền bán với một
bộ phận của danh mục đầu tư hay cho vay. Nếu xảy ra rủi ro, ngân hàng có
tiền bán này trừ đi trị giá thanh lý của tài sản thế chấp.
+ Trái phiếu ràng buộc
Đây là một công cụ kết hợp một khoản nợ và hợp đồng quyền tín dụng.
Trái phiếu phát hành trên cơ sở tài trợ cho một hay một nhóm các khoản cho
vay của ngân hàng. Công cụ này cho phép tổ chức phát hành có đặc quyền
trong việc giảm mức thanh toán, nếu các khoản cho vay từ trái phiếu này có tỷ
lệ tổn thất tín dụng là quá lớn.
Các công cụ phái sinh tuy để dự phòng rủi ro song cũng hàm chứa không
ít rủi ro. Thị trường này còn nhỏ hẹp và mới ra đời nên hệ thống pháp lý chưa
rõ ràng, có khả năng một bên ký hợp đồng không muốn thực hiện hợp đồng.

với 58 Chi nhánh, 1 Sở Giao dịch, 87 Phòng Giao dịch và 4 Công ty con trực
Hoàng Thị Thanh Vân Lớp:VBII- 8A2
19
Chuyên đề tốt nghiệp
thuộc trên toàn quốc; 2 Văn phòng đại diện và 1 Công ty con tại nước ngoài,
với đội ngũ cán bộ gần 6.500 người. Ngoài ra, NHNT còn tham gia góp vốn,
liên doanh liên kết với các đơn vị trong và ngoài nước trong nhiều lĩnh vực
kinh doanh khác nhau như kinh doanh bảo hiểm, bất động sản, quỹ đầu tư
Tổng tài sản của NHNT tại thời điểm cuối năm 2006 lên tới xấp xỉ 170 nghìn
tỷ VND (tương đương 10,4 tỷ USD), tổng dư nợ đạt gần 68 nghìn tỷ VND
(4,25 tỷ USD), vốn chủ sở hữu đạt hơn 11.127 tỷ VND, đáp ứng tỷ lệ an toàn
vốn tối thiểu 8% theo chuẩn quốc tế.
Trong định hướng phát triển của Vietcombank, để trở thành một tập
đoàn tài chính mạnh có nhiều công ty con, chiếm thị phần lớn trên thị trường
tài chính, kinh doanh ngày càng hiệu quả, thì vấn đề cơ cấu lại tổ chức là cấp
thiết. Hệ thống Vietcombank liên tục phát triển, số chi nhánh càng ngày càng
lớn, chỉ riêng năm 2007 số chi nhánh đã tăng lên gấp đôi so với 2006 (lên 59
chi nhánh), nguồn vốn huy động và cho vay tăng mạnh từng năm, VCB lại
vừa cổ phần hóa và thực hiện đợt IPO đầu tiên, tạo điều kiện thuận lợi để tăng
vốn chủ sở hữu. Cùng lúc đó, các công ty con của VCB liên tục ra đời và phát
triển, như công ty chứng khoán VCB, công ty cho thuê tài chính VCB, công
ty quản lý nợ và khai thác tài sản VCB, công ty TNHH cao ốc VCB 198…
Trong điều kiện đó, việc để Hội sở chính vừa thực hiện chức năng kinh doanh
và chức năng quản lý là không còn phù hợp nữa, VCB đã tách bộ phận kinh
doanh của HSC và thành lập sở giao dịch NHNT VN với chức năng hoạt
động như một chi nhánh cấp 1, từ đầu năm 2006.
Năm 2007, SGD đã chuyển địa điểm từ 198 Trần Quang Khải sang đóng
tại 31-33 Ngô Quyền, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. SGD có phạm vi hoạt động
lớn, bao gồm cả thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận. Sau khi tách khỏi
HSC, và đặc biệt từ khi chuyển địa điểm, SGD đã rất cố gắng mở rộng phạm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status