1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Tập đoàn Dệt may Việt nam được thành lập ngày 02/12/2005 theo Quyết định
314/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại hoạt động của Tổng
công ty Dệt May Việt nam. Trong những năm qua Tập đoàn Dệt - May Việt Nam đã có
nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế đất nước về tạo việc làm, nguồn thu
ngân sách và kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên trong những năm gần đây trong bối cảnh nền
kinh tế trong nước chịu ảnh hưởng nặng nề bởi suy thoái kinh tế thế giới, mặt khác trong
điều kiện phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu
rộng, Tập đoàn Dệt - May Việt Nam cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức to lớn, đòi
hỏi phải có sự thay đổi mạnh mẽ cả về kỹ thuật - công nghệ sản xuất, tổ chức quản lý, cơ
chế chính sách để có thể tiếp tục cạnh tranh bình đẳng và phát triển một cách bền vững.
Nghị quyết Hội nghị TW 3 của BCH Trung ương Đảng, khóa XI đã đề ra mục
tiêu phát triển giai đoạn 2011-2015 là: “ Phát triển kinh tế nhanh, bền vững, gắn với
đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng,
hiệu quả, sức cạnh tranh, ”. Quốc hội Khóa XIII cũng đã thông qua Nghị quyết về Kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015, trong đó tái cơ cấu doanh nghiệp,
chủ yếu là các TĐKT, TCT Nhà nước là một trong ba trọng tâm của tái cơ cấu nền
kinh tế. Tái cơ cấu TĐKT, TCT nhà nước đòi hỏi phải thực hiện nhiều nội dung khác
nhau, từ tổ chức lại hệ thống sản xuất, ngành nghề kinh doanh, bộ máy quản lý đến
nguồn nhân lực, chiến lược phát triển, thị trường và sản phẩm. Điều đó cũng liên quan
mật thiết đến các hoạt động tài chính của Tập đoàn, đòi hỏi cơ chế quản lý tài chính
của Tập đoàn cũng phải được tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cho phù hợp, tạo điều kiện
thúc đẩy và nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD của Tập đoàn.
Về khung khổ pháp lý, mặc dù từ năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành
Nghị định 101/2009/NĐ-CP ngày 5/11/2009 về thí điểm thành lập, tổ chức, hoạt động
2
Nam” của TS. Trần Tiến Cường và các tác giả năm 2005. Nội dung chủ yếu là tổng hợp
các kinh nghiệm quốc tế về hình thành và phát triển Tập đoàn kinh tế từ khu vực doanh
nghiệp Nhà nước, phân tích cơ hội và thách thức đối với các Tổng công ty Nhà nước khi
phát triển theo hướng Tập đoàn kinh tế, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp về chính sách
cho quá trình hình thành Tập đoàn kinh tế trên cơ sở các Tổng công ty ở Việt Nam.
* Luận án tiến sĩ ‟Đổi mới cơ chế quản lý vốn và tài sản đối với các Tổng công
ty 91 phát triển theo mô hình Tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam”, năm 2006 của tác giả
Nguyễn Xuân Nam. Nội dung chủ yếu của luận án là làm rõ quá trình hình thành, mô
hình, đánh giá thực trạng của cơ chế quản lý vốn và tài sản hiện nay của các Tổng công
ty 91, đưa ra được những ưu điểm và tồn tại của cơ chế quản lý vốn và tài sản của các
Tổng công ty 91 ở Việt Nam hiện nay. Đề xuất đổi mới cơ chế quản lý vốn và tài sản
của các Tổng công ty 91 ở Việt Nam hiện nay phù hợp với định hướng phát triển các
Tổng công ty 91 thành các Tập đoàn kinh doanh.
* Luận án tiến sĩ ‟Cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam
theo định hướng Tập đoàn kinh tế”, năm 2006 của tác giả Chu Xuân Lai. Luận án đã
phân tích quá trình hình thành và thực trạng cơ chế quản lý tài chính của các Tổng
công ty Nhà nước ở Việt Nam, chỉ ra được những vấn đề còn bất cập của cơ chế quản
lý tài chính hiện tại của các Tổng công ty, cũng như các nguyên nhân khách quan và
chủ quan của thực trạng này và đi đến khẳng định các Tổng công ty Nhà nước ở Việt
Nam nói chung, Tổng công ty Dầu khí (chưa phải là Tập đoàn kinh tế). Luận án đã đề
xuất mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động, đặc biệt là cơ chế quản lý tài chính của Tập
đoàn Dầu khí Việt Nam trên nguyên tắc quyền sở hữu về nguồn lực tài chính và tự chủ
về mặt tài chính làm nền tảng.
* Luận án tiến sĩ ‟Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trong các Tổng công ty
Nhà nước theo mô hình Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam”, năm 2008 của tác giả Phùng
Thế Tính. Nội dung của luận án đã làm sáng tỏ thực tiễn và rút ra những hạn chế trong
4
cơ chế quản lý tài chính hiện nay trong các TCT Nhà nước theo Quyết định 91/TTg
định hướng hoạt động theo mô hình Tập đoàn kinh tế. Đề xuất một số giải pháp nhằm
khác nhau khi nghiên cứu về cơ chế tài quản lý chính của TĐKT. Có công trình nghiên cứu
về cơ chế quản lý tài chính nói chung của các Tập đoàn kinh tế, song cũng có những công
trình lại chỉ nghiên cứu một hay một số nội dung của cơ chế quản lý tập đoàn như cơ chế
huy động vốn, sử dụng vốn hoặc kiểm tra, giám sát hoạt động tài chính của TĐKT. Có công
trình nghiên cứu cơ chế quản lý tài chính của một Tập đoàn cụ thể, có công trình nghiên cứu
cơ chế quản lý tài chính trên góc độ chung của các TĐKT. Tuy nhiên chưa có công trình
nghiên cứu nào về cơ chế tài chính của Tập đoàn Dệt May Việt Nam được công bố.
Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài ‟Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Tập đoàn
Dệt - May Việt Nam”. Đây là nghiên cứu đầu tiên về cơ chế quản lý tài chính của Tập
đoàn Dệt May Việt Nam. Nội dung đề tài tập trung nghiên cứu những lý luận cơ bản về cơ
chế quản lý tài chính trong các Tập đoàn kinh tế, đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài
chính tại Tập đoàn Dệt - May Việt Nam.
Trên cơ sở thực trạng cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn tác giả đề xuất một
số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Tập đoàn Dệt May Việt Nam.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu của luận án là đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn
nữa cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dệt - May Việt nam.
Để đạt được mục đích trên, các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra đối với luận án là:
- Nghiên cứu làm rõ hơn những vấn đề lý luận chủ yếu về TĐKT và cơ chế quản lý
tài chính trong các TĐKT, những kinh nghiệm về cơ chế quản lý tài chính trong các
TĐKT của một số quốc gia trên thế giới.
- Đánh giá đúng thực trạng cơ chế quản lý tài chính tại Tập đoàn Dệt - May Việt Nam
hiện nay, những ưu điểm đạt được và những mặt hạn chế tồn tại trong cơ chế quản lý tài chính
hiện hành tại Tập đoàn Dệt - May Việt Nam, nguyên nhân của những hạn chế tồn tại đó.
6
- Đề xuất phương hướng và những giải pháp cần thực hiện để hoàn thiện cơ chế
quản lý tài chính tại Tập đoàn Dệt - May Việt Nam, góp phần nâng cao hơn nữa chất
lượng hoạt động quản lý tài chính, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả
kinh doanh của Tập đoàn Dệt May Việt Nam.
chức năng của Tập đoàn Dệt May Việt Nam
- Số liệu thứ cấp được tác giả sử dụng qua một số kênh như: Niêm giám thống kê,
Tập đoàn Dệt May Việt Nam, Hiệp hội Dệt May Việt Nam. Ngoài ra luận án cũng sử
dụng một số số liệu báo cáo của Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Văn phòng Chính phủ…
7. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
- Làm rõ thêm những vấn đề lý luận cơ bản TĐKT và cơ chế quản lý tài chính của
các TĐKT. Làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung và mối quan hệ tài chính giữa công ty mẹ
và các công ty con trong TĐKT; các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế tài chính của các TĐKT.
- Chỉ ra những bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng cơ quản lý tài chính của
một số TĐKT trên thế giới để có thể xem xét vận dụng ở Việt nam.
- Phản ánh và đánh giá đúng thực trạng cơ chế quản lý tài chính tại Tập
đoàn Dệt May Việt Nam hiện nay trên các nội dung cơ bản: cơ chế huy động tạo
lập vốn; cơ chế đầu tư, sử dụng vốn; cơ chế phân phối lợi nhuận; cơ chế kiểm
tra, giám sát tài chính trong Tập đoàn.
- Chỉ ra được những ưu điểm và những hạn chế, tồn tại trong cơ chế quản lý
tài chính hiện tại của Tập đoàn Dệt May Việt nam; làm rõ nguyên nhân của những hạn
chế, tồn tại đó để có biện pháp khắc phục.
- Đã đề xuất được các nguyên tắc cơ bản để định hướng cho việc hoàn thiện cơ
chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dệt May Việt nam.
8
- Đề xuất được hệ thống những giải pháp phù hợp, khả thi để hoàn thiện cơ chế
quản lý tài chính của tập đoàn, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của Tập đoàn Dệt May Việt Nam.
8. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo,
luận án gồm 3 chương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế quản lý tài chính trong các
Tập đoàn kinh tế.
Chương 2: Thực trạng cơ chế quản lý tài chính tại Tập đoàn Dệt - May Việt Nam.
kinh tế. Tập đoàn kinh tế ra đời phản ánh trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất
10
trong nền kinh tế thị trường, bên cạnh đó nó còn thể hiện vai trò đầu tàu và chi phối
nhiều lĩnh vực then chốt của nền kinh tế của các quốc gia như năng lượng, giao thông
vận tải, xây dựng cơ bản, công nghiệp v.v….
Tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm Tập đoàn kinh tế
(TĐKT), không chỉ trong phạm vi quốc gia, mà còn là nội dung tranh luận trên phạm vi
quốc tế và giữa các nhà khoa học kinh tế.
Ở các nước phương Tây: TĐKT được nhận thức như là một tổ hợp các công ty
độc lập về mặt pháp lý gồm một công ty mẹ và nhiều công ty, hay chi nhánh góp vốn cổ
phần chịu sự kiểm soát của công ty mẹ [44], hoặc đó là một TĐKT về tài chính, gồm
một công ty mẹ và các công ty khác mà công ty mẹ kiểm soát hay tham gia góp vốn; mỗi
công ty con cũng có thể kiểm soát các công ty khác hay tham gia các tổ hợp khác [45]
Tại Malaysia và Thái Lan: TĐKT được xác định là tổ hợp kinh doanh với các mối
quan hệ đầu tư, liên doanh, liên kết và hợp đồng. Nòng cốt của các tập đoàn là cơ cấu công
ty mẹ - công ty con tạo thành một hệ thống liên kết chặt chẽ trong tổ chức và trong hoạt
động. Các thành viên trong tập đoàn đều có tư cách pháp nhân độc lập.
Theo Viện nghiên cứu Quản lí kinh tế Trung ương (CIEM) thì “TĐKT được hiểu
là một tổ hợp lớn các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoạt động trong một hay
nhiều ngành khác nhau, có quan hệ về vốn, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo,
nghiên cứu và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các bên tham gia. Trong mô
hình này, "công ty mẹ" nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của "công ty con" về
tài chính và chiến lược phát triển.” [10]
Tóm lại, mặc dù còn có những sự khác biệt trong nhận thức về TĐKT, tuy nhiên
có thể thấy các quan niệm về TĐKT ở trên đều thống nhất ở một số điểm sau đây:
+ TĐKT là một tổ hợp các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoạt động trong
một hay một số ngành có quan hệ với nhau về vốn, quản trị, công nghệ, thương hiệu, thị
trường và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các doanh nghiệp tham gia liên kết.
11
Tập đoàn kinh tế là tổ hợp kinh doanh chứa đựng trong đó các doanh nghiệp có tư
cách pháp nhân, nhưng bản thân tập đoàn lại không phải là một pháp nhân. Các doanh
nghiệp là thành viên của tập đoàn đều có pháp nhân độc lập, có cơ quan quyền lực cao
nhất như hội đồng thành viên (với công ty TNHH), đại hội đồng cổ đông (với công ty cổ
phần). Theo thỏa thuận giữa các thành viên của tập đoàn, chủ tịch hội đồng thành viên, hội
đồng quản trị các công ty trong tập đoàn tập hợp lại thành hội đồng chủ tịch tập đoàn. Hội
đồng chủ tịch bầu ra chủ tịch tập đoàn. Hội đồng chủ tịch không thực hiện chức năng điều
hành cụ thể đối với quá trình sản xuất, kinh doanh và tổ chức của các công ty thành viên;
do đó, không có chức danh tổng giám đốc tập đoàn.
Ba là, Tập đoàn kinh tế thường có quy mô lớn
Các TĐKT thường có quy mô rất lớn và tiềm lực tài chính rất mạnh. Quy mô của
TĐKT có nhiều khác biệt tuỳ thuộc ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, thời điểm khác nhau
và quốc gia khác nhau. Tuy chưa thống nhất tiêu chí phân định quy mô vốn, doanh thu, lao
động, nhưng nói đến TĐKT là ám chỉ một tổ hợp kinh doanh có quy mô vốn lớn, thậm chí
có khi lớn hơn cả tổng sản phẩm quốc nội của một quốc gia. Năm 2005, giá trị thị trường
của 5 TĐKT tiêu biểu đạt 1.060,35 tỷ USD; trong đó, Coca-Cola có giá trị 105,5 tỷ USD;
Microsoft là 272,46 tỷ USD; IBM là 121,3 tỷ USD; con số này với General Electric (GE)
và Intel lần lượt là 391,63 tỷ USD và 169,46 tỷ USD . Năm 2006, tổng giá trị của Coca-
Cola đạt 103 tỷ USD, của Pepsi đạt 105,4 tỷ USD.
Doanh thu của TĐKT thường rất lớn. Nhiều tập đoàn có quy mô kinh doanh toàn
cầu, chi nhánh ở hàng trăm quốc gia nên có doanh thu khổng lồ. Chẳng hạn tập đoàn
Exxon Mobil, doanh thu năm 2006 lên tới 339,938 tỷ USD, năm 2007 mặc dù tụt
xuống vị trí thứ 2 trong bảng xếp hạn fortune 500 nhưng vẫn đạt 347,254 tỷ USD, tập
đoàn Wal-Mart Stores có tổng doanh thu năm 2006 đạt 315,654 tỷ USD, năm 2007 đạt
351,139 tỷ USD (xếp thứ 1 trong Fortune 500 năm 2007)… Trong tốp 500 công ty
hàng đầu dựa trên doanh thu năm 2008 được tạp chí Fortune bình chọn, tập đoàn Nike
có doanh thu thấp nhất, đứng thứ 500 cũng đạt doanh thu lên tới 13,739 tỷ USD. Trong
13
bối cảnh kinh doanh hiện đại, hầu hết các tập đoàn đều kinh doanh đa ngành, có mặt ở
các CTC, biến các công ty “con”, công ty “cháu” thành công ty TNHH một thành viên
do công ty mẹ làm chủ sở hữu hoặc công ty mẹ chiếm trên 50% vốn điều lệ (với công ty
TNHH), giữ cổ phần chi phối (với công ty con, cháu là công ty cổ phần). Trên thực tế,
không một TĐKT nào chỉ có quan hệ về sở hữu vốn theo một cấp độ mà đan xen cả hai
cấp độ tùy theo từng trường hợp trong quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con, cháu.
Năm là, TĐKT có phạm vi hoạt động rộng, kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực
và sản phẩm
TĐKT có phạm vi hoạt động rất rộng, không chỉ giới hạn trong lãnh thổ quốc gia
mà có thể phân bố ở nhiều quốc gia trên thế giới. Mở rộng phạm vi là chiến lược của
hầu hết các tập đoàn trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt hiện nay, qua đó, các tập đoàn
tận dụng lợi thế về lao động, thị trường, tránh được hàng rào thuế quan, tìm được
những thị trường giàu tiềm năng, mở rộng thị trường cả đầu vào và đầu ra của sản
phẩm. Tập đoàn P&G có nhà máy sản xuất tại hơn 80 quốc gia trên thế giới, hơn 300
sản phẩm của tập đoàn này được tiêu thụ tại gần 200 nước.
Tập đoàn McDonald’s năm 2005 có trên 31.000 cửa hàng phân bố trên 121 quốc
gia trên thế giới và mỗi ngày tập đoàn này phục vụ 46 triệu khách hàng đủ các màu da,
ngôn ngữ với hơn 50 triệu cái bánh kẹp thịt kiểu Hamburger. Đó là chưa kể đến hàng
loạt các cửa hàng ăn nhanh được McDonald’s mua lại nhưng không đổi tên, chẳng hạn
hệ thống cửa hàng Partner - Brands ở Mỹ hay Prêt à Manger ở Anh. Tập đoàn Nokia
năm 2004 đã cung cấp 200 triệu chiếc điện thoại trên toàn thế giới, mỗi năm Nokia
phải mua, sản xuất và vận chuyển hơn 60 tỷ linh kiện sản xuất trên phạm vi toàn cầu.
Kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực là đặc điểm dễ nhận thấy trong các TĐKT.
Thông thường, mỗi tập đoàn lựa chọn những ngành chủ chốt và những ngành mũi
nhọn, bên cạnh đó, những lĩnh vực mạo hiểm và những ngành có liên quan được lựa
chọn đầu tư. Cũng có những tập đoàn kinh doanh rất đa dạng và các ngành không liên
15
quan nhiều đến nhau. Điển hình là tập đoàn Unilever với trên 1.600 sản phẩm độc lập, từ
kinh doanh mỹ phẩm (sản phẩm Dove) đến bột giặt (Omo), từ đồ uống (trà Lipton) đến
kem đánh răng … nhưng nhìn chung, hầu hết các tập đoàn lựa chọn một số ngành chủ
+ Hình thành TĐKT góp phần quan trọng nhằm khắc phục khó khăn về vốn của
các công ty cá biệt. Trong TĐKT, nguồn vốn huy động từ các công ty thành viên trước
hết được tập trung đầu tư tại các công ty thành viên, vào các dự án có hiệu quả nhất,
những dự án tạo ra sức mạnh quyết định đến sự tồn tại và phát triển của các công ty
thành viên và Tập đoàn. Bên cạnh đó vốn của công ty thành viên này còn được huy động
đầu tư vào công ty khác trong Tập đoàn, từng bước tạo sự gắn kết chặt chẽ và sự trợ giúp
giữa các công ty thành viên với nhau ngày càng chặt chẽ hơn. Các TĐKT đã từng bước
khắc phục tình trạng nguồn vốn bị phân tán và là cơ sở hình thành nên các trung gian tài
chính. Các trung gian tài chính giúp TĐKT sử dụng vốn một cách linh hoạt, không
ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho các TĐKT và các công ty thành viên.
+ Hình thành và phát triển các TĐKT là giải pháp quan trọng giúp Tập đoàn tích
cực đẩy mạnh nghiên cứu, triển khai ứng dụng khoa học công nghệ mới vào SXKD của
các đơn vị thành viên. Hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ đòi hỏi cần một
lượng vốn rất lớn, có sự hợp lực của đội ngũ nghiên cứu giàu kinh nghiệm, có phòng
thí nghiệm, trang thiết bị phục vụ công tác nghiên cứu khác mà mỗi công ty riêng rẽ
khó có khả năng huy động được. Chỉ có trên cơ sở liên kết các công ty lại mới tạo được
tiềm năng nghiên cứu khoa học to lớn đó.
Sự liên kết và hợp tác trong lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng khoa học và công
nghệ trong TĐKT tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty thành viên có khả năng đưa
nhanh những kết quả của nghiên cứu vào thực tiễn trên một quy mô rộng lớn hơn, từng
bước nâng cao hiệu quả của hoạt động nghiên cứu ứng dụng và thu hồi vốn nhanh.
Sự liên kết giữa các công ty thành viên trong việc thực hiện một chiến lược công
nghệ đã tạo ra một tiềm lực nghiên cứu khoa học lớn về cơ sở vật chất, về trình độ và
17
đội ngũ cán bộ nghiên cứu, triển khai ứng dụng nhanh và có hiệu quả những công trình
khoa học trên quy mô lớn, gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu ứng dụng với quá trình
SXKD của Tập đoàn và các công ty thành viên. Từng bước thu hồi vốn nhanh và hạn
chế những ảnh hưởng xấu do hao mòn vô hình.
Hai là: Đối với nền kinh tế
tranh quyết liệt từ các TĐKT nước ngoài và công ty đa quốc gia, không ngừng mở rộng,
củng cố vai trò và vị thế của mình trên thị trường trong nước, khu vực và trên thế giới.
1.1.4. Mô hình và cơ cấu tổ chức của Tập đoàn kinh tế
1.1.4.1 Mô hình tổ chức của Tập đoàn kinh tế
Hầu hết các TĐKT trên thế giới được hình thành trên cơ sở tổ hợp các công ty độc
lập về mặt pháp lý, bao gồm công ty mẹ và các công ty con; trong đó, công ty mẹ giữ vai
trò chủ đạo, chi phối về mặt tài chính, về chiến lược phát triển và các lĩnh vực khác được
quy định theo điều lệ của TĐKT. Tùy thuộc vào đặc thù của từng TĐKT, mỗi TĐKT có
thể có những cơ cấu và tổ chức khác nhau. Thông thường, các TĐKT được tổ chức theo
các mô hình sau:
- Mô hình tổ chức TĐKT theo đơn vị kinh doanh chiến lược:
Theo mô hình này các TĐKT được tổ chức dựa vào việc phân khúc thị trường,
nó phù hợp với các Tập đoàn kinh tế hoạt động kinh doanh đa dạng trên nhiều lĩnh vực
trong đó có một lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh cốt lõi, truyền thống. Hiện nay có
một số TĐKT trên thế giới đang hoạt động theo mô hình kinh doanh chiến lược như
Tập đoàn kinh tế General Foods, General Electric,…
- Mô hình tổ chức các Tập đoàn kinh tế theo phạm vi hoạt động:
Phạm vi hoạt động của các TĐKT ngoài việc phản ánh quy mô của mình nó còn
quyết định đến cấu trúc tổ chức của Tập đoàn. Căn cứ vào phạm vi hoạt động các
TĐKT được chia thành TĐKT đa quốc gia và TĐKT quốc gia. Trong giai đoạn hiện
nay quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra đã làm mờ nhạt đi biên giới kinh tế giữa các
19
quốc gia với nhau. Vì vậy, phần lớn các TĐKT là những Tập đoàn đa quốc gia nhằm
tạo ra sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia. Mô hình tổ chức này được
nhiều Tập đoàn áp dụng như: Royal Dutch/ Shell, British Petroleum, Toyota, …
- Mô hình tổ chức Tập đoàn kinh tế dựa trên sự phát triển cao của thị trường
tài chính:
Theo hình thức này, các TĐKT được hình thành xoay quanh hạt nhân là CTTC.
tâm đầu tư, trung tâm lợi nhuận, thông qua các phòng ban chức năng và phân công
trách nhiệm cụ thể, rõ ràng cho các đơn vị chức năng để phục vụ cho công tác quản lý
nhằm hỗ trợ cho hoạt động SXKD.
Ưu điểm: cấu trúc này đảm bảo sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất và
kịp thời của lãnh đạo tập đoàn đối với các vấn đề của Tập đoàn.
Hạn chế của cấu trúc là lãnh đạo TĐKT tập trung quá nhiều vào tác nghiệp kinh
doanh nên đã giảm tính tự chủ, năng động, sáng tạo và động lực của các công ty thành
viên, tăng chi phí quản lý và giảm hiệu quả chung của Tập đoàn. Phạm vi áp dụng là
các Tập đoàn kinh tế có quy mô không lớn và có hoạt động kinh doanh tương đối đồng
nhất. Hiện nay hầu hết các Tập đoàn kinh tế đều không sử dụng mô hình cấu trúc theo
mô hình này.
(2) Tập đoàn kinh tế theo cấu trúc Holding (hình 1.2):
Điểm nổi bật của cấu trúc này là không có sự kiểm soát tập trung
- Cơ cấu tổ chức mô hình: Văn phòng và các công ty thành viên, trong đó Văn
phòng Tập đoàn chịu trách nhiệm thực hiện các hoạt động điều phối chung của toàn
Tập đoàn, không thực hiện quá trình kiểm tra, kiểm soát trực tiếp quá trình SXKD của
ỦY BAN
ĐIỀU HÀNH
Các doanh
nghiệp khối
sản xuất kinh
doanh
Các doanh
nghiệp khối
bán hàng
Các doanh
nghiệp khối
tài chính
.v.v.
21
công ty con sản xuất ra không liên quan đến nhau.
Công ty nắm vốn
Sản xuất
kinh doanh
Bán hàng
Tài chính
Kỹ thuật
Công ty X Công ty Z Công ty Z
22Hình thức pháp lý của các công ty con khá đa dạng, điều đó phản ánh sự phong phú
trong các lĩnh vực hoạt động của công ty mẹ, thông thường bao gồm:
+ Công ty cổ phần do công ty mẹ nắm giữ cổ phần chi phối
+ Công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên trong đó công ty mẹ nắm giữ tỷ lệ
vốn góp chi phối
+ Công ty TNHH một thành viên do công ty mẹ làm chủ sở hữu
Theo tính chất và phạm vi hoạt động mô hình công ty mẹ - công ty con được
chia làm hai loại:
Một là: Mô hình công ty mẹ nắm vốn thuần túy PHC (pure holding company).
Hoạt động kinh doanh chính của công ty mẹ là đầu tư vốn vào các công ty khác
Hai là: Mô hình công ty mẹ vừa nắm vốn vừa trực tiếp kinh doanh OHC
(operating holding copany). Ngoài việc đầu tư vốn vào các công ty khác thì công ty mẹ
còn tham gia trực tiếp vào các hoạt động SXKD như các công ty khác trong Tập đoàn.
Một số ưu và nhược điểm của mô hình Tập đoàn kinh tế theo cấu trúc
Holding:
- Giữa quyết định về chiến lược và quyết định điều hành kinh doanh của các nhà
kiểm soát sẽ mất khi chấp nhận cơ cấu công ty nắm vốn.
- Quyền tự quyết của các công ty thành viên trong TĐKT. Ngoài việc Tập đoàn
khống chế cổ phần, chức năng hoạt động của loại hình công ty mới ra đời là quá trình
thực thi các quy định có liên quan đến các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh đã
ký kết giữa các công ty thành viên trong Tập đoàn như: giá cả, sản lượng. Mặt khác,
các công ty còn có quyền quyết định đến quy mô và khả năng đầu tư vốn của mình.
Điều đó giúp các công ty thành viên thuận lợi trong việc mua bán sản phẩm, dịch vụ,
24
(3) Tập đoàn kinh tế theo cấu trúc hỗn hợp (hình 1.3):
Hình 1.3 Mô hình Tập đoàn kinh tế theo cấu trúc hỗn hợp
Mô hình này phù hợp với những TĐKT có quy mô lớn. Mô hình này đòi hỏi vừa
phân quyền vừa tập trung nhưng về tổng thể phải đạt hiệu quả như mong muốn. Mô hình
này là sự kết hợp giữa mô hình cấu trúc nhất thể với mô hình cấu trúc holding.
Tính chất tập trung của mô hình TĐKT theo cấu trúc hỗn hợp dựa trên cơ chế kiểm
soát tập trung của cơ quan văn phòng Tập đoàn đối với 3 vấn đề sau:
Thứ nhất: Đưa ra những quyết định mang tính chiến lược của TĐKT
Thứ hai: Quyết định những chính sách chung, điều hành các giao dịch bên
trong Tập đoàn
Thứ 3: Có quyền tuyển chọn, bổ nhiệm, đánh giá, giám sát, miễn nhiệm các cán
bộ cấp cao của Tập đoàn.
Về tính chất phân quyền: Các công ty con trong Tập đoàn được phân quyền
khá rộng rãi khi thực hiện các quyết định đầu tư, tham gia các hoạt động kinh doanh,
quyền tự chủ trong kinh doanh và tự chủ về mặt tài chính. Hoạt động của các công ty
thành viên chịu sự quản lý, kiểm tra, giám sát trực tiếp của các ban chức năng như ban
tài chính, ban dự án, ban nhân sự, v.v.
Về cơ cấu tổ chức mô hình TĐKT theo cấu trúc hỗn hợp: Cơ cấu tổ chức của
TĐKT theo mô hình này gồm 03 cấp quan hệ:
Cấp 1: Là cơ quan đầu não của Tập đoàn, nó bao gồm HĐQT, cơ quan điều
hành Tập đoàn. HĐQT và cơ quan điều hành là cơ quan ra quyết định tối cao trong Tập
đoàn, chịu trách nhiệm xây dựng và thông qua các chiến lược phát triển, điều phối các
giao dịch trong nội bộ Tập đoàn.
Cấp 2: Các ban chức năng của Tập đoàn như: Ban nhân sự, Ban tài chính, Ban
kế hoạch, Ban kiểm toán, Ban pháp chế,v.v. Các ban chức năng có nhiệm vụ giúp
HĐQT xây dựng chiến lược kinh doanh, điều hành các giao dịch trong nội bộ Tập đoàn
và giám sát các công ty con trong Tập đoàn. Nhiệm vụ của các ban chức năng là đảm
bảo sự ổn định trong Tập đoàn, giúp lãnh đạo Tập đoàn đưa ra những quyết định khoa
học, hợp lý nhằm giảm bớt những rủi ro có thể xảy ra.
Về mặt pháp lý: Văn phòng chính (HĐQT) và các ban chức năng của Tập đoàn
kinh tế không có tư cách pháp nhân nhưng hợp thành bộ máy tổ chức, quản lý Tập
đoàn và được đặt tại công ty mẹ.
Cấp 3: Các công ty con độc lập trực tiếp thực hiện các hoạt động kinh doanh của
mình dựa trên chiến lược kinh doanh chung của toàn Tập đoàn. Thực tế cho thấy, đa số
các công ty con cũng tổ chức theo cơ cấu dạng hỗn hợp.
Nhằm đảm bảo tối ưu hóa mọi hoạt động của toàn Tập đoàn các nhà quản lý cấp
cao của Tập đoàn tập trung vào những quyết định mang tính chiến lược, dài hạn và
quan trọng của Tập đoàn, còn các quyết định điều hành kinh doanh được phân cho cấp
dưới thực hiện.