235 Các giải pháp TDNH đối với việc phát triển DNNVV góp phần thúc đẩy quá trình CNH – HĐH ở Đồng Nai - Pdf 23

-1-
CHÖÔNG 1
1.1. Lý luận về tín dụng.
1.1.1. Sự ra đời và bản chất của tín dụng:
Quan hệ tín dụng đã có từ lâu trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Lúc
đầu, các quan hệ tín dụng hầu hết đều là tín dụng bằng hiện vật và một phần nhỏ là tín
dụng hiện kim. Cùng với sự phát triển của xã hội, hình thức biểu hiện của tín dụng
ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp, do vậy có rất nhiều quan điểm khác nhau về tín
dụng. Tuy nhiên, dù dưới hình thức nào và tính phức tạp bao nhiêu thì quan hệ tín dụng
vẫn có chung một bản chất và có thể hiểu tín dụng một cách tổng quát như sau:
Tín dụng là hệ thống quan hệ kinh tế liên quan đến các giao dịch về tài sản giữa
bên cho vay và bên đi vay, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử
dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả
vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.

1.1.2. Các hình thức của tín dụng:
Dựa vào các chủ thể của quan hệ tín dụng, trong nền kinh tế xã hội tồn tại các
hình thức tín dụng sau đây:
1.1.2.1. Tín dụng thương mại (Commercial credit):
Tín dụng thương mại (TDTM) là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh với nhau, được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hoá cho
nhau.
Đối tượng của TDTM là hàng hoá thông thường, chứ không phải tiền tệ. TDTM
đều có lợi cho cả hai phía và cả cho nền kinh tế. Đối với người bán, TDTM giúp họ
đẩy nhanh quá trình tiêu thụ hàng hoá, chiếm lĩnh thị trường… Đối với người mua,
TDTM giúp họ có được hàng để tiến hành sản xuất kinh doanh, bảo đảm cho quá trình
sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục.
-2-
Công cụ của TDTM là thương phiếu để đảm bảo cho hành vi mua bán chịu được
tiến hành và việc thực hiện thanh toán tiền hàng mua chịu được thực hiện chắc chắn.
Thương phiếu bao gồm lệnh phiếu (Promissory note) và hối phiếu (Bill of exchange).

Nhà nước là người cho vay. Người sở hữu trái phiếu có thể đem chiết khấu, cầm cố vay
ngân hàng hoặc bán trên thị trường chứng khoán.
1.1.2.4. Tín dụng Quốc tế:
Ngoài các hình thức tín dụng nói trên, còn có loại hình tín dụng quốc tế. Đây là
quan hệ tín dụng giữa Chính phủ, giữa các tổ chức tiền tệ được thực hiện bằng nhiều
phương thức khác nhau nhằm trợ giúp lẫn nhau để phát triển kinh tế, xã hội của một
nước.

1.1.3. Vai trò của TDNH đối với sự nghiệp CNH - HĐH:
1.1.3.1. Sự nghiệp CNH - HĐH là sự phát triển khách quan và đúng quy luật:
CNH - HĐH nền kinh tế đất nước, trước hết chúng ta cần nắm bắt những thành
tựu khoa học, công nghệ vừa hiện đại, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển của nước ta để
áp dụng vào việc quản lý: Sản xuất, tổ chức lưu thông, phân phối … của nền kinh tế.
Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành, nghề trên cơ sở lợi thế từng
vùng, mỗi ngành, đồng thời kết hợp với những công nghệ mới tham gia vào quá trình
hợp tác trong nước và quốc tế.
Cùng với quá trình CNH - HĐH là xây dựng một hệ thống các doanh nghiệp có
quy mô và trình độ sản xuất, quản lý khác nhau. Trong đó, cần chú ý xây dựng các
DNNVV, vì các DNNVV đáp ứng được yêu cầu về tình hình cụ thể ở nước ta hiện nay,
đó là: cơ sở vật chất còn nghèo nàn, lạc hậu, trình độ quản lý còn thấp, trình độ kỹ
thuật và tay nghề của người lao động chưa cao…
-4-
Mặt khác, DNNVV có ưu thế trong cơ chế thị trường, đó là: Tính thích ứng,
năng động cao, vốn đầu tư không lớn, có khả năng ứng dụng công nghệ mới nhanh, tổ
chức quản lý gọn, nhẹ nhưng mang lại hiệu quả cao và trong trường hợp cần thiết có
thể nhanh chóng chuyển đổi cơ cấu, thay thế công nghệ và chuyển hướng mặt hàng sản
xuất kinh doanh.
1.1.3.2. Vai trò của TDNH đối với quá trình thực hiện CNH - HĐH nền kinh tế:
Trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế, TDNH đối với sự nghiệp CNH-HĐH có vai
trò quan trọng, được thể hiện trên một số mặt sau đây:

DNNVV mà tuỳ thuộc đặc điểm của từng Quốc gia, từng giai đoạn phát triển kinh tế
mà đưa ra những quy định về DNNVV. Khi định nghĩa về DNNVV, các nước thường
căn cứ vào quy mô về vốn của doanh nghiệp, số lao động thường xuyên tại doanh
nghiệp, tổng doanh thu, tổng tài sản… của doanh nghiệp. Chung quy lại mỗi quốc gia
sử dụng những tiêu thức hay có cách kết hợp các tiêu thức trên khác nhau mà đưa ra
định nghĩa riêng về DNNVV.
Trên thế giới, không chỉ tiêu chuẩn để phân loại các doanh nghiệp khác nhau mà
ngay cả cách phân loại doanh nghiệp cũng khác nhau. Có nước phân ra bốn loại doanh
nghiệp như: Doanh nghiệp nhỏ; doanh nghiệp vừa; doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp
cực lớn. Có nước phân loại doanh nghiệp thành: Doanh nghiệp cực nhỏ (thường là kinh
tế hộ gia đình); doanh nghiệp nhỏ; doanh nghiệp vừa; doanh nghiệp lớn và doanh
nghiệp cực lớn. Có nước (như Mỹ), chỉ những DNNVV độc lập thì mới là DNNVV,
nhưng cũng có nước tính cả DNNVV là thành viên của các công ty lớn cũng là
DNNVV.
Nhìn chung trên thế giới, hai tiêu chuẩn được sử dụng phổ biến để phân loại
doanh nghiệp là số lao động sử dụng và số vốn. Trong hai tiêu chuẩn ấy, khá nhiều
nước coi tiêu chuẩn về số lao động sử dụng là quan trọng hơn. -6-
Bảng 1.1: Một số khái niệm về DNNVV một số nước:
Quốc gia Ngành, nghề Số lao động Số vốn Doanh thu
Mỹ Tất cả các ngành 0 - 500 Không Không
Nhật bản Chế tác
Bán buôn
Bán lẻ
Dịch vụ
1 - 300
1 - 100
1 - 50

0 - 50 bath
50 – 200
bath

0 – 50 bath
0 – 100 bath

0 – 30 bath
30 – 60 bath không

Nga Doanh nghiệp nhỏ
Doanh nghiệp vừa
1 – 249
249 – 999
không Không
Trung
Quốc
Doanh nghiệp nhỏ
Doanh nghiệp vừa
50 – 100
101 - 500
không Không
(Nguồn số liệu: Vũ Quốc Tuấn - Hoàng Thu Hoa, 2001, Phát triển doanh
nghiệp nhỏ và vừa: kinh nghiệm nước ngoài và phát triển DNNVV ở Việt Nam).
-7-
Như vậy, điều đáng lưu ý là tiêu chuẩn về trình độ công nghệ, phạm vi quan hệ,
khả năng quản lý và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp không được tính đến khi

 Ngân hàng Công thương Việt Nam, coi DNNVV là các doanh nghiệp có dưới
500 lao động, vốn cố định dưới 10 tỷ đồng…

1.2.2. Vai trò của TDNH đối với sự phát triển DNNVV:
Để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh, các DNNVV cần phải sử dụng
vốn, trong đó bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn huy động từ bên ngoài. Trong các kênh
huy động vốn từ bên ngoài thì kênh TDNH là quan trọng nhất, bởi vì ngoài TDNH còn
có TDTM với quy mô và khả năng đáp ứng thấp. TDNH có ưu điểm là hiện nay có rất
nhiều các TCTD với nhiều chi nhánh rộng khắp, cung ứng vốn dồi dào hơn, lãi suất
hấp dẫn, thời hạn vay tương đối dài hơn, được tư vấn đầu tư…Vì vậy TDNH ngày
càng có vai trò quan trọng đặc biệt đối với các doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói
riêng, đó là:
- Có khả năng cung cấp vốn đáp ứng nhu cầu về vốn cho các DNNVV để mở
rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ…Vốn bao gồm vốn trung dài
hạn phục vụ đầu tư máy móc thiết bị, nhà xưởng và vốn lưu động thường xuyên.
- Với tỷ lệ lãi suất thoả thuận thì DNNVV có thể đàm phán, lựa chọn các TCTD
có lãi suất cho vay thấp để đặt quan hệ tín dụng, qua đó mang lại hiệu quả kinh doanh
cao cho doanh nghiệp. Tạo ra giá trị doanh nghiệp cao hơn, tích luỹ vốn nhiều hơn.
- Trong quá trình cung ứng vốn cho các DNNVV, do trình độ có hạn mà đa số
có trình độ thấp của các chủ doanh nghiệp, các TCTD còn phải kiêm thêm chức năng
tư vấn, cung cấp thông tin cho doanh nghiệp. Một mặt, để giúp doanh nghiệp lập
phương án kinh doanh, hoạch định chiến lược kinh doanh. Mặt khác, trong khi tiếp
-9-
cận, hướng dẫn doanh nghiệp lập kế hoạch vay vốn, qua đó tạo cho TCTD có thêm
luồng thông tin để quyết định cho vay hay không, nhằm tránh rủi ro.

1.2.3 Vai trò của các DNNVV đối với nền kinh tế, góp phần thúc đẩy quá trình
CNH – HĐH đất nước:
Từ Đại hội VIII của Đảng cộng sản Việt Nam xác định khi định hướng phát
triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH như sau: “ Trong phát

- Góp phần thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH:
Xét về các loại cơ cấu, như cơ cấu theo thành phần kinh tế, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu
lãnh thổ, phân bố dân cư, việc phát triển DNNVV sẽ tạo ra những chuyển biến hết sức
quan trọng về cơ cấu của toàn bộ nền kinh tế. Chính sự phát triển DNNVV góp phần
quan trọng trong việc tạo lập sự cân đối trong phát triển giữa các vùng. Nó giúp cho
vùng sâu, vùng xa, các vùng nông thôn có thể khai thác được tiềm năng của vùng, địa
phương để phát triển các ngành sản xuất và dịch vụ, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo vùng, lãnh thổ. Đây cũng là vấn đề có ý nghĩa để thực hiện CNH - HĐH Nông
nghiệp, Nông thôn.
- Làm cơ sở vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn: Các DNNVV, với tư cách là bên
cung cấp nguyên liệu, dịch vụ đầu vào, gia công một số công đoạn hay làm trung gian
tiêu thụ sản phẩm đầu ra đã hỗ trợ đắc lực cho các doanh nghiệp lớn, tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp lớn dễ dàng mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo ra
giá trị hàng hoá và dịch vụ tăng cao.
- Góp phần quan trọng thu hút vốn đầu tư trong dân và sử dụng tối ưu các nguồn
lực địa phương: Do đặc điểm DNNVV là dễ khởi sự nên đa số dân cư có thể tham gia
đầu tư. Mặt khác, trong quá trình hoạt động, các DNNVV có thể huy động vốn dựa trên
quan hệ họ hàng, bạn bè thân thuộc. Chính vì vậy, việc huy động vốn, sử dụng các
-11-
khoản tiền nhàn rỗi trong dân cư và biến nó thành các khoản vốn đầu tư của các
DNNVV rất hiệu quả.
Với quy mô nhỏ và vừa, lại được phân bố phân tán ở hầu hết các địa phương,
các vùng lãnh thổ nên DNNVV có khả năng tận dụng các tiềm năng về lao động, về
nguyên vật liệu…sẵn có ở địa phương.
- Góp phần gia tăng nguồn hàng xuất khẩu, tăng thu cho ngân sách Nhà nước:
Ngày nay, cùng với quan hệ giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các quốc gia phát triển rộng
rãi đã làm cho các sản phẩm truyền thống trở thành một nguồn xuất khẩu quan trọng.
Việc phát triển DNNVV đã tạo ra khả năng thúc đẩy khai thác tiềm năng của ngành
nghề truyền thống ở các địa phương mỗi nước như các ngành nghề thủ công, mỹ nghệ.
Bên cạnh đó, do sự tạo lập và phát triển DNNVV dễ dàng làm cho số lượng

bảo cung cấp khoảng 90% tổng số vốn vay trong các lĩnh vực nhập khẩu công nghệ,
hoạt động nghiên cứu và phát triển, nhập máy móc để sản xuất nguyên vật liệu, phụ
tùng.
1.3.1.3. Philippine:
Luật của Philippine quy định: Ngân hàng phải dành ít nhất 10% trong tổng số
các khoản cho vay cho DNNVV. Chính phủ cho phép các Ngân hàng lập chi nhánh bất
cứ chỗ nào họ muốn, nhiều chi nhánh đã mọc lên khắp các tỉnh và vùng nông thôn, nơi
có nhiều DNNVV đang cần vốn, đã tạo điều kiện cho họ có khả năng tiếp cận nguồn
vốn ngân hàng với lãi suất cạnh tranh và hấp dẫn.
1.3.1.4. Đài Loan:
Thành lập “Quỹ phát triển xí nghiệp vừa và nhỏ” nhằm mục đích giúp các
DNNVV cải thiện môi trường kinh doanh, thúc đẩy sự hợp tác giữa các doanh nghiệp
-13-
và cấp tín dụng với lãi suất thấp hơn lãi suất ngân hàng. Thành lập ngân hàng chuyên
cho các DNNVV vay vốn.
1.3.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc cấp TDNH cho DNNVV:
Từ những kinh nghiệm thực tế ở các nước, có thể thấy rằng:
- Đa số các DNNVV trước tiên phải tự hoàn thiện, phát triển dựa trên chính
mình, tranh thủ sự trợ giúp từ Chính phủ.
- Chính phủ thiết lập những cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp như: dành
một tỷ lệ vốn huy động nhất định để cho vay DNNVV, thành lập quỹ bảo lãnh tín
dụng, các trung tâm trợ giúp, tư vấn cho DNNVV.
- Nhà nước quan tâm đặc biệt đến khu vực này, có thể đưa những quy định đối
với DNNVV vào trong Luật.
Với những kinh nghiệm nêu trên, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm cho
Việt Nam như sau:
- Trong việc cấp TDNH cho các DNNVV, Nhà nước giữ vai trò hỗ trợ, giúp đỡ
chứ không bao cấp. Phải để cho các DNNVV tự nâng cao sức cạnh tranh trên thị
trường, tìm kiếm nhà đầu tư vốn hiệu quả.
- Có thể nghiên cứu thành lập ngân hàng chuyên cho vay đối với DNNVV trực

nghiên cứu ở chương 2 dưới đây. -15-
CHÖÔNG 2
2.1. Vài nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Đồng Nai:
2.1.1. Vị trí địa lý, dân số, nguồn lao động:
Đến nay, Đồng Nai có mười một đơn vị hành chính, gồm chín Huyện, một Thị xã
và Thành phố Biên Hoà là trung tâm hành chính, kinh tế, văn hoá của tỉnh. Chín
Huyện gồm: Tân Phú, Định Quán, Xuân Lộc, Vĩnh Cửu, Long Thành, Nhơn Trạch,
Thống Nhất, Cẩm Mỹ và Trảng Bom (Cẩm Mỹ và Trảng Bom là 2 huyện mới thành
lập năm 2003), và một Thị xã là Thịxã Long Khánh.
Tỉnh Đồng Nai nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam: Đông giáp tỉnh
Bình Thuận, đông bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, Tây bắc giáp tỉnh Bình Dương và Bình
Phước, Nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây giáp TP.HCM.
Có vị trí hết sức quan trọng do nằm ngang cửa ngõ thành phố Hồ Chí Minh, một
trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, là cửa ngõ của trục động lực kinh tế trọng điểm
phía nam: Thành Phố Hồ Chí Minh, Biên Hoà, Bà Rịa – Vũng Tàu, giữ vai trò trọng
yếu trong vùng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng.
Về dân số: Đến cuối năm 2003, dân số Đồng Nai có quy mô 2.207 ngàn người,
tốc độ tăng bình quân khoảng 2,4%/năm. Tỷ lệ dân cư sống ở thành thị chiếm 40%,
còn lại sống ở nông thôn. Số người trong độ tuổi lao động 123 ngàn người, tăng bình
quân 3,5%/năm.
Diện tích tự nhiên của tỉnh Đồng Nai khoảng 5.862,37 km
2
. Quỹ đất khá phong
phú, phì nhiêu và đa dạng, được chia thành các loại đất: 2.984 km

trung đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị, công nghệ, thực hiện các chính sách ưu đãi đầu
tư, tháo gỡ kịp thời khó khăn của doanh nghiệp. Gía trị sản xuất công nghiệp quốc
doanh Trung ương tăng 11,7%, địa phương tăng 16%, công nghiệp ngoài quốc doanh
tăng 22,4%, công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 19,9% so cùng kỳ.
¾ Về hoạt động thương mại - dịch vụ: Lưu thông hàng hoá trên thị trường nội địa
ổn định, hàng hoá phong phú, đa dạng đã đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá tăng 17,7%, chỉ số giá tiêu dùng chín tháng tăng 9,1%.
Ngành thương mại đã tổ chức tốt các hoạt động xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư
trong, ngoài nước, tăng cường quản lý thị trường, chống buôn lậu, gian lận thương mại,
sắp xếp và phát triển các loại hình dịch vụ phục vụ người lao động tại các khu công
nghiệp. Kim ngạch xuất khẩu đạt 1,8 tỷ USD, kim ngạch nhập khẩu đạt 2,3 tỷ USD,
chủ yếu nhập vật tư, máy móc thiết bị.
-17-
¾ Về sản xuất nông nghiệp: Nhìn chung là phát triển thuận lợi, giá trị sản xuất
nông nghiệp tăng 4,8% so cùng kỳ, đạt giá trị 3.417 tỷ đồng.
¾ Về thu hút vốn đầu tư nước ngoài: Chín tháng thu hút thêm 791 triệu USD, có
70 dự án mới chủ yếu là dự án sản xuất công nghiệp, phục vụ xuất khẩu với số vốn 439
triệu USD. Các dự án tăng vốn có 69 dự án, với số vốn gần 352 triệu USD.
Đến nay, toàn tỉnh có 570 dự án còn hiệu lực, vốn đăng ký 6,99 tỷ USD, trong đó
có 300 dự án đi vào hoạt động, 117 dự án đang xây dựng, vốn thực hiện trên 3,3 tỷ
USD, tỷ lệ cho thuê đất bình quân chiếm 55% số diện tích đất dành cho thuê trong tổng
số 15 Khu công nghiệp đã được Chính phủ phê duyệt.

2.2. Thực trạng hoạt động của các DNNVV ở Đồng Nai:
2.2.1. Số lượng và quy mô vốn DNNVV ở tỉnh Đồng Nai.
Bảng số 2.1: Tình hình DNNVV ở tỉnh Đồng Nai.

Đơn vị: Triệu đồng.
Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
Hình thức

54
22.500
24.504
795.600
1.540.320
750.000
2.230.000
5.315.920
1.552
893
70
26.000
28.515
976.398
2.083.904
981.393
3.120.000
7.161.695
(Nguồn : Báo cáo sơ kết 2 năm thực hiện NQ 14 Ban chấp hành TW Đảng khoá IX
trên địa bàn Đồng Nai).
Nhờ vào sự thông thoáng của Luật Doanh nghiệp, kể từ năm 2000, số lượng và
vốn đăng ký của doanh nghiệp mà hầu hết là DNNVV không ngừng tăng so với các
năm trước.
-18-
Năm 2003 có 2.515 DNNVV (chưa kể hộ kinh doanh cá thể), tăng 34% về số
doanh nghiệp so với năm 2002 và tăng 51,5% so với năm 2001.


-19-
Biểu đồ số 2.2: Tình hình vốn đăng ký của DNNVV ở Đồng Nai.
0
1000
2000
3000
4000
DNTN CT TNHH CTCP Hộ cá thể
2001 2002 2003

Xu thế góp vốn chủ yếu của doanh nghiệp bằng tiền mặt, chiếm khoảng 70%, số
còn lại góp bằng tài sản như nhà, đất, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải.
Chín tháng đầu năm 2004, toàn tỉnh có 470 DNNVV thành lập mới (không kể hộ
kinh doanh cá thể), với tổng vốn đăng ký là 1.050 tỷ đồng. Trong đó có 200 DNTN,
vốn đăng ký 150 tỷ đồng; 242 Công ty TNHH, vốn đăng ký 420 tỷ đồng; 28 CTCP,
vốn đăng ký 480 tỷ đồng. Ngoài ra, trong 9 tháng đầu năm có 150 doanh nghiệp đăng
ký bổ sung 650 tỷ vốn kinh doanh. Như vậy, trong 9 tháng năm 2004, tổng vốn đăng
ký mới và bổ sung là 1700 tỷ đồng.
Tính đến cuối 9/2004, tổng số DNNVV (chưa kể hộ cá thể) trên toàn Tỉnh có
khoảng 3.000 doanh nghiệp, vốn đăng ký hơn 8.861 tỷ đồng.

2.2.2. Những đóng góp của DNNVV đối với nền kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai:
Trong sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai năm 2002 và 2003. Các
DNNVV cũng đạt được sự phát triển đáng khích lệ kể cả số lượng doanh nghiệp và
hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Do các DNNVV được hình thành và hoạt động trên một diện rộng từ thành phố,
thị xã, thị trấn đến các vùng nông thôn và sản xuất, kinh doanh rất nhiều ngành nghề.
Các doanh nghiệp thương mại dịch vụ làm nhiệm vụ thu mua nông sản, thực phẩm cho
các doanh nghiệp lớn, làm đại lý tiêu thụ sản phẩm cung ứng cho người tiêu dùng. Đây
thực sự là cầu nối hai chiều giữa người sản xuất với người tiêu dùng mà chủ yếu là các

Sự ra đời của các DNNVV trong thời gian qua đã góp phần đáng kể vào sự phát
triển của nền kinh tế đất nước nói chung và kinh tế Đồng Nai nói riêng.
Tuy vậy trong quá trình hoạt động của các DNNVV đã bộc lộ một số tồn tại:
- Cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ bé, máy móc thiết bị cũ kỹ, lạc hậu: Các
DNNVV ra đời từ điểm xuất phát của một nền kinh tế lạc hậu, chậm phát triển, khả
năng tài chính hạn hẹp, không có điều kiện đầu tư trang thiết bị mới. Theo báo cáo của
Cục Thống kê năm 2003, cho thấy: “Trình độ kỹ thuật công nghệ của khu vực
DNNVV chủ yếu là trung bình và lạc hậu, chỉ 6,82% có công nghệ tiên tiến, còn lại
61,7% có công nghệ trung bình và 31,45% có trình độ công nghệ lạc hậu. Hầu hết các
DNNVV có trình độ thủ công hoặc cơ khí, bán cơ khí, chỉ có một bộ phận nhỏ có
trình độ tự động hoá. Cụ thể: 10,70% tự động hoá và bán tự động hoá, 47,49% cơ khí
và bán cơ khí, 41,81% thủ công. Do đó năng suất, chất lượng sản phẩm thấp, giá thành
cao, không phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, thiếu khả năng cạnh tranh trên thị
trường.
- Đại bộ phận doanh nghiệp thiếu vốn, chưa nhận được sự trợ giúp của Chính phủ,
khó tiếp cận nguồn vốn TDNH. Vốn là một điều kiện cần thiết và quan trọng trong quá
trình sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Hiện tại các DNNVV chẳng những
thiếu vốn cố định mà vốn lưu động cũng thiếu trầm trọng. Mặc dù Chính phủ đã ban
hành Nghị định số 90/NĐ-CP ngày 23/11/2001 về trợ giúp phát triển DNNVV, Thủ
tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg ngày 20/12/2001 về ban
hành qui chế bảo lãnh tín dụng cho DNNVV, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số
42/2002/TT-BTC ngày 7/5/2002 hướng dẫn thi hành Quyết định 193/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ, NHNN ban hành Thông tư 06/2003/TT-NHNN ngày 10/4/2003
hướng dẫn một số nội dung về góp vốn thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng. Nhưng đến
-22-
nay Quỹ bảo lãnh chưa hình thành và hoạt động nên các DNNVV chưa nhận được sự
trợ giúp nào từ các chủ trương trên.
- Đa số trình độ quản trị, điều hành của những người đứng đầu DNNVV còn thấp:
Đội ngũ những người đứng đầu DNNVV hiện nay đại bộ phận chưa được đào tạo
hay được đào tạo chưa theo kịp với xu hướng phát triển đòi hỏi của nền kinh tế. Theo

đối xử.
Do còn rơi rớt tư tưởng từ thời kinh tế tập trung quan liêu bao cấp nên hiện tượng
phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, gây khó dễ trong quan hệ công tác, thiếu
sự hỗ trợ cần thiết khi doanh nghiệp cần giúp đỡ. Bản thân doanh nghiệp còn mang tư
tưởng tự ty nên thiếu mạnh dạn tiếp cận với các cơ quan khi có nhu cầu.
2.3. Thực trạng hoạt động TDNH đối với các DNNVV trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
2.3.1. Vài nét về hoạt động Ngân hàng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai thời gian qua.
Năm 1976 Chi nhánh NHNN Tỉnh Đồng Nai được thành lập cùng với chín chi
nhánh cấp huyện, thực hiện hai chức năng vừa quản lý nhà nước về hoạt động Ngân
hàng trên địa bàn, vừa trực tiếp quan hệ với khách hàng để thực hiện chức năng kinh
doanh.
Năm 1989 thực hiện công cuộc đổi mới, Ngân hàng được tách làm hai cấp.
NHNN thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động ngân hàng. Các Ngân hàng
chuyên doanh thực hiện chức năng kinh doanh. Sau đó lần lượt hai Pháp lệnh và hai
Luật về NHNN và Luật các TCTD ra đời đã tạo điều kiện cho ngành Ngân hàng Đồng
Nai phát triển không ngừng, góp phần rất lớn đến sự phát triển nền kinh tế tỉnh nhà.
2.3.1.1. Hệ thống các TCTD trên địa bàn:
Để duy trì và giữ vững nhịp độ tăng trưởng, mở rộng kinh doanh chiếm lĩnh thị
phần, thời gian qua tất cả các TCTD trên địa bàn đều tập trung phát triển xây dựng
-24-
thêm nhiều cơ sở giao dịch mới ở các khu vực trọng điểm, kinh tế tập trung như các
khu công nghiệp, các thị trấn thuộc các huyện trong tỉnh.
Tính đến 31/12/2004 trên địa bàn toàn tỉnh có tất cả 104 cơ sở giao dịch của các
TCTD bao gồm: 12 chi nhánh cấp tỉnh, 24 chi nhánh cấp II, 53 chi nhánh cấp III và
phòng giao dịch, và 19 QTD ND cơ sở.
Đồng Nai là một trong những địa phương trong cả nước có hệ thống các TCTD
khá hoàn chỉnh, hiện diện đầy đủ các chi nhánh của 5 NHTM Nhà Nước (Ngân hàng
Ngoại thương, Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông
Cửu Long) với đủ loại hình Chi nhánh Ngân hàng cấp I, Cấp II, phòng giao dịch, đủ

-25-

2.3.1.2. V hot ng tớn dng ca h thng cỏc TCTD trờn a bn thi gian
qua.
Trong thi gian qua, cỏc TCTD trờn a bn ó hot ng ngy cng tng v quy
mụ v cht lng hot ng.

Bng 2.3. Tng hp tỡnh hỡnh hot ng ngõn hng trờn a bn tnh ng Nai:
Đơn v tính: Tỷ đồng
Ch Tiờu
Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm
2004
1. Tổng nguồn vốn 4.397 6.501 8.520 10.429 12.444
T.đó: Huy động tại chổ 2.609 3.248 5.112 6.829 8.187
- Tiền gửi dân c 1.414 1.806 2.572 3.680 4.010
- Tiền gửi TCKT 1.195 1.442 2.540 3.149 4.177
2. Tổng
DSCV
7.303 7.935 12.064 15.499 19.083
T.đó: - DSCV ngắn hạn 6.602 6.897 10.298 12.999 15.643
- DSCV trung, di hạn 701 1.038 1.766 2.500 3.440
3. Tổng d nợ 4.062 5.877 7.643 9.147 11.070
Tr.đó: - D nợ ngắn hạn 2.908 3.943 4.938 5.631 6.813
- D nợ trung, di hạn 1.154 1.934 2.705 3.516 4.257
- Tỷ trọng d nợ trung,
di hạn/tổng d nợ(%)
28,41 32,91 35,39 38,44 38,4
4. D nợ quá hạn 91 113 199 170 111
- Tỷ trọng D nợ quá
hạn/ Tổng D nợ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status