CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
Lời mở đầu:
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Việc Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO đã mở ra rất
nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam. Nhưng đồng nghĩa với nó là áp
lực cạnh tranh sẽ ngày càng tăng thêm. Doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đáp ứng
theo các yêu cầu của thông lệ quốc tế trong môi trường tự do bình đẳng song với
“luật chơi” hà khắc hơn. Nền kinh tế Việt Nam sẽ nhạy cảm hơn với những biến
động của nền kinh tế thế giới. Như vậy các doanh nghiệp nói chung và các
NHTM nói riêng sẽ phải đứng trước những rủi ro ngày càng lớn hơn, đặc biệt là
hoạt động tín dụng. Trước thực tế đó, việc hạn chế rủi ro tín dụng của các
NHTM trở thành một trong những vấn đề trọng tâm của mỗi ngân hàng để đảm
bảo sự tăng trưởng và phát triển bền vững. Nhưng trên thực tế, việc hạn chế rủi
ro tín dụng của các NHTM chỉ mang tính đồng bộ của hệ thống. Mô hình tổ chức
hoạt động tín dụng bộc lộ những điểm không còn phù hợp với yêu cầu của thực
tiễn. Các biện pháp hạn chế rủi ro đang áp dụng hiện nay chỉ mang tính nguyên
tắc theo quy định của nhà nước. Công cụ lượng hóa rủi ro tuy đã có nhưng cũng
bộc lộ những điểm không còn phù hợp. Hệ thống thông tin chỉ dừng lại ở việc
cung cấp các thông tin quá khứ và hiện tại mà chưa có những thông tin dự báo.
Đó là nguyên nhân dẫn đến các NHTM Việt Nam chưa thể hoàn toàn chủ động
kinh doanh và luôn phải đương đầu với nguy cơ rủi ro cao. Trước thực tế đó,
việc hạn chế rủi ro tín dụng trở thành một vấn đề cấp thiết đối với các NHTM.
Do vậy em chọn đề tài “Giải pháp phòng ngừa hạn chế rủi ro tín dụng tại
Ngân hàng Thương mại cổ phần Xăng dầu Petrolimex – Chi nhánh Hà
Nội- Kim Liên”.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Hệ thống hóa những lý thuyết cơ bản liên quan đến rủi ro tín dụng: rủi ro
tín dụng là gì, các dấu hiệu nhận biết, mô hình đo lường, biện pháp chung
được đưa ra để phòng ngừa rủi ro tín dụng.
CAO VIỆT SƠN – LTCĐ 6E 1
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
sử dụng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau. Tùy theo góc độ nhìn nhận khác nhau
mà “tín dụng” sẽ mang các đặc tính khác nhau. Tuy nhiên trong phạm vi nghiên
cứu dưới đây, “tín dụng” sẽ được hiểu như: là một giao dịch về tài sản giữa bên
cho vay (ngân hàng) với bên đi vay, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản
cho bên đi vay sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định có thỏa thuận
trước. Khi đến hạn thanh toán, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện
vốn gốc và lãi cho bên cho vay.
1.1.2 ĐẶC TRƯNG CỦA TÍN DỤNG
Trên thực tế, tín dụng mang 3 đặc trưng cơ bản nhất:
Thứ nhất, tín dụng dựa trên cơ sở lòng tin. Người cho vay tin tưởng người
đi vay sẽ sử dụng khoản vay đúng mục đích, hoàn trả vốn và lãi đúng cam kết.
Thứ hai, tín dụng là sự chuyển nhượng có thời hạn. Thời gian cho vay
được xác định trước để đảm bảo quá trình luân chuyển vốn của cả bên cho lẫn
bên đi vay.
Thứ ba, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời dựa vào nguyên tắc vốn và
lãi phải được trả. “Lãi” chính là phần bù đắp mà người đi vay phải trả cho người
cho vay do chiếm dụng vốn.
1.1.3 VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG
CAO VIỆT SƠN – LTCĐ 6E 3
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
Trong nền kinh tế Việt Nam, hoạt động tín dụng ngân hàng mang những
vai trò sau:
Trong nền kinh tế, có một bộ phận có vốn nhàn rỗi đến từ người dân và
các doanh nghiệp, vốn này nằm dưới dạng các khoản chi trả chưa đến hạn trả của
doanh nghiệp, tiền để dành của người dân… Và ngược lại là nhu cầu vốn để đầu
tư, tái sản xuất của các chủ thể kinh tế khác. Tín dụng ngân hàng là một cầu nối
giúp các nguồn cung và cầu về vốn gặp nhau.
Các nguồn vốn được tập trung với số lượng lớn tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp cần vốn tốn ít thời gian, của cải để tìm nguồn vốn cần thiết. Mặt
khác, doanh nghiệp một khi muốn vay vốn phải đảm bảo khả năng hoàn trả vốn
Rủi ro mất vốn: khi khách hàng không trả một phần hoặc toàn bộ khoản
tín dụng. Rủi ro này xảy ra là giảm sức mạnh tài chính của ngân hàng: giảm quy
mô nếu gốc vay không được trả và giảm khả năng sinh lời nếu lãi vay không
thanh toán.
1.2.3 HẬU QUẢ RỦI RO TÍN DỤNG
1.2.3.1 Đối với ngân hàng
Là đối tượng trực tiếp gánh chịu hậu quả từ RRTD, thiệt hại đầu tiên và
đáng kể nhất đó là tổn thất về tài chính. Khách hàng không trả được nợ, ngân
hàng sẽ phải thanh lý tài sản thế chấp và nếu tài sản thế chấp không đủ, ngân
hàng sẽ phải trích từ quỹ dự phòng rủi ro để bù đắp. RRTD xảy ra, uy tín của
ngân hàng sẽ bị tác động. Khách hàng tương lai sẽ nghi ngờ khả năng kiểm soát,
đánh giá, phòng ngừa rủi ro của ngân hàng.
1.2.3.2 Đối với người đi vay
Không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán nợ theo hợp đồng, người đi vay
sẽ phải chịu sự giám sát của ngân hàng. Uy tín tín dụng của người đi vay sẽ bị
giảm làm ảnh hưởng tới khả năng đi vay sau này tại ngân hàng hiện tại hoặc tại
ngân hàng khác. Uy tín tín dụng giảm còn làm giảm uy tín trong kinh doanh,
trong việc thực hiện hợp đồng với bạn hàng.
1.2.3.3 Đối với nền kinh tế
CAO VIỆT SƠN – LTCĐ 6E 5
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
Với vai trò là kênh dẫn vốn cho nền kinh tế, RRTD xảy ra ở ngân hàng
làm cho kênh dẫn vốn hoạt động không hiệu quả. Người đi vay không thanh
toán, vốn cho vay của ngân hàng bị ứ đọng khiến cơ hội mở rộng đầu tư nền kinh
tế giảm sút.
1.2.4 DẤU HIỆU NHẬN BIẾT RỦI RO TÍN DỤNG
Các dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng được sắp xếp theo các nhóm sau:
Nhóm 1: Các dấu hiệu liên quan tới mối quan hệ với ngân hàng
Trong quá trình hạch toán tài khoản của khách hàng, các dấu hiệu này
được thể hiện rõ ràng như: khó khăn trong việc thanh toán lương, giảm sút số dư
Chủ yếu bao gồm các nguyên nhân xuất phát từ tự nhiên như hỏa hoạn,
bão lụt, thiên tai khác. Các nguyên nhân này không thể xác định trước và thường
gây hậu quả lớn cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, hộ sản xuất.
• Nguyên nhân từ môi trường chính trị, xã hội và pháp luật
Môi trường chính trị ổn định là tiền đề cho sự phát triển của nền kinh tế.
Một quốc gia có nền chính trị kém ổn định, bạo động, khủng bố xảy ra thì công
việc hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh tế rất bất ổn và khó khăn. Việc
sử dụng vốn đạt hiệu quả không cao, làm ăn thua lỗ nên khó có thể trả nợ cho
ngân hàng.
• Nguyên nhân từ phía nền kinh tế
Chính sách tiền tệ: khi NHTW thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng thì sẽ
có nhiều khách hàng có cơ hội vay tiền hơn, dư nợ của ngân hàng tăng và tất
nhiên RRTD của ngân hàng sẽ tăng.
Chu kì kinh tế: sự hưng thịnh hay suy thoái của nền kinh tế cũng có tác
động lớn đến RRTD của ngân hàng. Khi nền kinh tế hưng thịnh, doanh nghiệp và
người dân đều thực hiện tốt công việc kinh doanh của mình, họ đều có khả năng
thanh toán khoản vay cho ngân hàng. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, làm
ăn kém, thua lỗ tăng khiến người đi vay khó có thể trả tiền cho ngân hàng. RRTD
của ngân hàng lúc này tăng.
CAO VIỆT SƠN – LTCĐ 6E 7
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
Sự biến động của tỷ giá hối đoái: đối với các khách hàng vay tiền bằng
ngoại tệ để phục vụ việc kinh doanh của mình, sự thay đổi về tỷ giá nội tệ/ngoại
tệ khiến cho các khoản vay của họ trở nên đắt đỏ hơn hoặc rẻ đi khi tỷ giá lên
hoặc xuống. Ở một mức độ nào đó, tỷ giá thay đổi thái quá sẽ làm người đi vay
không có đủ tiền để thanh toán tiền vay cho ngân hàng.
Lạm phát và thiểu phát: lạm phát có tác động lớn tới chu kì kinh doanh
của doanh nghiệp. Lạm phát làm tăng các chi phí đầu vào khiến cho cá nhân và
doanh nghiệp khó khăn về tài chính, làm cho cầu tín dụng tăng. Thiểu phát cũng
gây bất lợi cho công việc kinh doanh, chỉ số giá tăng thấp so với mức lãi suất cho
Rủi ro kinh doanh:
- Do năng lực quản lý
Các doanh nghiệp quản lý nguồn lực không hợp lý dẫn tới tăng chi phí
quản lý. Vốn vay ngân hàng lúc này được sử dụng sai mục đích hoặc thiếu hiệu
quả thể hiện qua việc đầu tư tràn lan, không đúng với mục đích đã cam kết khiến
cho các doanh nghiệp thua lỗ hoặc bị phá sản.
- Do biến động thị trường cung cấp
Các chi phí nguyên liệu đầu vào tăng khiến cho sản phẩm sản xuất ra có
giá thành cao hơn. Doanh nghiệp lại bị hạn chế trong việc tăng giá bán sản phẩm
nên lợi nhuận bán hàng giảm, không trả được nợ cho ngân hàng.
Ngoài ra, việc các nhà cung cấp chậm trễ giao máy móc, hoặc giao máy
móc với chất lượng không đúng yêu cầu gây đình trệ trong quá trình sản xuất,
sản phẩm sản xuất kém chất lượng, khó tiêu thụ.
- Do biến động thị trường tiêu thụ
Thị hiếu của người tiêu dùng thay đổi khiến sản phẩm sản xuất ra không
bán được. Ngoài ra mức thu nhập của một bộ phận người dân thay đổi cũng làm
họ giảm sự ham muốn nhiều mặt hàng.
Rủi ro tài chính
- Cơ cấu vốn bất hợp lý:
CAO VIỆT SƠN – LTCĐ 6E 9
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
Tỷ lệ nợ trên tổng nguồn vốn cao, sử dụng nợ ngắn hạn vào các mục đích
dài hạn như mua sắm tài sản cố định có thời gian khấu hao lâu.
- Đặc trưng một số ngành xây dựng cơ bản, các doanh nghiệp bị chiếm
dụng vốn trong một thời gian dài nên họ không có đủ vốn để quay vòng.
1.2.5.3 Nguyên nhân từ phía ngân hàng
• Chính sách tín dụng không hợp lý
Chính sách tín dụng không hợp lý được thể hiện như sau:
- Vấn đề quy trình trong thẩm định tín dụng, đo lường RRTD và kiểm tra,
giám sát tín dụng. Ngân hàng không đánh giá được đầy đủ năng lực về tài
TSBĐ là tài sản thuộc quyền sở hữu của người vay dùng để cầm cố, thế
chấp cho ngân hàng khi tham gia các hợp đồng vay vốn. Trong trường hợp khách
hàng hoàn toàn mất khả năng trả nợ, TSBĐ sẽ giúp ngân hàng thu một phần
khoản vay thông qua phát mãi tài sản.
Tuy nhiên, thực tế chứng minh TSBĐ đôi khi rất khó để định giá. Và giá
trị của một số TSBĐ chịu tác động lớn từ thị trường nên khi ngân hàng phát mãi
tài sản, giá trị thu lại không như mong đợi. Các TSBĐ có tính khả mại thấp còn
khiến cho ngân hàng khó khăn trong việc tìm người mua, làm tăng chi phí chính
tài sản đó.
Thêm vào đó, việc hỏng hóc, hoen rỉ của tài sản cũng làm giảm giá trị của
tài sản theo thời gian. Các TSBĐ đôi khi còn phải chịu tranh chấp về pháp lý.
1.2.6 CHỈ TIÊU ĐO LƯỜNG RỦI RO TÍN DỤNG
1.2.6.1 Chỉ tiêu định tính
a. Sự phù hợp của chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng của ngân hàng quyết định việc mở rộng hay thu hẹp
tín dụng nhằm đạt được mục tiêu riêng của ngân hàng: tìm kiếm lợi nhuận hay
đảm bảo an toàn trong kinh doanh của ngân hàng. Nếu ngân hàng tập trung quá
nhiều vào một mục tiêu, như tìm kiếm lợi nhuận, ngân hàng sẽ mở rộng tín dụng,
chấp nhận các khoản vay có mức an toàn thấp và rủi ro cao. Hoặc ngân hàng tập
trung vào một đối tượng cho vay, cơ cấu tín dụng không phù hợp, làm tăng
RRTD.
CAO VIỆT SƠN – LTCĐ 6E 11
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
b. Tính hợp lý của quy trình tín dụng
Quy trình tín dụng tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng trong
việc cấp tín dụng với các bước cụ thể được thiết lập theo một quy trình nhất định
kể từ khi hồ sơ xin cấp tín dụng đến khi kết thúc hợp đồng. RRTD sẽ được hạn
chế khi quy trình này được tổ chức khoa học, hợp lý và được tuần thủ bởi cán bộ
tín dụng.
1.2.6.2 Chỉ tiêu định lượng
• Các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ nhưng bị quá hạn trên 180
ngày.
• Các khoản nợ được đánh giá là không có khả năng thu hồi.
Tỷ lệ nợ xấu cũng là một chỉ tiêu để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ
chức tín dụng. Nếu tỷ lệ này cao thì RRTD cao vì đây là những khách hàng có
dấu hiệu khó khăn về tài chính nên khó trả nợ cho ngân hàng.
Tỷ lệ nợ xấu = Dư nợ xấu / Tổng dư nợ
Như vậy, các ngân hàng phải thường xuyên đánh giá và kiểm tra phát hiện
nợ xấu để có cơ sở trích lập dự phòng và đưa ra biện pháp bảo toàn vốn.
c. Tỷ lệ mất vốn
Tỷ lệ mất vốn = Dư nợ mất vốn / Tổng dư nợ
Dư nợ mất vốn là các khoản nợ thuộc nhóm 5 bao gồm:
• Nợ quá hạn trên 360 ngày.
• Các khoản nợ khoanh chờ chính phủ xử lý.
• Các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ nhưng bị quá hạn trên 180
ngày.
• Các khoản nợ được đánh giá là không có khả năng thu hồi.
Tỷ lệ mất vốn càng cao thì thiệt hại cho ngân hàng càng lớn vì nó phản
ánh những khoản tín dụng mà ngân hàng bị mất và phải dùng quỹ dự phòng để
bù đắp.
d. Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
CAO VIỆT SƠN – LTCĐ 6E 13
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
Tỷ lệ trích lập dự phòng RRTD = Dự phòng RRTD được trích lập / Tổng dư
nợ kì báo cáo dự phòng RRTD
Tại Việt Nam, việc trích lập dự phòng RRTD của các ngân hàng đều theo
quyết định 493/2005/QĐ-NHNN. Trong đó tùy vào việc phân loại nợ vào nhóm
nào mà có tỷ lệ trích lập tương ứng theo nguyên tắc: thời gian quá hạn càng cao
thì tỷ lệ trích lập càng lớn. Cụ thể, tỷ lệ trích lập rủi ro ở nhóm 1 là 0%, nhóm 2
là 5%, nhóm 3 là 20%, nhóm 4 là 50%, nhóm 5 là 100%.
3. Thu nhập của người đi vay (Cash)
Trước hết phải xác định được nguồn trả nợ của người đi vay như luồng
tiền từ doanh thu bán hàng hay thu nhập, tiền bán từ thanh lý tài sản, hoặc tiền từ
phát hành chứng khoán…
4. Bảo đảm tiền vay (Collateral)
Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng và là nguồn tài sản thứ hai có
thể dùng trả nợ vay cho ngân hàng.
5. Các điều kiện (Conditions)
Ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo chính sách tín dụng từng thời
kì như cho vay hàng xuất khẩu với điều kiện thu ngân phải qua ngân hàng, nhằm
thực thi chính sách tiền tệ.
6. Kiểm soát (Control)
Tập trung vào những vấn đề như sự thay đổi của pháp luật có liên quan tới
quy chế hoạt động mới có ảnh hưởng xấu đến người vay hay không? Yêu cầu tín
dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng không?
1.2.7.2 Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng
Sử dụng mô hình điểm tín dụng, ngân hàng sẽ dựa vào một số tiêu chí để
“chấm điểm” khách hàng, qua đó có thể sắp xếp phân loại từng khách hàng vào
mỗi nhóm phù hợp. Mỗi nhóm khác nhau sẽ được áp dụng những chính sách tín
dụng khác nhau.
Bảng dưới đây là những hạn mục và điểm thường được sử dụng ở các
ngân hàng ở Hoa Kỳ.
STT Các hạng mục chất lượng tín dụng Điểm
CAO VIỆT SƠN – LTCĐ 6E 15
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
1 Nghề nghiệp của người vay
- Chuyên gia hay phụ trách kinh doanh
- Công nhân có kinh nghiệm
- Nhân viên văn phòng
- Sinh viên
- Nhiều hơn 1 năm
- Từ 1 năm trở xuống
2
1
6 Điện thoại cố định
- Có
- Không có
2
0
CAO VIỆT SƠN – LTCĐ 6E 16
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
7 Số người sống cùng (phụ thuộc)
- Không
- Một
- Hai
- Ba
- Nhiều hơn ba
3
3
4
4
2
8 Các khoản tại ngân hàng
- Cả tài khoản tiết kiệm và phát hành Séc
- Chỉ tài khoản tiết kiệm
- Chỉ tài khoản phát hành Séc
- Không có
4
3
2
trả lời được: Liệu người vay có đang tin cậy về tài chính, đạo đức kinh doanh?
Hợp đồng tín dụng có được cấu trúc để bảo vệ lợi ích cho ngân hàng không?
Ngân hàng có quyền với TSBĐ khi thanh lý hay không?
1.2.8.3 Thực hiện bảo đảm, bảo lãnh, bảo hiểm
Biện pháp này liên quan chủ yếu tới việc yêu cầu ngân hàng khống chế
được nguồn ngân quỹ hoặc tài sản của người vay để đảm bảo có sự tương quan
với số tiền đã vay. Lợi ích của phương pháp này là giúp ngân hàng nắm quyền
thanh lý hợp đồng, tài sản cầm cố, chủ động phát mãi tài sản để bù đắp cho
khoản tiền vay mà khách hàng không trả được.
1.2.8.4 Thiết kế sản phẩm tín dụng phù hợp với nhu cầu vốn của khách hàng
Theo quy luật cung cầu của thị trường, các đơn vị kinh doanh phải tạo ra
được các sản phẩm dịch vụ phù hợp với nhu cầu của khách hàng để có thể tiêu
thụ được trên thị trường. Việc thiết kế các sản phẩm tín dụng phù hợp sẽ giúp
ngân hàng tập trung vào đối tượng khách hàng của mình, cũng như giảm thiểu rủi
ro.
Việc thiết kế sản phẩm dịch vụ tín dụng phù hợp liên quan tới thẩm định
dự án, phương pháp vay vốn để có thể đưa ra mức cho vay, thời hạn cho vay và
lãi suất cho vay phù hợp. Ví dụ như, mức cho vay cần đáp ứng đủ nhu cầu của
CAO VIỆT SƠN – LTCĐ 6E 18
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
khách hàng, tránh tình trạng cho vay ít hơn nhu cầu làm cho chủ thể vay vốn khó
khăn trong việc thực hiện kinh doanh.
1.2.8.5 Giám sát tín dụng
Để giảm RRTD tới mức tối thiểu, ngân hàng cần quan tâm tới việc giám
sát việc sử dụng vốn vay của khách hàng để đảm bảo vốn được dùng đúng mục
đích cam kết. Ngoài ra việc giám sát tín dụng còn làm cho ngân hàng nắm rõ
hoàn cảnh, vị thế tài chính của khách hàng cũng như năng lực hoàn trả để có thể
đưa ra sự chỉnh sửa phù hợp nếu cần thiết.
1.2.8.6 Nâng cao năng lực, trình độ và đạo đức của cán bộ quản lý
Tất cả sản phẩm ngân hàng cung cấp đều dựa trên sự đánh giá của con
tài chính. Cũng không được phép đầu tư hơn 10% vốn vào các công ty
hoạt động phi tài chính. Mức đầu tư vốn vào một công ty đơn lẻ giới hạn ở
2% vốn tự có của ngân hàng. Tổng vốn đầu tư giới hạn ở 10% vốn tự có
của ngân hàng
- Thái Lan: giới hạn ở mức 10% vốn khách hàng vay và 20% vốn của ngân
hàng. Giới hạn cho vay cho nhóm khách hàng ở mức 5% vốn ngân hàng,
50% giá trị ròng của doanh nghiệp và 25% giá trị nợ.
- Colombia: giới hạn cho vay nhóm khách hàng liên quan là 10% vốn tự có
của ngân hàng. Có thể mở rộng 25% nếu có TSBĐ tốt.
1.3.3 Phòng ngừa RRTD bằng biện pháp đặt ra giới hạn mức cho vay
Phòng ngừa RRTD là hoạt động được xem là thường xuyên của ngân hàng
các nước trong việc quản lý danh mục tín dụng của mình. Biện pháp sử dụng là
đặt ra các hạn mức cho vay dựa trên vốn tự có của ngân hàng đối với khách hàng
vay riêng lẻ hay nhóm khách hàng vay:
- Singapore: giới hạn cho vay khách hàng đơn lẻ bằng 25% vốn tự có của
ngân hàng.
- Thái Lan: giới hạn cho vay khách hàng đơn lẻ bằng 25% vốn tự có của
ngân hàng.
- Columbia: giới hạn ở mức 40% giá trị ròng của khách hàng vay.
CAO VIỆT SƠN – LTCĐ 6E 20
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
1.3.4 Phòng ngừa RRTD bằng biện pháp kiểm tra, giám sát:
Kiểm tra và giám sát là các hoạt động thường xuyên được thực hiện trước,
trong và sau khi cho vay.
- Singapore: kiểm tra trong quá trình phát vay, báo cáo hàng tháng và hàng
quý.
- Thái Lan: kiểm tra trong quá trình phát vay và sau khi cho vay, giám sát
hệ số đủ vốn dự báo, có hệ thống báo cáo định kỳ.
- Columbia: kiểm tra trong quá trình vay, kiểm tra bởi ủy ban giám sát ngân
hàng.
điều lệ ban đầu).
Thực hiện phương án tái cấu trúc cơ cấu hoạt động ngân hàng, tháng 7/
2005, Ngân hàng Đồng Tháp Mười đã mời thêm các cổ đông mới tham gia, tăng
vốn điều lệ lên 90 tỷ đồng, trong đó có các cổ đông lớn có tiềm lực tài chính và
kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính ngân hàng như Tổng Công ty Xăng dầu
Việt Nam (PETROLIMEX), Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn (SSI).
Với sự tham gia của các cổ đông lớn, hoạt động của ngân hàng đã có nhiều
chuyển biến tích cực, tháng 9/2006 Ngân hàng tăng vốn lên 200 tỷ đồng, tổng tài
sản của PG Bank tại thời điểm 31/12/2006 đạt 1.187 tỷ đồng, tổng dư nợ 801 tỷ
đồng, tổng doanh thu năm 2006 đạt 69 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế là 17,49 tỷ
CAO VIỆT SƠN – LTCĐ 6E 22
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
đồng.Ngân hàng đã cùng với một tổ chức tư vấn nước ngoài hoàn thiện chiến
lược phát triển dài hạn. Đồng thời, ngân hàng cũng lựa chọn và triển khai phần
mềm ngân hàng lõi (Core banking) của hàng IFLEX, một trong những phần
mềm ngân hàng hiện đại nhất hiện nay.
Tháng 3/2007, PG Bank được Ngân hàng Nhà Nước cho phép chuyển
đổi thành Ngân hàng cổ phần đô thị theo Quyết định số 125/QĐ-NHNN ngày
12/01/2007 và đổi tên theo Quyết định số 368/QĐ - NHNN ngày 08/02/2007.
Theo đó, PG Bank sẽ được phép mở rộng mạng lưới trên phạm vi toàn quốc và
thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ ngân hàng như thanh toán quốc tế và kinh doanh
ngoại hối.
Ngày 17/3/2010, PG Bank chính thức chuyển trụ sở chính từ Đồng tháp về
Thủ đô Hà Nội theo Quyết định số 3209/QĐ-NHNN ngày 25 tháng 12 năm 2009
của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Trụ sở mới của PG Bank đặt tại Văn phòng
5, nhà 18T1-18T2 khu đô thị mới Trung Hòa – Nhân Chính, Đường Lê Văn
Lương, Phường Nhân Chính, Quận Thanh Xuân, Hà Nội.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức:
Các phòng ban đươc quy định chức năng nhiệm vụ cụ thể. Với bộ máy bố
trí hợp lý, gọn nhẹ, đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ cao, cùng sự quản
PGD trực
thuộc)
PGD khác
PGD hàng
ngày
Các
chi
nhánh
cấp II
(4chi
nhánh
cấp 2
loại 4
và 5
chi
nhánh
cấp 2
loại 5
Chi nhánh Tây Sơn
(loại 4)
Chi nhánh Định
Công
(loại 4)
Chi nhánh Trung
Yên
(loại 4)
Chi nhánh Chợ Mơ
(loại 4)
CN Láng Thượng
(loại 4)
NV nội tệ 9.655 91,8% 4.332 80% 8.090 85,7%
NV ngoại tệ 863 8,2% 1.067 20% 1.340 14,3%
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2009-2011 Petrolimex Kim Liên)
CAO VIỆT SƠN – LTCĐ 6E 25