LỜI MỞ ĐẦU
Trong khi tiến hành đầu tư vào bất kỳ chứng khoán nào, cần phải xem xét
việc đầu tư đó trong mối quan hệ so sánh với các cơ hội đầu tư khác trong nền
kinh tế và trên thị trường quốc tế. Do đó, cần phải tiến hành phân tích chứng
khoán. Việc phân tích bao gồm: đánh giá môi trường vĩ mô, tình hình thị trường
chứng khoán, phân tích ngành nghề và phân tích công ty cùng với từng chứng
khoán riêng lẻ nhằm xác định hiệu quả đầu tư có thể thu được tương ứng với mức
rủi ro dự kiến. Trong giới hạn của đề tài, nhóm chúng tôi xin đi sâu vào việc phân
tích môi trường vĩ mô và áp dụng các mô hình, các chỉ số trong việc đánh giá các
cổ phiểu của công ty.
Việc phân tích này giúp các nhà đầu tư trả lời các câu hỏi trước khi đưa ra các
quyết định đầu tư bao gồm: khi nào là thời điểm thuận lợi để đầu tư, khi nào cần
phải rút ra khỏi thị trường, đầu tư vào loại chứng khoán nào để phù hợp với mục
tiêu đề ra và giá cả thế nào?
Vì vậy trong nội dung bài tiểu luận của mình em đã mạnh dạn lựa chọn đề tài”
Phân tích môi trường đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2013
-2014
CHƯƠNG 1: PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ THẾ GIỚI
1.1. Kinh tế thế giới sau khủng hoảng
Nền kinh tế thế giới đã trải qua cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong lịch sử.
Khủng hoảng tài chính bùng phát tại Mỹ và lan rộng toàn cầu, kéo theo sự sụp đổ
đồng loạt các định chế tài chính khổng lồ. Thị trường chứng khoán khuynh đảo.
Kinh tế thế giới suy thoái. Thị trường hàng hoá biến động khôn lường. Dưới đây là
một số thống kê của WB về các chỉ số kinh tế chính của thế giới trong ba năm
2007, 2012, 2013.
Bảng 1 : Thống kê một số chỉ số kinh tế chính của WB
Thương mại thế giới
Kim ngạch thương mại của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều sút giảm
mạnh. Theo thống kê của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tính hết Q3/2013
thương mại hàng hóa thế giới theo giá hiện hành vẫn giảm 26.4% so với cùng kỳ
nhiều so với mức đỉnh 5.7% vào tháng 7. Tuy nhiên, đây cũng là mức khá cao so
với tỷ lệ thất nghiệp trung bình dài hạn của nước này.
Về lạm phát, Giá cả của hầu hết các hàng hóa đều giảm xuống mức thấp nhất
vào khoảng tháng 2 – 3/2013, sau đó bắt đầu phục hồi lại khá mạnh. Dưới đây là
biểu đồ về giá của một số hàng hoá cơ bản trên thế giới
Biểu đồ 1: Một số chỉ số hàng hoá cơ bản của thế giới
Giá dầu thô từ mức đỉnh hơn 150 USD/thùng, chưa đầy 6 tháng sau đó
xuống gần chạm mốc 30 USD/thùng vào giữa tháng 2/2013. Mức giá này tương
đương với giá dầu thô vào năm 2004. Sự sụt giảm mạnh của giá dầu thô như là
một chỉ báo cho thấy kinh tế thế giới sẽ đi vào một giai đoạn suy thoái nặng nề.
Tuy nhiên, ngoài dự đoán của nhiều người, giá dầu nhanh chóng phục hồi khá
mạnh. Chỉ 4 tháng sau đó, giá dầu đã tăng gấp đôi lên trên mức 70 USD/thùng.
Giá cao su cũng tăng lên khá mạnh sau khi đạt mức đáy vào tháng 12/ 2012.
Tính từ mức đáy cho đến nay giá cao su đã tăng hơn gấp 2 lần và hiện đang dao
động quanh mức 1.3 USD/pound. Giá các mặt hàng nông sản, đường, cà phê, ngô
và các kim loại cũng tăng lên khá mạnh.
1.2. Kinh tế thế giới năm 2010
1.2.1.Tăng trưởng kinh tế
Theo ước tính của IMF, trong quý I/2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu
đạt 4,3%, cao hơn mức kỳ vọng và gần sát mức đỉnh điểm 5% trước khủng hoảng;
tuy nhiên, khả năng tăng trưởng có thể yếu dần vào giai đoạn nửa sau của năm
2010, phụ thuộc mức độ phục hồi của khu vực tư nhân, sự ổn định của khu vực tài
chính, đặc biệt là khu vực đồng Euro. Dự báo cả năm 2010, kinh tế toàn cầu tăng
trưởng 4,25%, cao hơn nhiều so với mức -0,6% của năm 2013.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế không đồng đều giữa các khu vực, trong đó các
nền kinh tế đang phát triển và mới nổi đạt tốc độ tăng trưởng mạnh nhất là 7,6%
trong Quý I/2010, riêng Trung Quốc đạt tốc độ tăng trưởng tới 11,9%. Đối với các
nước phát triển, Mỹ đang có tốc độ phục hồi nhanh hơn so với khu vực Châu Âu
và Nhật Bản, mặc dù cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu từ
cuối năm 2012 bắt nguồn từ Mỹ.
ổn trực tiếp cho toàn bộ khu vực đồng Euro; dự báo, nợ công năm 2010 của Hy
Lạp lên tới 124,9% (trong đó nợ nước ngoài có thể lên tới 80%) trong khi thâm hụt
ngân sách tiếp tục duy trì ở mức cao (-12,2%) dẫn đến nguy cơ vỡ nợ cao, tạo
phản ứng lan truyền sang Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và ảnh hưởng tới hoạt động
kinh tế của cả khu vực. Mới đây, các tổ chức định mức tín nhiệm như S&P,
Moody’s và Fitch Rating đã hạ mức độ tín nhiệm đối với trái phiếu chỉnh phủ Hy
Lạp, Bồ Đào Nha xuống mức thấp.
1.2.5.Diễn biến tỉ giá
Trong 6 tháng đầu năm 2010, đồng USD tăng giá mạnh so với đồng Euro,
GDP và AUD trong khi lại giảm giá đối với hầu hết các đồng tiền chủ chốt Châu
Á. Nguyên nhân chính của việc đồng USD tăng giá mạnh so với đồng Euro, GDP
và AUD là do cuộc khủng hoảng nợ tại Hy Lạp, Bồ Đào Nha gây ra. Trong khi,
tình trạng thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại tăng cao tại Mỹ trong quý
I/2010 đã khiến đồng USD giảm giá so với các đồng tiền Châu Á – khu vực có tốc
độ tăng trưởng kinh tế mạnh. Tính đến ngày 31/5/2010, đồng USD tăng 16,4% so
với đồng EURO, tăng 11,22% so với GDP, tăng 5,93% so với AUD và giảm
1,89% so với JYP
Diễn biến lãi suất của Ngân hàng trung ương các nước
Trong 6 tháng đầu năm 2010, NHTW của hầu hết các nước tiếp tục duy trì
lãi suất chủ chốt như cuối năm 2013 (0,25% tại Mỹ và Thuỵ Sỹ, 1% tại Châu Âu
và Pháp, 0,5% tại Anh, 0,1% tại Nhật Bản, 2% tại Hàn Quốc, 5,31% tại Trung
Quốc, 1,25% tại Thái Lan, 0,03% tại Singapore, 6,5% tại Indonesia, ), ngoại trừ
NHTW Australia 3 lần tăng lãi suất từ 3,75% lên 4,5%, NHTW Canada tăng từ
0,25% lên 0,5%, NHTW Na Uy tăng từ 1,61% lên 1,75%.
1.3.Triển vọng và thách thức nền kinh tế thế giới trong những năm tới
Theo dự báo, tăng trưởng GDP toàn cầu sẽ giảm từ 4,4% năm 2010 xuống
còn 3,6% năm 2011 khi các gói kích thích tài chính hết hiệu lực. Triển vọng của
các thị trường mới nổi cải thiện chút ít và các nhà đầu tư đang mua vào các tài sản
có tính rủi ro cao hơn. Điều này đang tạo ra những quan ngại về việc định giá
đồng tiền có thể tạo ra bong bóng giá tài sản và dù khả năng suy thoái kép chưa
khoảng 10% trong năm 2010. Tuy nhiên, GDP của Trung Quốc năm 2011 sẽ giảm
với dự kiến tăng 8,6%.
. Mỹ Latinh cũng gây nhiều ngạc nhiên trong năm 2010 nhờ xuất khẩu
hàng hóa tăng, thị trường việc làm hồi phục nhanh và thị trường Mỹ mạnh trở lại.
Tuy nhiên, triển vọng năm 2011 sẽ không được "sáng sủa" lắm và nhiều khả năng
tăng trưởng sẽ chậm lại với khả năng giảm từ 5,2% năm 2010 xuống còn 3,6%
năm 2011.
Trung Đông và châu Phi, tăng trưởng kinh tế tại khu vực Trung Đông và
châu Phi năm 2010 được thúc đẩy nhờ giá dầu mỏ cao, chính sách nội địa được
nới lỏng và nhu cầu nguyên liệu thô từ Trung Quốc. Năm 2011, tăng trưởng tại
các khu vực này vẫn duy trì ở mức 4,5%.
Từ những phân tích ở trên, ta có thể thấy kinh tế thế giới trong những năm
tới sẽ tiếp tục phục hồi tuy vẫn còn nhiều trở ngại. Tuy nhiên nhà đầu tư hoàn toàn
có quyền hi vọng về một tương lại sáng sủa của nền kinh tế, nhất là ở các quốc gia
đang phát triển như Trung Quốc hay Việt Nam bởi những quốc gia này đang có
tốc độ phát triển nhanh hơn hẳn các nước phát triển.
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ VÀO THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2013 - 2014
2.1.Phân tích các môi trường ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán Việt
Nam
Nhóm chúng tôi đã sử dụng mô hình PESTEL để nghiên cứu, đánh giá sự tác
động cũng như dự báo sự thay đổi của các nhân tố vĩ mô đến các ngành kinh tế.
Các yếu tố này là các yếu tố bên ngoài của của doanh nghiệp và ngành, và ngành
phải chịu các tác động của nó đem lại như một yếu tố khách quan. Các doanh
nghiệp dựa trên các tác động sẽ đưa ra những chính sách, hoạt động kinh doanh
phù hợp.
2.1.1. Môi trường chính trị - luật pháp
Sự ổn định về chính trị
Việt Nam là một đất nước ổn định, an toàn về chính trị- xã hội và đây là một
trong những yếu tố quan trọng, góp phần làm cho các nhà đầu tư trên thế giới ngày
)
Đẩy mạnh tiến độ đơn giản hóa các thủ tục hành chính và các bộ luật, tạo
điều kiện kinh doanh tốt cho doanh nghiệp. Thủ tục hành chính nhiêu khê trong
lĩnh vực xây dựng và bất động sản là một nỗi ám ảnh lớn của doanh nghiệp mà
báo chí đã phản ánh rất nhiều trong thời gian vừa qua. Mới đây, Bộ Xây Dựng báo
cáo kết quả rà soát thủ tục hành chính trong phạm vi của Bộ. Theo đó, tỉ lệ đơn
giản hóa các thủ tục hành chính lên 95,8%. Tuy nhiên xem xét trên thực tế, hiện
nay vẫn còn bộc lộ rất nhiều bất cập về thủ tục hành chánh. Thí dụ, về thủ tục lập,
thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng, đến nay nhiều đô
thị vẫn chưa xây dựng bản đồ tỷ lệ 1/2.000 nên thiếu cơ sở để quản lý, dẫn đến
tình trạng phải thoả thuận lại về quy hoạch, kiến trúc, làm phát sinh nhiều thủ tục,
mất nhiều thời gian, dễ dẫn đến tuỳ tiện, tiêu cực.
Nhìn chung, chính phủ đang rất quyết tâm cải cách thủ tục hành chánh và tạo
hành lang pháp lý tốt, thông thoáng cho doanh nghiệp. Dự án 30 – rà soát cải cách
thủ tục hành chánh của Bộ Xây Dựng được hoàn thành trong năm nay là một bước
tiến lớn, khẳng định xu thế tích cực. Các doanh nghiệp hoạt động trong ngành xây
dựng và bất động sản sẽ được hưởng lợi từ dự án này. (Nguồn: Dự án 30- Bộ Xây
Dựng).
2.1.2. Môi trường kinh tế (Economics)
Hệ thống kinh tế
Kinh tế Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp với nhiều thành phần kinh tế. Nhà
nước đang xây dựng hệ thống kinh tế hòa nhập với hệ thống toàn cầu. Kinh tế Việt
Nam là một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, nhiều nước và khối kinh
tế bao gồm cả một số nền kinh tế thị trường tiên tiến cũng công nhận Việt Nam là
nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, cho đến nay Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản vẫn chưa
công nhận kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Tổ chức Thương mại Thế
giới công nhận Việt Nam là nền kinh tế đang phát triển ở trình độ thấp và đang
chuyển đổi.
Mức ổn định tỉ giá hối đoái
Trong nhiều năm trở lại đây, Ngân hàng nhà nước (NHNN) kiên trì chính
công cụ điều hành chính sách tiền tệ, đặc biệt là công cụ dự trữ bắt buộc thiếu
linh hoạt. Các NHTM và Tổ chức tín dụng cạnh tranh với nhau tăng lãi suất huy
động vốn một cách một chiều, tạo nguy cơ tiềm ẩn rủi ro cho chính các NHTM.
Về thị trường chứng khoán. Có thể khẳng định rằng, trong tiến trình phát
triển Thị trường chứng khoán Việt Nam, tiềm năng của việc tham gia của các
NHTM là rất lớn. Việc các NHTM cổ phần niêm yết cổ phiếu trên Trung tâm giao
dịch chứng khoán, các NHTM NN cổ phần hóa thực hiện phát hành cổ phiếu lần
đầu trên Trung tâm, cũng như tới đây sẽ có thêm một số Công ty kinh doanh
chứng khoán của các NHTM đi vào hoạt động sẽ tạo đà thúc đẩy thị trường
chứng khoán Việt Nam phát triển mạnh hơn nữa.
Song cho đến thời điểm này, mới chỉ có gần 100 công ty cổ phần niêm yết cổ
phiếu trên Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh là quá ít, tạo
ra sự nghèo nàn hàng hóa trên thị trường chứng khoán. Cổ phiếu của các NHTM
chưa được niêm yết và giao dịch cũng phần nào hạn chế tính sôi động của thị
trường. Tính thanh khoản của thị trường chưa cao, thông tin chưa thật sự minh
bạch.
Những phân tích trên đây cho thấy thị trường tài chính nước ta chưa thực sự
cung cấp những yếu tố thuận lợi cho sự phát triển của các ngành kinh tế trong
nước. Tuy nhiên, trong thời gian tới với những chính sách đúng đắn trong việc ổn
định kinh tế vĩ mô của nhà nước, hi vọng thị trường tài chính sẽ có bước phát triển
vượt bậc và bền vững.
Cơ sở hạ tầng
Hiện nay, cơ sở hạ tầng của nền kinh tế nước ta còn rất nghèo nàn trong đó
chi phí thuê cơ sở vật chất cao còn ở mức cao, và đang được cải thiện.
Theo tính toán Việt Nam sẽ cần khoảng gần 140 tỷ USD để đầu tư cho lĩnh
vực cơ sở hạ tầng (viễn thông, bến cảng, sân bay, đường bộ, đường sắt, hàng
không) trong 5-10 năm tới. Chính phủ sẽ huy động tối đa các nguồn lực trong và
ngoài nước cũng như đóng góp từ khu vực kinh tế tư nhân để đáp ứng nhu cầu
này.
Tăng trưởng kinh tế
phát cao ở Việt Nam năm 2012 vẫn còn. Đó là sự thiếu kỷ luật tài chính trong đầu
tư công và trong hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và tập đoàn
lớn. Do vậy, kích cầu đầu tư thông qua nới lỏng tín dụng cho các DNNN và tập
đoàn mà thiếu sự thẩm định và giám sát thận trọng chắc chắn sẽ kích hoạt cho lạm
phát trở lại.
Mức lãi suất
Lãi suất cho vay giảm, nhưng vẫn ở mức độ cao so với khu vực, và vẫn mắc
so với ROE. Mức lãi suất cho vay đối với các doanh nghiệp hiện nay không thuộc
diện ưu tiên là rất cao, từ 15~16%/năm. Và về cơ bản, các doanh nghiệp vừa và
nhỏ rất khó tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng.
Để duy trì mục tiêu tăng trưởng kinh tế, bảo vệ thành tựu đã đạt được trong
kế hoạch 5 năm 2010 ~2015 là Việt Nam vừa lên bậc các nước có thu nhập trung
bình, Chính phủ Việt Nam sẽ phải tiếp tục đẩy mạnh dòng tiền cung cấp vốn cho
thị trường, nhanh chóng tháo gỡ các rào cản thủ tục, tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp có thể tiếp cận được các nguồn vốn, thực hiện mục tiêu lãi suất “vào 10 ra
12” của Thủ Tướng trong giai đoạn tới.
Cho dù trong thời gian tới, chính phủ sẽ cố gắng thực hiện kéo giảm lãi suất
cho vay xuống, nhưng với mục tiêu này, lãi suất cho vay của Việt Nam vẫn còn rất
cao so với khu vực (Thái Lan khoảng 8,5%, Malaysia khoảng 6,3%, Trung quốc
khoảng 8%), và vẫn còn rất đắt đỏ so với chỉ số ROE trung bình ngành xây dựng
(17%).
Hoạt động thương mại
Năm 2013, tình hình xuất nhập khẩu khẩu của Việt Nam gặp nhiều khó khăn
do khủng hoảng kinh tế toàn cầu dẫn đến sự đình trệ sản xuất và hạn chế tiêu dùng
ở những nước vốn là thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam như Mỹ, Nhật Bản,
EU
Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2013 ước đạt khoảng 56,5 tỷ USD, giảm
9,9% so với năm 2012. Tình hình xuất khẩu như vậy không đến nỗi quá xấu nếu
chúng ta nhìn vào nguyên nhân của nó. Kim ngạch xuất khẩu giảm là do giá cả thế
giới giảm (riêng yếu tố giảm giá trong 9 tháng đầu năm làm kim ngạch xuất khẩu
2.1.3. Môi trường văn hoá xã hội
Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chính sách giảm
nghèo, trong đó có chính sách hỗ trợ cho các hộ nghèo xây nhà ở, vay vốn sản
xuất, kinh doanh, cho vay học sinh, sinh viên, mua thẻ bảo hiểm y tế. Đồng thời,
chính phủ cũng triển khai công tác hỗ trợ các hộ nghèo, hộ bị ảnh hưởng thiên tai,
bị thiệt hại về gia súc, gia cầm, vật nuôi để ổn định sản xuất và đời sống. Ngoài ra,
chính phủ cũng đã tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết 30a/2012/NQ-CP của
Chính phủ gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới; tổ chức, động viên các
doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân hỗ trợ các huyện nghèo thực hiện chương
trình này; ứng trước vốn cho các huyện; triển khai các chính sách mới, trong đó có
chính sách cấp gạo cho hộ nghèo ở biên giới, thực hiện mức khoán mới về bảo vệ
rừng, hỗ trợ học nghề, xuất khẩu lao động và tăng cường cán bộ cho các huyện
nghèo. Hoạt động chăm sóc người có công và các đối tượng chính sách tiếp tục
được duy trì và mở rộng.
Năm 2013 tổng số chi cho an sinh xã hội ước khoảng 22.470 tỷ đồng, tăng
62% so với năm 2012, trong đó chi điều chỉnh tiền lương, trợ cấp, phụ cấp khoảng
36.700 tỷ đồng; trợ cấp cứu đói giáp hạt và khắc phục thiên tai 41.580 tấn gạo
(riêng số gạo cứu trợ đợt đầu khắc phục hậu quả bão số 9 là 10.300 tấn). Tổng dư
nợ của 18 chương trình cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách do Ngân
hàng Chính sách xã hội thực hiện ước đến cuối năm đạt 76 nghìn tỷ đồng, tăng
45,3% so với năm 2012. Các doanh nghiệp đã hỗ trợ 62 huyện nghèo trên 1.600 tỷ
đồng. Kết quả các nỗ lực chung đó đã góp phần ổn định và cải thiện đời sống nhân
dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, các đối tượng chính
sách, góp phần xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm và giữ vững ổn định
chính trị, xã hội.đặc biệt là đối với người nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo đến cuối năm
2013 giảm còn khoảng 11%. Tuy nhiên, tình hình suy giảm kinh tế đã ảnh hưởng
trực tiếp đến khả năng giải quyết việc làm cho người lao động. Dự kiến đến cuối
năm 2013, có khoảng 1,51 triệu lượt lao động được giải quyết việc làm, đạt 88,5%
kế hoạch năm và bằng 93,2% so với thực hiện năm 2012. Số lao động đi làm việc
ở nước ngoài năm 2013 ước đạt 7 vạn người, giảm đáng kể so với con số 8,5 vạn
sách phát triển bền vững, bảo vệ môi trường của Việt Nam. Nhưng công nghệ
trong ngành này cũng không có những phát triển đột biến.
2.2. Phân tích môi trường đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam
giai năm 2013-2014
2.2.1. Những điểm hấp dẫn của thị trường chứng khoán Việt Nam trong
những năm gần đây
. GDP sẽ tăng tốc nhờ xuất khẩu và chính sách kinh tế phản chu kỳ
Theo các dự báo, xuất khẩu của Việt Nam sẽ tăng đến 20% trong năm 2014 nhờ vào sự phục hồi kinh tế
của Mỹ, châu Âu và Nhật Bản, những nước đang đóng góp vào phân nửa kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam. Trong dài hạn, Việt Nam không chỉ được lợi từ sự gia tăng khối lượng xuất khẩu vào các thị trường
phát triển, mà còn từ sự gia tăng thị phần xuất khẩu toàn cầu với các hàng hóa có giá trị gia tăng.
Tiền công thấp hơn đáng kể so với các đối thủ châu Á, như Trung Quốc và Indonesia, cũng hấp dẫn các
công ty đa quốc gia trong lĩnh vực điện tử như Samsung và LG đầu tư vào Việt Nam. Sự hoàn tất Hiệp định
thương mại đối tác xuyên Thái Bình Dương và Hiệp định thương mại tự do với EU sẽ khiến Việt Nam thậm
chí còn hấp dẫn các nhà sản xuất nhiều hơn. Bên cạnh đó, nền kinh tế cũng sẽ được lợi từ gói chính sách
phản chu kỳ, như cắt giảm thuế, trong đó có việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp còn 20% cho các doanh
nghiệp nhỏ.
Việc cắt giảm mạnh lãi suất cuối cùng cũng đã giúp tăng trưởng tín dụng bật trở lại khi niềm tin kinh doanh
hồi phục và niềm tin tiêu dùng cải thiện. Tuy nhiên, mức nợ xấu cao có thể sẽ hạn chế tín dụng tăng trưởng
mạnh hơn. Theo báo cáo thì Việt Nam có khối lượng nợ xấu cao nhất Đông Nam Á. Để làm hồi sinh hoạt
động cho vay, Chính phủ đã thiết lập một công ty quản lý tài sản trong năm 2013 để mua lại nợ từ các ngân
hàng. Tính đến cuối năm 2013, công ty này đã mua được khoảng 1,5 tỷ USD nợ xấu, trong số khoảng 5 tỷ
USD nợ xấu, theo Bloomberg. Việc mua thêm đến 4,7 tỷ USD nợ trong năm 2014 sẽ đủ để đưa lĩnh vực
ngân hàng trở lại bình thường và thúc đẩy hoạt động cho vay khi tâm lý của khu vực tư nhân đang dần
được cải thiện.
Tăng trưởng GDP theo năm của Việt Nam
2. Chính phủ tăng tốc cải cách cơ cấu, tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và quyết liệt
chống tham nhũng
Trong khi các địa chỉ đầu tư cho đến gần đây còn hấp dẫn các nhà đầu tư như BRICs, Thổ Nhĩ Kỳ và
phương tây và điều này chắc chắn đang thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư dạng này.
Chỉ số môi trường kinh doanh (trái) và chỉ số niềm tin tiêu dùng (phải)
6. Quy định đầu tư được nới lỏng, cho phép các nhà quản lý tài sản lớn dễ dàng tham gia hơn
Với mức vốn hóa thị trường khoảng 33 tỷ USD vào cuối năm 2012, cùng với những giới hạn về tỷ lệ sở hữu
nước ngoài, TTCK Việt Nam đã không hấp dẫn được các nhà quản lý tài sản nước ngoài lớn. Nhưng Chính
phủ Việt Nam giờ đang nới lỏng các hạn chế đối với đầu tư gián tiếp nước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng
và các công ty phi ngân hàng, đồng thời tư nhân hóa một số DNNN lớn, giúp thị trường gia tăng cả về chiều
rộng lẫn chiều sâu.
7. Chứng khoán Việt Nam không đắt
Chỉ số P/E xấp xỉ 11 và P/B khoảng 1,4 không thực sự hấp dẫn để đầu tư giá trị, nhưng chắc chắn là không
đắt khi so sánh với các thị trường mới nổi khác. Với tỷ lệ đó, triển vọng tăng trưởng là chưa được tính vào
một cách đầy đủ.
8. Lợi nhuận doanh nghiệp sẽ tăng mạnh do GDP tăng trưởng nhanh hơn
Với những đặc điểm kể trên, có một vài chỉ báo quan trọng cho thấy tăng trưởng GDP sẽ được cải thiện.
Chứng chỉ Market Vectors Vietnam ETF (VNM) được xếp ở khu vực tăng trưởng cao. Cơ cấu 26% vào các
công ty tài chính sẽ mang lại lợi ích trực tiếp bởi nhu cầu tiêu dùng mạnh hơn và doanh nghiệp vay nhiều
hơn khi tâm lý cải thiện. Khi quá trình làm sạch nợ xấu tiến triển, các ngân hàng sẽ có một trạng thái tốt để
đáp ứng các nhu cầu tăng lên đó.
Bên cạnh đó, lợi nhuận đầu tư có lẽ cũng được hiện thực hóa khi bất động sản và chứng khoán ổn định.
Các công ty phi ngân hàng trong chỉ số này (24% năng lượng, 13% công nghiệp, 10% vật liệu) sẽ tăng
trưởng đầu tiên do (gián tiếp) xuất khẩu tăng lên.
9. Biên lợi suất thu hẹp trong bối cảnh chi phí gia tăng
Lợi nhuận ngân hàng chịu áp lực đáng kể gần đây khi các ngân hàng cạnh tranh huy động thông qua lãi
suất tiền gửi cao hơn, trong khi lãi suất cho vay giảm mạnh. Chênh lệch lãi suất cho vay - huy động bình
quân hiện thấp hơn 3%, giảm so với mức 5% cách đây vài tháng, theo tổng giám đốc một ngân hàng Việt
Nam.
Các lĩnh vực khác trong VNM sẽ bị ảnh hưởng bởi khoảng 12% tăng lên trong tiền công năm 2013, và một
mức tương tự được dự báo trong năm 2014. Bên cạnh đó, giá điện tăng 5% trong năm 2013, nhưng vẫn
thấp hơn nhiều so với mức để doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực này thu lợi nhuận. Bởi vậy, nhu cầu năng
Nam đà suy giảm đã được ngăn chặn và bắt đầu có sự phát triển. Có 18/25 chỉ tiêu
đặt ra cho năm 2013 đạt và vượt. GDP của 11 tháng trên 5%, tăng trưởng tín dụng
36%, lạm phát vẫn trong giới hạn kiểm soát, bội chi ngân sách khoảng 6,9%, an
sinh xã hội được đảm bảo. Thị trường chứng khoán Việt Nam mặc dù trồi sụt thất
thường, nhưng vẫn có tốc độ tăng trưởng rất ấn tượng. Có thể điểm qua diễn biến
của TTCK 11 tháng của năm thông qua bảng số liệu sau:
Bảng 3 : Các chỉ tiêu của Thị trường chứng khoán hai năm 2012 và 2013
Các chỉ tiêu thị trường 31/12/2012 30/11/2013
1. Giá trị vốn hóa thị trường (tỷ đồng) 225.934 669.000
2. Mức độ vốn hóa/GDP năm 2012(%) 18% 55%
3. Số lượng cổ phiếu niêm yết 338 385
4. Số lượng công ty chứng khoán 102 105
5. Số lượng công ty quản lý quỹ 43 47
6. Số lượng công ty đại chúng đã đăng ký 1.090 1.016
7 Số tài khoản mở tại CTCK 550.000 730.000