Khóa luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI NÓI ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 6
1.1 Ngân hàng thương mại 6
1.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại: 6
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn: 6
1.1.2.2 Hoạt động sử dụng vốn 7
1.1.2.3 Hoạt động khác 8
1.2 Giới thiệu chung về doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam 8
1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ 8
1.2.3. Nguồn vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ 11
1.2.3.1. Vốn chủ sở hữu 11
1.2.3.2 Nguồn vay nợ: 13
1.3 Tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 14
1.3.1. Các hình thức tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 14
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cho vay: 17
1.3.3. Hiệu quả cho vay của Ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp vừa và
nhỏ 20
1.3.3.1 Đối với doanh nghiệp 20
1.3.3.3 Đối với nền kinh tế 23
1.3.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc hiệu quả cho vay 24
1.3.4.1 Nhân tố từ phía ngân hàng 24
1.3.4.2 Nhân tố thuộc về doanh nghiệp 25
1.3.4.3 Những nhân tố thuộc về ngân hàng trung ương và chính phủ 26
1.3.4.4 Nhân tố khác 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNVVN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI CỔ PHẦN DẦU KHÍ TOÀN CẦU 30
2.1. Khái quát về Ngân hàng TMCP Dầu khí Toàn cầu 30
NGHIỆP NHỎ & VỪA TẠI NGÂN HÀNG TMCP DẦU KHÍ TOÀN CẦU - CHI NHÁNH BA
ĐÌNH 56
3.1. Định hướng phát triển hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng
TMCP Dầu Khí Toàn Cầu – chi nhánh Ba Đình 56
3.1.1 Định hướng hoạt động tín dụng chung đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của
Ngân hàng TMCP Dầu khí Toàn cầu 56
3.1.2 Định hướng phát triển hoạt động tín dụng đối với DNNVV tại Ngân hàng
TMCP Dầu Khí Toàn Cầu – chi nhánh Ba Đình: 57
3.2 Giải pháp nâng cao hoạt động tín dụng đối với DNNVV tại Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn
Cầu – chi nhánh Ba Đình 57
3.2.1. Xây dựng kế hoạch sử dụng vốn hợp lý 58
3.2.2. Tăng cường công tác huy động vốn nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu về vốn
của các DNNVV 58
3.2.3 Nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng đối với DNNVV và thực hiện đúng
quy trình tín dụng 59
3.2.4. Đa dạng hóa hoạt động tín dụng đối với DNNVV 61
3.2.5. Xây dựng cơ chế lãi suất cho vay linh hoạt cho DNNVV 63
3.2.6. Củng cố và nâng cao trình độ của cán bộ tín dụng 64
3.3 Một số kiến nghị nhằm nân g cao chất lượng tín dụng đối với DNNVV 65
3.3.1 Kiến nghị đơn vị cơ quan quản lý nhà nước 65
3.3.2 Kiến nghị Ngân hàng Nhà nước 66
3.3.3 Kiến nghị với Ngân hàng TMCP Dầu khí Toàn cầu 67
3.3.4 Kiến nghị Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa 67
KẾT LUẬN 69
SV: Vũ Thị Lan Hương – Lớp: KT-TCNH K5 2
Khóa luận tốt nghiệp
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT CHỮ VIẾT TẮT
1 NHTM Ngân hàng thương mại
2 UNT Ủy nhiệm thu
Chương 2: Thực trạng hiệu quả tín dụng đối với các Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa
tại Ngân hàng TMCP Dầu khí Toàn cầu – chi nhánh Ba Đình.
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng đối
với các Doanh Nghiệp Nhỏ và Vừa tại Ngân hàng TMCP Dầu khí toàn cầu – Chi
nhánh Ba Đình.
Ngày nay ở hầu hết các quốc gia trên thế giới dù là nước công nghiệp phát triển
hay đang phát triển các Doanh nghiệp Nhỏ và vừa có vai trò rất quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân của mỗi nước. Bởi loại hình doanh nghiệp này đã góp phần tạo nên
sự tăng trưởng cho nền kinh tế. Đồng thời nó cũng tạo nên sự phát triển đa dạng các
ngành kinh tế, góp phần cải thiện cán cân thanh toán, tăng xuất khẩu hàng hóa thành
phần và tạo ra việc làm chủ yếu cho hơn 80% lực lượng lao động ở cả nông thôn
thành thị.
Việt Nam đang trong quá trình thực hiện Công nghiệp Hóa – Hiện đại hóa nền
kinh tế nên việc phát triển mạnh các Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa là việc vô cùng cần
thiết. Tuy nhiên để phát triển Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa chúng ta phải giải quyết
hàng loạt vấn đề mà một trong những vấn đề khó khăn nhất chính là tạo vốn cho các
Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa. Thực tế vốn tín dụng cho lĩnh vực này còn khá nhiều bất
cập cả về cơ chế tổ chức và kỹ thuật nghiệp vụ.
Từ thực trạng trên em mạnh dạn chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả
tín dụng đối với các Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa tại Ngân hàng TMCP Dầu Khí
Toàn Cầu – chi nhánh Ba ĐÌnh” làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
SV: Vũ Thị Lan Hương – Lớp: KT-TCNH K5 5
Khóa luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1 Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại:
NHTM là một tổ chức kinh tế, kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, hoạt động chủ
yếu của nó là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền đó cho vay và làm phương tiện thanh
toán.
trung và dài hạn với quy mô tương đối lớn, lãi suất thường cao nhất, đây là nguồn rất
đắt đỏ.
1.1.2.2 Hoạt động sử dụng vốn
* Cho vay: Cho vay là hoạt động chủ chốt của NHTM để tạo ra lợi nhuận. Hoạt
động cho vay là hoạt động truyền thống của NHTM. Cùng với sự phát triển của nền
kinh tế thị trường thì nhu vầu về vốn ngày càng gia tăng và điều đó tất yếu dẫn đến
hoạt động cho vay của NH ngày càng phát triển và đóng vai trò quan trọng trong sự
phát triển của nền kinh tế.
* Đầu tư: Đây là hoạt động đầu tư chứng khoán và sản xuất kinh doanh của
NHTM. Là hoạt động thâm nhập của NH vào nền kinh tế, nó mang tính chất cùng lời
thì cùng ăn. Lỗ cùng chịu chứ không phải giống hoạt động cho vay và thu lãi được cả
nợ cộng gốc.
Đầu tư vào trái phiếu chính phủ, trái phiếu kho bạc, chứng khoán Nhà nước.
Đầu tư trực tiếp vào sản xuất kinh doanh.
Đầu tư vào góp vốn liên doanh: đối tượng của nó là các NH khác liên doanh
với các công ty tài chính.
Mục tiêu của hoạt động đầu tư là tạo lợi nhuận. Trên thực tế NH đầu tư vào đâu
thì đều có lợi nhuận bởi vì NH là nơi tập trung các chuyên gia phân tích tài chính, vốn
ở trong tay NH vì thế tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với lãi suất. Mặc khác, mục tiêu
của hoạt động đầu tư là để thâm nhập vào nền kinh tế để bành trướng thế lực của nó.
SV: Vũ Thị Lan Hương – Lớp: KT-TCNH K5 7
Khóa luận tốt nghiệp
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ: Hoạt động kinh doanh ngoại tệ là NH mua
ngoại tệ và bán ngoại tệ ra để đáp ứng nhu cầu sử dụng của KH. Mục đích là mang lại
thu nhập cho NH từ sự chênh lệch ngoại tệ.
1.1.2.3 Hoạt động khác
* Hoạt động ủy thác:
Hoạt động này rất đa dạng và phong phú về hình thức cũng như đối tượng/
Hoạt động ủy thác nhằm mục đích để thu hút một số lượng KH nhiều nhất đến với
NH.
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ là những tác động mạnh mẽ của
nó đối với nền kinh tế, trong từng phương pháp hoạt động sản xuất kinh doanh, trong
việc thay đổi trang thiết bị máy móc, tăng năng suất lao động, rút ngắn thời gian tồn
tại của một mặt hàng. Công nghệ cao hơn sản xuất ra những mặt hàng có nhiều ưu
điểm hơn vì vậy máy móc luôn yêu cầu phải khấu hao nhanh để chuyển sang mặt
hàng mới với thiết bị công nghệ mới. Như vậy với đặc điểm nguồn vốn đầu tư ban
đầu không lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ có lợi thế hơn so với các doanh nghiệp
lớn.
Tổ chức sản xuất quản lý các doanh nghiệp vừa và nhỏ gọn nhẹ tiết kiệm chi
phí:
Với số lượng lao động không nhiều, việc tổ chức sản xuất cũng như bộ máy
quản lý trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ trương đối nhỏ gọn, không có quá nhiều
các khâu trung gian. Điều này làm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, các
quyết định chế độ, chỉ tiêu đến với người lao động một cách nhanh chóng, không phải
qua nhiều khâu trung gian, tiết kiệm được chi phí cho quản lý doanh nghiệp.
Vốn chủ sở hữu nhỏ: Số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoảng 90%
số doanh nghiệp trong cả nước nhưng số vốn đăng ký của doanh nghiệp chỉ chiếm
30% tổng số vốn kinh doanh của các doanh nghiệp trong cả nước. Hầu hết các doanh
nghiệp nhỏ và vừa có số vốn dưới 5 tỷ đồng. Sau khi luật doanh nghiệp được ban
hành, số lượng doanh nghiệp tăng nhanh nhưng nhìn chung các doanh nghiệp mới có
SV: Vũ Thị Lan Hương – Lớp: KT-TCNH K5 9
Khóa luận tốt nghiệp
số vốn đăng ký trên dưới 1 tỷ đồng, quy mô sản xuất còn nhỏ bé. Các doanh nghiệp
này hoạt động chủ yếu dựa vào nguồn vốn tự có và vay trên thị trường tài chính phi
chính thức, ít được tiếp cận với các nguồn tín dụng chính thức của các Ngân hàng và
các tổ chức tín dụng do không đảm bảo được các điều kiện cần thiết và không có tài
sản thế chấp.
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam công nghệ lạc hậu:
Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế đang diễn ra gay gắt trong lĩnh vực khoa học công
nghệ thì trình độ khoa học kỹ thuật của phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
doanh nghiệp. Người lao động chưa được đào tạo và chuẩn bị tốt về tác phong công
nghiệp nên thường phải đào tạo lại để đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp, những hạn
chế đó làm tăng chi phí về sử dụng lao động, trong khi đó nhiều doanh chưa có chiến
lược về nhân sự, chưa quan tâm đến đào tạo bồi dưỡng lao động.
Thị trường tiêu thụ sản phẩm nhỏ bé: Thị trường tiêu thụ sản phẩm của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp không ít khó khăn xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ
yếu là quyền sở hữu công nghiệp chưa được thực hiện nghiêm túc, sản phẩm dịch vụ
của các doanh nghiệp luôn bị tấn công do việc xuất hiện các mặt hàng làm giả, hàng
nhái, hàng nhập lâu, cùng với sự độc quyền của một số doanh nghiệplớn khiến sức
cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ lại càng nhỏ trên thị trường nội địa. Đây
chính là lý do sự yếu kém của công tác tổ chức quản lý thị trường. Đối với các doanh
nghiệp hướng sản phẩm của mình chủ yếu dành cho xuất khẩu, nhiều vấn đề nảy sinh
cần được khắc phục như việc hạn chế về công nghệ dẫn đến mặt hàng xuất khẩu chưa
đa dạng, chất lượng và tính cạnh tranh chưa cao cộng với khả năng tiếp cận thị trường
kém. Rất ít doanh nghiệp tham gia điện tử thị trường trên mạng, giới thiệu chào hàng
trên mạng, tham gia hội chợ triển lãm. Khi ký hợp đồng thường bị ép giá qua các đối
tác trung gian, việc thiếu am hiểu luật pháp quốc tế và thương mại quốc tế cũng khiến
doanh nghiệp chịu nhiều thua thiệt.
1.2.3. Nguồn vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.3.1. Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu bao gồm
- Vốn góp ban đầu: Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ doanh nghiệp
cũng phải có một số vốn ban đầu nhất định do các cổ đông đóng góp.
SV: Vũ Thị Lan Hương – Lớp: KT-TCNH K5 11
Khóa luận tốt nghiệp
Đối với doanh nghiệp nhà nước, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của nhà
nước. Chủ sở hữu của doanh nghiệp nhà nước là nhà nước.
Đối với các doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp phải có
một số vốn ban đầu cần thiết để xin đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam vốn góp ban đầu thường nhỏ, chỉ
nghiệp vừa và nhỏ có số vốn dưới 10 tỷ đồng vì vậy họ không được vay các khoản
vay trên thị trường chứng khoán như: phát hành trái phiếu. Nguồn vay nợ của doanh
nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu là: vốn tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng.
Vốn tín dụng thương mại: Các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất khó tiếp cận được
với các nguồn vốn tín dụng chính thức của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng do
không đảm bảo được các điều kiện cần thiết và không có tài sản thế chấp, bởi vậy các
doanh nghiệp vừa và nhỏ thường sử dụng phổ biến tín dụng thương mại. Nguồn này
hình thành một cách tự nhiên trong quan hệ mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả
góp. Nguồn vốn tín dụng thương mại có ảnh hưởng rất to lớn không chỉ với các doanh
nghiệp mà với cả nền kinh tế. Trong một số doanh nghiệp, nguồn vốn tín dụng thương
mại dưới dạng những khoản phải trả có thể chiếm tới 20% tổng nguồn vốn, thậm chí
có thể chiếm 40% tổng nguồn vốn.
Đối với doanh nghiệp, tài trợ bằng nguồn vốn tín dụng thương mại là một
phương thức tài trợ rẻ, tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh, hơn nữa nó còn tạo
khả năng mở rộng các mối quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền. Tuy nhiên,
cần phải thấy rằng khi quy mô tài trợ quá lớn thì tính rủi ro của quan hệ tín dụng này
là rất lớn.
Vốn tín dụng Ngân hàng: vay vốn Ngân hàng là một giải pháp cổ điển mà hầu
hết các doanh nghiệp đều nghĩ tới. Ngân hàng đóng vai trò là người cung cấp vốn do
doanh nghiệp, bù lại Ngân hàng nhận tiền lãi do doanh nghiệp trả cho khoản vay đó.
Ngân hàng là một tổ chức tài chính có thể huy động từ nhiều nguồn khác nhau, luôn
có khả năng cung cấp các nguồn tài trợ ngắn hạn, trung và dài hạn cho doanh nghiệp.
Ngân hàng có thể cung cấp vốn cho doanh nghiệp từ khi mới thành lập, khi bước vào
hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời cung cấp vốn lưu động khi doanh nghiệp có
nhu cầu.
SV: Vũ Thị Lan Hương – Lớp: KT-TCNH K5 13
Khóa luận tốt nghiệp
1.3 Tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.3.1. Các hình thức tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Có nhiều cách phân loại, nếu theo đặc điểm của món vay các doanh nghiệp
vốn như: xây dựng các công trình phúc lợi cho cán bộ công nhân viên.
Theo phương thức này ngân hàng cho vay và khách hàng vay vốn thỏa thuận
mức cho vay, thời hạn vay vốn, lãi suất cho vay và số kỳ hạn trả góp để xác định một
mức trả góp trong suốt thời hạn vay. Lãi suất cho vay thường là cao nhất trong khung
lãi suất của ngân hàng.
Cho vay theo hạn mức:
Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa thuận cung cấp cho khách
hàng mức tín dụng, hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ.
Trong ngắn hạn:
Hạn mức tín dụng = Nhu cầu vốn lưu động kế hoạch – (Nguồn vốn KD ngắn
hạn + Nguồn vốn coi như tự có + Nguồn vốn khác)
Trong đó: Nguồn vốn kinh doanh ngắn hạn là một phần nguồn vốn kinh doanh
được sử dụng cho các nhu cầu về TSCĐ.
Nguồn vốn coi như tự có là tất cả các số dư các quỹ, lợi nhuận chưa phân phối
và khoản chênh lệch tăng giá vật tư theo quyết định của nhà nước.
Nguồn vốn khác bao gồm vay ngân hàng khác hoặc vay đối tượng khác, vay
nội bộ của công ty.
Trong dài hạn: Hạn mức tín dụng trong dài hạn thể hiện số vốn tín dụng của
ngân hàng tham gia vào công trình hay dự án đầu tư, do đó giúp cho đơn vị chủ đầu tư
có đủ vốn để thực hiện công trình hay chủ đầu tư thực hiện kế hoạch đã đề ra. Hạn
mức tín dụng đầu tư không những giúp cho đơn vị tổ chức kinh tế thực hiện việc cải
tiến kỹ thuật hợp lý hóa dây chuyền công nghệ mà còn góp phần đẩy mạnh tốc độ xây
dựng cơ sở vật chất của nền kinh tế để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Hạn mức tín dụng trung dài hạn = Tổng dự toán chi phí - Nguồn vốn đầu tư tự
có.
Lãi suất cho vay: Căn cứ vào quy định lãi suất của Tổng giám đốc ngân hàng
TMCP Dầu Khí Toàn Cầu, chi nhánh Ba Đình và khách hàng thỏa thuận để ghi vào
hợp đồng tín dụng hoặc giấy nhận nợ kèm theo hợp đồng tín dụng.
SV: Vũ Thị Lan Hương – Lớp: KT-TCNH K5 15
Khóa luận tốt nghiệp
SV: Vũ Thị Lan Hương – Lớp: KT-TCNH K5 16
Khóa luận tốt nghiệp
Thời hạn vay = Thời gian xây dựng cơ bản + Thời gian trả nợ
Lãi suất cho vay: Căn cứ theo quy định của tổng giám đốc Ngân hàng TMCP
Dầu Khí Toàn Cầu, chi nhánh Ba Đình và khách hàng thỏa thuận ghi vào hợp đồng
tín dụng hoặc giấy nhận nợ kèm theo hợp đồng tín dụng.
Việc cho vay theo dự án đầu tư, ngân hàng cần phải kết hợp với các hình thức
cấp tín dụng khác như: Thực hiện bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng…,
có như vậy ngân hàng mới thu được doanh thu cao nhất.
Cho vay theo phương thức này thường là dự án lớn cần có nguồn vốn lớn, ngân
hàng cần có thời gian huy động và trả lãi huy động do vậy ngân hàng và khách hàng
thỏa thuận mức phí trả trong trường hợp khách hàng trả trước hạn, phí cam kết trả
một phần chi phí huy động của ngân hàng, trong trường hợp khách hàng đã ký hợp
đồng tín dụng nhưng thực tế không vay.
Cho vay hợp vốn:
Trường hợp một công trình dự án đầu tư có tổng dự toán lớn vượt quá giới hạn
cho vay thì áp dụng phương thức cho vay hợp vốn. Theo đó ngân hàng tiếp nhận hồ
sơ vay vốn của khách hàng sẽ đóng vai trò là “ ngân hàng đầu mối” sẽ kêu gọi các
ngân hàng khác cùng tham gia cho vay hợp vốn và phân bổ hạn mức cho từng thành
viên. Ngân hàng đầu mối sẽ trực tiếp giải ngân lập phương án thu nợ thu lãi, đồng thời
phân bổ mức thu nợ gốc, lãi cho các ngân hàng thành viên theo tỷ lệ vốn của từng
ngân hàng.
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cho vay:
Hiệu quả tín dụng: Là sự đáp ứng các yêu cầu ngày càng tăng của khách hàng
về quy mô tín dụng nói cách khách đó là việc làm tăng tỷ trọng tín dụng trong tài sản
có của các NHTM
Hiệu quả tín dụng được xác định trên cơ sở thực hiện đa dạng hóa khách hàng,
các loại hình dịch vụ Ngân hàng, cũng như các đối tượng cho vay. Việc xây dựng
được các mức lãi suất hợp lý cũng như xác định các kỳ hạn nợ phù hợp với chu kỳ
SX-KD của khách hàng đi đôi với việc cung cấp các loại hình bảo lãnh thích hợp cũng
Nếu t>0 và nhỏ hơn tốc độ tăng dư nợ của doanh nghiệp lớn thì sự mở rộng đó
là không thực chất mà chỉ là sự tăng lên đơn thuần của số dư nợ theo xu hướng chung.
Thứ tư: Cơ cấu dư nợ đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ:
SV: Vũ Thị Lan Hương – Lớp: KT-TCNH K5 18
Khóa luận tốt nghiệp
Có nhiều cách phân loại dư nợ đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ mà ta có các
loại cơ cấu dư nợ khách nhau. Nếu phân loại theo thành phần kinh tế thì có dư nợ đối
với doanh nghiệp nhà nước và dư nợ đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Nếu
phân loại theo kỳ hạn thì có dư nợ ngắn hạn và dư nợ trung dài hạn.
Theo kỳ hạn: Nếu tỷ trọng dư nợ ngắn hạn tăng tức cơ cấu dịch chuyển từ dư
nợ dài hạn sang dư nợ ngắn han, điều đó chứng tỏ ngân hàng mở rộng cho vay ngắn
hạn. Nếu tỷ trọng dư nợ dài hạn tăng chứng tỏ ngân hàng dịch chuyển từ dư nợ ngắn
hạn chứng tỏ ngân hàng mở rộng cho vay dài hạn.
Ta không thể kết luận tỷ trọng các khoản vay ngắn hạn, trung dài hạn theo tỷ lệ
nào mới là mở rộng, mà tùy từng thời điểm, tùy từng điều kiện mà sự chuyển dịch cơ
cấu theo hướng hợp lý là sự mở rộng cho vay. Tỷ trọng dư nợ ngắn hạn tăng chứng tỏ
nhu cầu vốn cho vay mua sắm tài sản lưu động lớn, hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp đạt năng suất và hiệu quả, còn tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn tăng
chứng tỏ các doanh nghiệp có nhu cầu lớn về đầu tư cho các dự án mở rộng sản xuất
kinh doanh, có nhu cầu cho đầu tư đổi mới công nghệ. Nhu cầu nào tăng cũng là dấu
hiệu tốt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Miễn là doanh nghiệp sử dụng vốn thế
nào cho hợp lý, hiệu quả, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp và ngân hàng thì tỷ lệ dư
nợ ngắn hạn hay tỷ lệ dư nợ trung dài hạn tăng cũng đều là sự mở rộng cho vay các
doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thứ năm: Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn. Ngân hàng hoạt động với mục đích
an toàn và hiệu quả do đó việc mở rộng cho vay đối với ngân hàng cũng phải đảm bảo
hiệu quả. Chỉ tiêu này không phản ánh trực tiếp sự mở rộng cho vay các doanh nghiệp
vừa và nhỏ nhưng nó rất quan trọng để đánh giá sự an toàn và hiệu quả mở rộng cho
vay.
Số dư nợ quá hạn
hoạt động các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là có đủ vốn cho các phương án
mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, cả Ngân hàng và doanh nghiệp phải cân nhắc trong việc quy định tỷ
lệ vốn vay trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp. Nếu vốn vay quá lớn thì chi phí
vốn sẽ tăng, kèm theo giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, rủi ro lớn cho Ngân hàng,
ngược lại , nếu cốn ít sẽ bỏ qua cơ hội kinh doanh tốt.
SV: Vũ Thị Lan Hương – Lớp: KT-TCNH K5 20
Khóa luận tốt nghiệp
Tín dụng Ngân hàng giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh:
Một trong những nguyên tắc tín dụng là phải trả lãi và trả gốc đúng thời hạn.
Do đó người đi vay buộc phải tính toán chi phí sản xuất, tốc độ quay vòng vốn vay,
giá thành sản phẩm, doanh thu thu được… để sao cho đến cuối kỳ có thể thu được lợi
nhuận đủ để trả tiền vay ngân hàng và còn lợi nhuận để lại. Rõ ràng với những điều
kiện ràng buộc như vậy, ngân hàng đã giúp doanh nghiệp nâng cao ý thức hoạch toán
kinh doanh, tổ chức sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn một cách có hiệu quả.
Tín dụng Ngân hàng tăng khả năng cạnh tranh và uy tín các doanh nghiệp
vừa và nhỏ:
Trong nền kinh tế thị trường khả năng cạnh tranh có tính sống còn đối với mỗi
doanh nghiệp. Cạnh tranh về chất lượng sản phẩm, giá cả hàng hóa, công nghệ… Tất
cả đều nhằm mục tiêu tạo ưu thế về sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp cho
khách hàng. Tại Việt Nam, các doanh nghiệp vừa và nhỏ không những chịu sự cạnh
tranh mạnh mẽ từ các doanh nghiệp lớn với ưu thế về công nghệ, quy mô sản xuất, từ
các doanh nghiệp vừa và nhỏ khác hoạt động trong cùng lĩnh vực mà còn phải cạnh
tranh với một số lượng lớn hàng nhập lậu, hàng giả. Điều này buộc các doanh nghiệp
phải nâng cao chất lượng sản phẩm khẳng định chỗ đứng của mình trên thương
trường. Với nguồn vốn tín dụng từ ngân hàng, các doanh nghiệp có thể dùng để đầu tư
chiều sâu, đào tạo nâng cao trình độ tay nghề công nhân viên… từ đó tăng năng suất
lao động, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Hàng hóa được thị trường người tiêu dùng chấp nhận tạo cho doanh nghiệp một chỗ
một khoản vaylớn vào một khách hàng.
- Làm tăng doanh thu và lợi nhuận từ lãi vay và phí dịch vụ khác:
Mở rộng cho vay có thể theo chiều rộng hoặc chiều sâu. Theo chiều rộng tức là số dư
nợ tăng lên hoặc số doanh nghiệp được vay tăng lên… Khi số dư nợ tăng lên sẽ là cơ
sở để tăng thu và lợi nhuận. Khi ngân hàng không gặp rủi ro lớn từ các khoản vay này
thì chắc chắn doanh thu và lợi nhuận sẽ tăng lên. Cùng với khoản thu từ lãi là các
khoản thu về dịch vụ như: dịch vụ thanh toán, dịch vụ tư vấn, dịch vụ bảo lãnh… Đa
dạng hóa được đối tượng khách hàng cũng giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng, chính
điều đó cũng làm tăng lợi nhuận cho ngân hàng. Mở rộng theo chiều sâu, tức làm thay
đổi tỷ trọng cơ cấu của khoản vay, đối tượng vay. Tuy số dư nợ không tăng nhưng tỷ
SV: Vũ Thị Lan Hương – Lớp: KT-TCNH K5 22
Khóa luận tốt nghiệp
trọng khoản vay trung và dài hạn tăng, mà lãi suất trung và dài hạn cao hơn lãi suất
của ngắn hạn do đó thu lãi tăng.
- Mở rộng cho vay giúp cho ngân hàng trở nên hoàn thiện hơn: Khi mở rộng
cho vay làm cho số doanh nghiệp đến vay ngân hàng tăng, từ đó cán bộ ngân hàng
thông thạo hơn trong phân tích khách hàng, nghiệp vụ, thu được nhiều thông tin hơn,
giúp cho kinh doanh có hiệu quả.
1.3.3.3 Đối với nền kinh tế.
Là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, tín dụng với sự đa dạng về hình thức và
chủng loại sẽ góp phần điều hòa vốn trong nền kinh tế, đồng thời tăng cường chất
lượng hoạt động tín dụng sẽ giảm thiểu lượng tiền trong lưu thông, điều đó không chỉ
giải quyết mối quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế mà còn tạo điều kiện để mở
rộng tín dụng, mở rộng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt, từ đó tiết kiệm
chi phí lưu thông cho xã hội.
Mở rộng tín dụng tạo đà cho việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, tăng uy
tín cho ngân hàng, cho quốc gia, đồng thời góp phần kiềm chế và đẩy lùi lạm phát,
thực hiện ổn định tiền tệ.
Mở rộng tín dụng góp phần quan trọng thực hiện các quy hoạch, chương trình
phát triển kinh tế của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, của từng vùng, từng địa phương,
- Tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn
tự có của tổ chức tín dụng, trừ trường hợp đối với những khoản cho vay từ các nguồn
ủy thác của chính phủ, của các tổ chức và cá nhân. Trường hợp nhu cầu vốn của một
khách hàng vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức hoặc khách hàng có nhu cầu huy
động vốn từ nhiều nguồn thì các tổ chức tín dụng cho vay hợp vốn.
- Trong trường hợp đặc biệt, tổ chức tín dụng để làm căn cứ tính giới hạn cho
vay vượt quá mức giới hạn quy định tại khoản 1 điều này khi được thủ tướng chính
phủ cho phép đối với từng trường hợp cụ thể.
- Việc xác định vốn tự có của các tổ chức tín dụng để làm căn cứ tính giới hạn
ch vay quy định tại khoản 1 và 2 điều này thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam.
SV: Vũ Thị Lan Hương – Lớp: KT-TCNH K5 24
Khóa luận tốt nghiệp
Như vậy, có thể nói quy mô vốn chủ sở hữu của một ngân hàng thương mại là
rất quan trọng. Nếu vốn chủ sở hữu của một ngân hàng mà nhỏ thì khả năng mở rộng
cho vay sẽ hạn chế.
Công nghệ ngân hàng cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc mở rộng cho vay.
Nếu ngân hàng sử dụng công nghệ hiện đại, các giao dịch diễn ra nhanh chóng chính
xác, thuận tiện thì sẽ có nhiều khách hàng đến với Ngân hàng. Vì vậy, việc mở rộng
cho vay sẽ diễn ra nhanh chóng và hiệu quả. Công nghệ ngân hàng cũng góp phần vào
việc phát triển đa dạng các sản phẩm cho vay, đa dạng hóa các hình thức huy động
vốn phục vụ tốt cho quá trình mở rộng cho vay.
Quy mô, phạm vi hoạt động của ngân hàng ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận
vốn của các doanh nghiệp, do đó nó ảnh hưởng tới việc mở rộng cho vay. Phạm vi và
quy mô hoạt động càng lớn, càng rộng thì càng có nhiều doanh nghiệp có khả năng
tiếp cận được với ngân hàng, nhu cầu vốn sẽ cao hơn. Đồng thời ngân hàng cũng có
khả năng huy động vốn dễ dàng hơn, có khả năng cung ứng nhiều sản phẩm, dịch vụ
hơn nên mở rộng cho vay đối với DNVVN sẽ thuận lợi hơn nhiều.
Chính sách cho vay ưu đãi, ưu đãi về lãi suất, ưu đãi về mức vốn cho vay sẽ
làm thúc đẩy hoạt động cho vay, tăng khả năng tiếp cận của ngân hàng đối với các