1
MUÏC LUÏC
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT TỰ DO HOÁ TÀI CHÍNH
1.1 TỰ DO HOÁ TÀI CHÍNH ........................................................................................1
1.2 CÁC LỢI ÍCH TRONG QUÁ TRÌNH TỰ DO HOÁ TÀI CHÍNH Ở CÁC NƯỚC
ĐANG PHÁT TRIỂN.......................................................................................................3
1.3 CÁC RỦI RO TRONG QUÁ TRÌNH TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH Ở CÁC NƯỚC
ĐANG PHÁT TRIỂN.......................................................................................................6
1.3.1 Dòng vốn chảy vào ồ ạt...................................................................................8
1.3.2 Sự đảo ngược của dòng vốn ............................................................................9
1.3.3 Tính biến động và xu hướng bầy đàn............................................................10
1.4 TỰ DO HOÁ TÀI CHÍNH - NỘI DUNG CHỦ YẾU LÀ TỰ DO HOÁ DỊCH
VỤ TÀI CHÍNH 12
1.4.1 Cơ hội từ quá trình tự do hoá dịch vụ tài chính ............................................12
1.4.2 Thách thức của quá trình tự do hoá đối với các chủ thể cung cấp dịch vụ tài
chính ......................................................................................................................17
1.5 NHỮNG KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG
QUÁ TRÌNH TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH ......................................................................19
1.5.1 Một số đặc điểm cơ bản về thị trường dịch vụ tài chính ở Việt Nam và mức
độ mở cửa đối với các nhà đầu tư nước ngoài ................................................................19
1.5.2 Những bài học kinh nghiệm của các nước đối với việt Nam trong quá trình
tự do hóa tài chính...........................................................................................................22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH TỰ DO HOÁ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
2.1 THỰC TRẠNG KINH TẾ VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY .......25
2.1.1 Tăng trưởng kinh tế ......................................................................................25
2.1.2 Chỉ số giá tiêu dùng.......................................................................................26
2.1.3 Lao động và việc làm ....................................................................................26
2.1.4 Thu chi ngân sách Nhà nước.........................................................................27
2.1.5 Tiết kiệm và đầu tư........................................................................................28
rối loạn kinh tế 61
3.1.6 Kết hợp mang tính quốc tế giữa khuôn khổ pháp lý với việc công
khai thông tin để đảm bảo cho thị trường được an toàn và hiệu quả 62
3
3.2 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH TỰ DO HOÁ TÀI CHÍNH 62
3.2.1 Nhóm các giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô để thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế từ phía Chính phủ 62
3.2.1.1 Chính sách quản lý tài chính công 64
3.2.1.2 Chính sách tiền tệ và tỷ giá 65
3.2.1.3 Hoàn thiện chính sách điều hành tỷ giá hối đoái nhằm
khuyến khích xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài 66
3.2.2 Nhóm các giải pháp nhằm thúc đẩy và hoàn thiện thị trường tài
chính và lành mạnh hệ thống ngân hàng 69
3.2.2.1 Hoàn thiện thị trường tài chính 69
3.2.2.2 Lành mạnh hệ thống ngân hàng 72
3.2.2.3 Nâng cao năng lực cạnh tranh hệ thống ngân hàng 75
3.2.2.4 Khuyến khích và hỗ trợ các NHTM hiện đại hoá công nghệ
ngân hàng nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới nền kinh tế đất nước 78
3.2.2.5 Hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường tính minh bạch thông
tin thị trường và tạo dựng môi trường đầu tư thân thiện 79
3.3 MỘT SỐ CÔNG CỤ PHÒNG NGỪA RỦI RO TRONG QUÁ TRÌNH
TIẾN HÀNH TỰ DO HOÁ TÀI CHÍNH 80
3.3.1 Phòng ngừa rủi ro tỷ giá 80
3.3.2 Các biện pháp phòng ngừa rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính 81
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
KẾT LUẬN CHUNG
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
trọng nhất: tự do hố lãi suất và giá cả; tự do hố hoạt động tín dụng và giảm thiểu thủ
tục hành chính của các tổ chức tín dụng nhà nước; linh hoạt hoạt động ngoại hối; tự do
hố hoạt động của các tổ chức tài chính trên thị trường tài chính; giảm thuế, thâm hụt
và lạm phát trên thị trường tài chính quốc gia.
1
Báo cáo của Jean-Pierre Landau, Tổng thanh tra tài chính, Tổng giám đốc Hiệp Hội Ngân Hàng Pháp trong chương
trình hội thảo “Tự do hố và an ninh tài chính” ngày 10/01/2001 tại Hà Nội.
2
J.Stiglit trong “Vai trò của hệ thống tài chính trong q trình phát triển”, HộI nghị thường niên về phát triển ở Châu Mỹ
Latin và Caribbean, 29/06/1998.
5
Tự do hoá lãi suất và giá cả là cho phép các định chế tài chính, ngân hàng tự do
xác định các mức lãi suất tiềngân hàng gửi, lãi suất cho vay, tự do ấn định các
mức phí trong phạm vi hoạt động tài chính.
Tự do hoá hoạt động tín dụng và giảm thiểu thủ tục hành chính của các tổ chức
tín dụng nhà nước là việc xoá bỏ các hạn chế, định hướng chủ quan hay ràng
buộc về số lượng trong quá trình cấp và phân phối tín dụng nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động tín dụng và mở rộng tín dụng cho mọi thành phần kinh tế. Đồng
thời phải cải cách hơn nữa các thủ tục hành chính đang xảy ra đối với các đơn vị
tín dụng nhà nước, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh lành mạnh giữa các
thành phần kinh tế.
Điều hành linh hoạt hoạt động ngoại hối chính là xoá bỏ các hạn chế về quản lý
ngoại hối và thực hiện điều hành tỷ giá hối đoái theo qui luật thị trường.
Tự do hoá hoạt động của các tổ chức tài chính trên thị trường tài chính là tiến
hành mở rộng tự do cạnh tranh trong các hoạt động trung gian tài chính thông
qua việc xoá bỏ các hạn chế trong phạm vi hoạt động, phạm vi kinh doanh của
các tổ chức tài chính.
a. Tự do hoá tài chính sẽ tăng thêm áp lực cạnh tranh làm cho khu vực dịch vụ tài
chính hoạt động có hiệu quả và ổn định hơn, đồng thời giúp các tổ chức tài chính nội
địa có điều kiện cải thiện năng lực quản lý.
b. Tự do hoá tài chính sẽ làm tăng thêm chất lượng các dịch vụ tài chính được
cung cấp (do sự độc quyền bị loại bỏ). Người tiêu dùng có thể được hưởng những sản
phẩm dịch vụ mới, đa dạng, tiện ích với chi phí và thời gian ít nhất.
c. Tự do hoá các dịch vụ tài chính đem đến nhiều cơ hội cho việc chuyển giao
công nghệ và làm giảm thiểu những rủi ro có tính hệ thống.
d. Tự do hoá các dịch vụ tài chính tạo điều kiện cho việc thiết lập một chính sách
kinh tế vĩ mô có hiệu quả hơn phù hợp với những điều kiện trong một nền kinh tế mở,
trên cơ sở đó thực hiện phân phối nguồn lực một cách có hiệu quả trên cơ sở khai thác
tối đa lợi thế kinh tế trong nước và thế giới.
Kết quả của nhiều nghiên cứu đã cho thấy những lợi ích đề cập trên đây là thực tế.
Một nghiên cứu của các nhà kinh tế học thuộc Ban thư ký của WTO (năm 1997) đã kết
luận rằng việc mở cửa thị trường dịch vụ tài chính ở các nước theo đuổi chính sách mở
cửa đã có tác dụng đáng kể trong việc thúc đẩy cạnh tranh và nâng cao hiệu quả. Do đó,
chi phí dịch vụ giảm đi đáng kể, chất lượng dịch vụ được nâng cao, các loại hình dịch
vụ được đa dạng hoá và khách hàng được tiếp cận với các loại hình dịch vụ một cách
nhanh nhất. Việc mở cửa thị trường tài chính tại các nước này cũng đồng thời góp phần
7
củng cố lại các tổ chức trung gian tài chính và tạo nhiều cơ hội hơn cho các nhà đầu tư,
thông qua việc nâng cao hiệu lực quản lý và giảm nhiều rủi ro. Việc mở cửa thị trường
dịch vụ tài chính ở hầu hết các nước cũng góp phần thúc đẩy chính phủ các nước chủ
nhà cải tiến phương pháp quản lý vĩ mô nền kinh tế và thay đổi cách thức can thiệp vào
thị trường, đồng thời thúc đẩy việc hoàn thiện hàng lang pháp lý và hệ thống kiểm tra,
giám sát của chính phủ đối với những lĩnh vực dịch vụ này.
Các nhà nghiên cứu lập luận rằng sở dĩ tự do hoá tài chính có tác động tích cực
đến nền kinh tế chính là nhờ tác động lợi thế của kinh tế quy mô (Economy of scale),
do vậy các tổ chức tài chính có thể hạ giá thành phục vụ. Bên cạnh đó, việc loại bỏ yếu
tố độc quyền, tăng cường sự cạnh tranh là nhân tố có tính quyết định trong việc nâng
Về phương thức các lợi ích mang lại từ tự do hoá tài chính gia tăng theo hai
phương thức chính như sau:
Thứ nhất, tự do hoá tài chính có khả năng thúc đẩy sự tăng trưởng do gia tăng
mức độ đầu tư và nâng cao tỷ suất sinh lợi của đầu tư thông qua việc các nước này tiếp
cận được với kinh nghiệm quản lý hiện đại, các thành quả khoa học trên thế giới và đặc
biệt tiếp cận được tác động của thị trường hiệu quả là thị trường mà các thông tin được
phản hối một cách đầy đủ và kịp thời vào trong giá đối với các nhà đầu tư (thị trường
hiệu quả dạng mạnh).
Thứ hai, tự do hoá tài chính cho phép mọi cá nhân tự bảo hiểm chống lại sự phát
triển không cân đối của nền kinh tế bằng cách đa dạng hóa đầu tư và khai thác thị
trường toàn cầu để làm dịu đi sự suy giảm tạm thời trong thu nhập.
Tự do hoá tài chính có thể thúc đẩy đầu tư ở các nước đang phát triển bằng cách
giải bài toán nan giải giữa tiết kiệm và đầu tư trong một quốc gia. Những kết quả tiềm
ẩn từ đầu tư biến đổi từ quốc gia này đến quốc gia khác tuỳ thuộc vào tỷ suất sinh lợi
của các cơ hội đầu tư và sự khác biệt giữa chi phí sử dụng vốn trong nước, thường rất
cao trước khi tự do hoá so với chi phí sử dụng vốn quốc tế.
Mức độ thành quả này có thể thấy từ minh họa sau đây: nếu dòng vốn vào đạt từ
3% đến 4% GDP (đây là con số điển hình cho những nước nhập khẩu vốn lớn hiện nay)
thì tốc độ tăng trưởng dựa trên vốn cổ phần và chỉ số lợi nhuận trên vốn sẽ gia tăng
khoảng 1,5% (theo World Bank). Hiệu ứng tăng trưởng nhất thời này rất đáng kể, tốc
độ tăng trưởng từ tăng 1,5% đến 2% sẽ làm rút ngắn thời gian thu hồi vốn gấp đôi
khoảng 12 năm. Tuy nhiên theo thống kê cho thấy những con số trên vẫn còn rất khiêm
tốn so với tiềm năng tăng trưởng của các nền kinh tế đang phát triển. Điều này chứng
tỏ sự khai thác thành công của thị trường vốn nước ngoài chỉ là một trong nhiều thành
phần chiến lược phát triển.
9
Mặt khác, tự do hoá tài chính cũng thúc đẩy tăng trưởng do khuyến khích các nhà
đầu tư chuyển hướng vào đầu tư những dự án có rủi ro cao hơn (vì nhà đầu tư có thể đa
dạng hoá các danh mục đầu tư của mình) để hưởng được tỷ suất lợi nhuận cao hơn. Đó
là điều mà các nhà đầu tư khó có thể thực hiện được trong thời kỳ trước tự do hoá. Mức
nhiều người cho rằng khủng hoảng ngân hàng là sự kiện kéo theo của cải cách hệ thống
tài chính theo hướng mở cửa. Thậm chí, nhiều chính phủ cho rằng đó là cái giá phải trả
của tự do hoá tài chính. Nhận định này dường như được minh chứng bởi các cuộc
khủng hoảng ngân hàng diễn ra ở Argentina, Brazil, Chile trong những năm 70, khủng
hoảng tiền tệ ở Mexico năm 1994 - 1995 và Thailand năm 1997. Những cuộc khủng
hoảng như vậy đã làm cho chính phủ của các nước Đông Nam Á tỏ ra thận trọng khi
cân nhắc vấn đề cải cách, mở cửa và tự do hoá tài khoản vốn.
Tuy nhiên, theo nhiều nhà nghiên cứu, việc mở cửa thị trường tài chính, bản thân
nó thực chất không phải là nguyên nhân sâu xa dẫn đến khủng hoảng tài chính - ngân
hàng . Việc cải cách hệ thống tài chính và tự do hoá có chăng chỉ lật tẩy và làm trầm
trọng thêm những yếu kém trong thể chế và các chính sách tài chính vĩ mô vốn dĩ đã
tiềm ẩn, và do đó làm tăng thêm rủi ro của việc dẫn đến khủng hoảng tài chính. Những
cải cách tài chính theo hướng mở cửa đã diễn ra ở những nước này thực chất không gây
cản trở hoặc làm phương hại đến lợi ích thực thụ, mà chỉ góp phần phơi bày những
điểm yếu của hệ thống tài chính nội địa trước những điều kiện của hệ thống tài chính
quốc tế mà thôi.
Năm 1995, hai nhà nghiên cứu Kamisky và Reinhart và một số nhà nghiên cứu
khác đã xác định một loạt các nhân tố đằng sau những vụ đổ vỡ ngân hàng trên thế giới.
Những nhân tố này gồm: sự không ổn định có tính vĩ mô như sự thất thường của hoạt
động thương mại; tính áp đặt trong chính sách tỷ giá và lãi suất; sự bùng nổ của hoạt
động cho vay; sự sụt giá tài sản, sự du nhập vốn một cách ồ ạt; sự chuẩn bị chưa kỹ
lưỡng để sẵn sàng tiến hành mở cửa, và sự không tuân thủ tính logic và trình tự của
những cải cách tài chính.
Nói cách khác, nguyên nhân chính của các cuộc khủng hoảng tài chính lại chính
là những yếu kém tiềm ẩn của hệ thống ngân hàng, sự thiếu lành mạnh của hệ thống
chính sách quản lý vĩ mô, sự thiếu vắng của một chế độ giám sát, kiểm tra có hiệu quả
và sự sai lệch trong đường lối cải cách, chứ không phải xuất phát từ bản thân quá trình
tự do hoá tài chính.
Thứ hai: tài chính thường được coi là công cụ quản lý chiến lược và là lĩnh vực
đặc biệt cần được nắm giữ bởi Nhà nước để tập trung thực hiện những mục đích quan
tài chính.
1.3.1 Dòng vốn chảy vào ồ ạt
Một điều thấy rất rõ là mặc dù có sự khác biệt đáng kể về thời gian và qui mô,
dòng vốn này đã chảy vào rất mạnh mẽ suốt những thập niên 1990 (xem bảng 1.1).
12
Dòng chảy ồ ạt này có mối quan hệ chặt chẽ với quy mô của nền kinh tế, hơn
một nửa các nước thể hiện trong bảng 1.1 đã nhận dòng vốn đầu tư nước ngoài vào
trong nước trung bình hàng năm khoảng 4% GDP: Chi Lê, Malaysia, Thái Lan, Mexico
là những nước sớm nhất đón nhận dòng chảy vốn quốc tế mạnh mẽ vào thập niện
1990. Sau năm 1992, dòng vốn quốc tế cũng chảy vào các nước Nam Á nhưng với quy
mô nhỏ hơn, riêng các nước Đông Au, sau năm 1992, quy mô của dòng vốn vào rất
lớn, hơn cả những nước tiếp nhận vốn đầu tư lớn nhất ở Châu Mỹ Latinh và Đông Á.
Trong khi lãi suất quốc tế thấp là nhân tố chính làm thu hút dòng vốn tư nhân vào
các nước đang phát triển trong suốt thời kỳ 1990 - 1993, những thay đối trong việc
nhận thức mức độ tín nhiệm và kết quả sự điều chỉnh vốn cổ phần trong danh mục đầu
tư quốc tế là một nét đặc trưng cơ bản trong giai đọan đầu của tự do hóa.
Bảng 1.1: Dòng vốn tư nhân vào 20 nước đang phát triển trong thập niên 1990
(vốn quốc tế dài hạn trong khu vực tư nhân tính bằng % trên GDP)
Nước
Thời kỳ
dòng vốn vào
Vốn tích luỹ/GDP
vào cuối kỳ
Dòng vốn vào
hàng năm tối đa
Argentina 1991 – 1994 9,7 3,8
Brazil 1992 – 1995 9,4 4,8
Chi Lê 1989 – 1995 25,8 8,6
Đặc điểm chung của sự đảo ngược ở hầu hết các nước đều là do thị trường thiếu
niềm tin vào chính sách kinh tế vĩ mô trong nước.
1.3.3 Tính biến động và xu hướng bầy đàn
Ngoài tính dễ bị tổn thương bởi sự đảo ngược lớn của dòng vốn, các nhà đầu tư
cũng lo ngại tính biến động gia tăng cùng với dòng vốn tư nhân, đặc biệt là dòng vốn
đầu tư gián tiếp. Tự do hoá có thể làm tăng sự mất ổn định theo hai cách:
Thứ nhất, nó có thể mở toang nền kinh tế của các nước đang phát triển, tiếp cận
trực diện với những nguồn gốc mới của những cú sốc trong kinh tế quốc tế.
Thứ hai, khuyếch đại những cú sốc trong nước. Mối quan ngại này trở nên quan
trọng hơn bao giờ hết vì mức độ tự chủ của quốc gia trong việc hoạch định chính sách
suy giảm dần cùng với mức độ tăng trưởng trong tự do hoá tài chính.
Những nguồn gốc quốc tế chủ yếu của sự biến động đó là những thay đối trong tỷ
suất sinh lợi mong đợi (lãi suất quốc tế và tỷ suất sinh lợi trên thị trường chứng khoán);
xu hướng bầy đàn của các nhà đầu tư tiềm ẩn và nhiễm bệnh. Những thay đổi trong tỷ
suất sinh lợi quốc tế sẽ làm dịch chuyển dòng vốn bằng cách làm thay đổi những nền
tảng cơ bản của nền kinh tế. Trong khi đó thì xu hướng bầy đàn và việc nhiễm bệnh
thậm chí còn có sức công phá mạnh hơn nữa, nó có thể làm chuyển dịch cơ cấu đầu tư
trong một quốc gia ngay cả khi những nền tảng cơ bản của một nước vẫn không thay
đỗi. Mặc dù sự thay đổi trong lãi suất quốc tế vẫn còn ảnh hưởng mạnh đến dòng vốn
đầu tư gián tiếp, nhưng mức độ ảnh hưởng này sẽ giảm đi nếu các yếu tố đặc thù của
từng quốc gia trở nên quan trọng hơn. Có một vài bằng chứng cho thấy rằng ở những
thị trường mới nổi thì xu hướng bầy đàn của các nhà đầu tư nước ngoài dễ xuất hiện
hơn, nhưng kinh nghiệm của các nước bắt đầu qúa trình tự do hoá cho thấy rằng đỉnh
cao của hành vi bầy đàn như thế chỉ có thể tồn tại trong thời gian ngắn ngủi.
14
Về phía trong nước, các quốc gia đang phát triển dễ bị tổn thương bởi những cú
sốc thật (do thay đổi các điều kiện mậu dịch như sự thay đối trong giá cả nhiên liệu
quốc tế, sự thay đổi trong cơ cấu sản phẩm xuất khẩu và nhập khẩu, tỷ giá hối đoái thực
được định giá cao làm xấu đi cán cân tài khoản vãng lai) và cú sốc chính sách hơn là
các nước công nghiệp và đến lượt nó những thay đổi này lại gây ra sự biến động lớn
mức độ trung bình của dòng vốn cao hơn. Kết quả là những tác động tiềm ẩn của sự
biến động như thế trong nền kinh tế nội địa cũng lớn hơn so với thập kỷ 1980. Những
nhân tố của môi trường quốc tế đã góp phần vào việc tăng thêm những biến động tiềm
ẩn của dòng vốn và giá tài sản trong những thị trường mới nổi vì những thị trường này
vẫn còn nằm trong cận biên danh mục vốn đầu tư gián tiếp của các nhà đầu tư nước
ngoài, do đó những thị trường mới nổi vẫn dễ bị tổn thương bởi những điều kiện có
tính chất chu kỳ của những nước công nghiệp. Và vì những nhà đầu tư vẫn còn khá xa
lạ với thị trường mới nổi, nên những thị trường này là đối tượng xu hướng bầy đàn của
nhà đầu tư quốc tế hơn là những nước công nghiệp. Tuy nhiên, rủi ro chính yếu của sự
biến động và sự đảo ngược lớn phụ thuộc vào mức độ của từng quốc gia riêng biệt và
bắt nguồn từ sự tương tác lẫn nhau của các chính sách kinh tế và những điều kiện kinh
tế trong nước cùng với những nhân tố quốc tế.
1.4 TỰ DO HOÁ TÀI CHÍNH - NỘI DUNG CHỦ YẾU LÀ TỰ DO HOÁ DỊCH
VỤ TÀI CHÍNH
1.4.1 Cơ hội từ quá trình tự do hóa dịch vụ tài chính
Nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định tầm quan trọng ngày càng to lớn của
các lợi ích từ tự do hóa. Sach và Warner (1995) đã tìm ra sự liên quan giữa mức độ mở
cửa với tăng trưởng kinh tế tại các nước đang phát triển. Levine (1996 và 1997) cho
thấy rằng cả các nước phát triển và đang phát triển có ngành dịch vụ mở cửa đã tăng
trưởng nhanh hơn các nước có ngành dịch vụ đóng cửa. Như vậy, các nghiên cứu chỉ ra
rằng: những thành tựu kinh tế trong thời gian qua mà các nước đang phát triển đạt được
có sự đóng góp không nhỏ của quá trình tự do hóa ngành dịch vụ. Đặc biệt, tự do hóa
thương mại trong ngành dịch vụ tài chính, được thể hiện một cách minh bạch và có cơ
chế chính sách ổn định, sẽ tạo nhiều điều kiện thuận lợi khác nhau cho người tiêu dùng,
bản thân ngành tài chính, các ngành liên quan và cho cả nền kinh tế.
a) Đối với người tiêu dùng
Việc mở cửa cho nước ngoài tham gia các ngành dịch vụ tài chính đảm bảo đa
dạng hóa lựa chọn và nâng cao chất lượng phục vụ người tiêu dùng (gồm cả nắm giữ
tài sản và hoạt động thương mại). Việc tham gia này kích thích cải cách và duy trì tính
16
cao. Nghiên cứu từ các nước OECD cho thấy tự do hóa đã làm chi phí nhân sự trong
tổng chi phí từ mức trung bình 40% xuống 34% trong giai đoạn 1980-1990. Chi phí
17
thấp và cạnh tranh đã làm cho chi phí hoa hồng giảm 50% trong cùng thời kỳ. Đồng
thời, tự do hóa tạo điều kiện mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại hối, chứng khoán
quốc tế, phát triển các loại hình dịch vụ mới. Từ đó, các chủ thể trong nước thay đổi cơ
bản hoạt động kinh doanh theo hướng các tín hiệu thị trường kết hợp với đa dạng hóa,
phân tán rủi ro. Edey và Hviding (1995) có báo cáo rằng các ngân hàng đã bắt đầu
kiếm tiền nhiều hơn từ các buôn bán chứng khoán so với nghiệp vụ tín dụng ngân hàng
truyền thống khi họ tham gia các lĩnh vực kinh doanh mới.
Thứ hai, với sự mở cửa của thị trường dịch vụ tài chính, các tổ chức tài chính nội
địa có cơ hội gia tăng tiềm lực tài chính từ các nguồn vốn bên ngoài. Goldstein và
Turner (1996) báo cáo rằng tỷ lệ vốn bên ngoài tương đối cao đã giúp duy trì sự ổn
định của hệ thống ngân hàng của Hồng Kông, Chilê và Malaysia. Như chúng ta biết,
tiềm lực tài chính luôn là một hạn chế của các tổ chức tài chính khắc phục hạn chế này.
Thứ ba, cùng với quá trình mở cửa dịch vụ tài chính, các chủ thể trong nước được
tiếp cận với các công nghệ hiện đại bao gồm cả những hệ thống giám sát tiên tiến, các
kênh phân phối sản phẩm qua mạng, xử lý số liệu và các công cụ tài chính mới. Nó
thúc đẩy sự phát triển của ngân hàng trực tuyến (online), phổ biến các sản phẩm dịch
vụ tài chính cung cấp qua mạng đồng thời hỗ trợ cho các chủ thể cung cấp dịch vụ tư
vấn tài chính. Theo thời gian, dịch vụ cung cấp qua biên giới sẽ ngày càng đóng góp
lớn hơn cho tất cả ngành dịch vụ tài chính.
Thứ tư, các chủ thể tài chính nội địa có thuận lợi hơn trong việc tiếp cận với thị
trường dịch vụ tài chính thế giới. Các nghiên cứu đã chứng minh rằng tự do hóa đóng
vai trò to lớn khi xuất khẩu dịch vụ tài chính. Ví dụ, Trung Quốc, Hồng Kông,
Singapore, Mexico và Brazil là các nhà cung cấp nhiều loại hình dịch vụ tài chính
mang tính chất khu vực và quốc tế.
Nói tóm lại, cạnh tranh quốc tế cũng như các lợi ích khác của quá trình mở cửa
thị trường dịch vụ tài chính đã góp phần nâng cao hiệu qua hoạt động của các chủ thể
trong nước làm cho các chủ thể này càng hoàn thiện hơn.
của thị trường mới và nhu cầu hoạt động dịch vụ liên quan đến máy tính. Bên cạnh đó,
tự do hóa dịch vụ tài chính cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành công
nghiệp du lịch. Các dịch vụ bảo hiểm du lịch, các tiện ích về thanh toán bằng thẻ tín
dụng, thẻ du lịch cũng là một lợi thế cạnh tranh của một quốc gia.
Ngoài ra, tự do hóa dịch vụ tài chính còn tạo điều kiện về công ăn việc làm. Cả hoạt
động dịch vụ tài chính và dịch vụ lệ thuộc - như kế toán, dịch vụ tư pháp, tư vấn và
dịch vụ liên quan đến máy tính - đều thu hút lao động cao và thúc đẩy sự phát triển của
công việc đòi hỏi kỹ năng cao.
19
d) Đối với nền kinh tế
Có những bằng chứng chắc chắn để khẳng định rằng quá trình tự do hóa dịch vụ
tài chính có tác động tích cực đến sự tăng trưởng kinh tế thông qua thu hút vốn đầu tư,
phân phối các nguồn lực một cách hiệu quả và duy trì một hệ thống chính sách lành
mạnh.
King và Levine (1993) đã báo cáo rằng phần lớn đầu tư có liên quan đến hệ
thống dịch vụ tài chính. Số liệu từ Diễn đàn kinh tế thế giới (1997) cho thấy mối quan
hệ tích cực của hệ thống tài chính và dịch vụ trung gian tài chính đến tiết kiệm và đầu
tư. 10 nước đứng đầu xếp hạng của diễn đàn về mặt chất lượng dịch vụ tài chính đạt
mức tiết kiệm và đầu tư trên 33% GDP, trong khi các nước xếp hạng thấp nhất chỉ đạt
mức trung bình 22%. Mối quan hệ biện chứng giữa chất lượng dịch vụ tài chính và đầu
tư được chứng minh qua năng lực quản lý và bảo hiểm rủi ro. Các nhà đầu tư có cơ hội
tự bảo hiểm hoặc bảo đảm trước những rủi ro với những dự án có vốn đầu tư và lợi
nhuận cao hơn. Thêm một lợi ích của thương mại dịch vụ tài chính quốc tế là tạo điều
kiện cho nguồn vốn bên ngoài tập trung vào thị trường nội địa. Các nước có nguồn tiết
kiệm cao và lợi tức đầu tư thấp có thể xuất khẩu vốn đầu tư và qua đó nâng cao lợi
nhuận của mình. Việt Nam hiện đang có môi trường kinh tế tăng trưởng ổn định nên
việc tự do hóa dịch vụ tài chính sẽ làm gia tăng đáng kể các nguồn vốn đầu tư từ nước
ngoài.
Trong điều kiện thị trường dịch vụ tài chính bị kiềm hãm, các nguồn lực tài chính
có thể phân bổ không hiệu quả do chính sách can thiệp trực tiếp của Chính phủ. Sự can
triển và các nước đang phát triển có ngành dịch vụ tài chính mở cửa thông thoáng đã
tăng trưởng nhanh hơn những nước có ngành dịch vụ tài chính đóng cửa. Đặc biệt, tác
động tự do hóa đến tăng trưởng kinh tế thể hiện mạnh nhất ở các nước đang phát triển,
những nước có hệ thống tài chính kém hiện đại và tinh vi. Ví dụ, tại Ghana, các cuộc
cải cách cơ cấu và kinh tế vĩ mô, kể cả cải cách trong ngành dịch vụ tài chính đã thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế từ -1% trong những năm 1970 lên trên 5% trong giai đoạn
1983-1990. Thành công về mặt kinh tế của Hồng Kông và Singapore cũng dựa vào
ngành dịch vụ tài chính đang dần được tự do hóa.
1.4.2. Thách thức của quá trình tự do hóa đối với các chủ thể cung cấp dịch
vụ tài chính
Việt Nam cũng như các nước đang phát triển, có thị trường tài chính mới mở cửa,
đều mang những bất hoàn hảo trong thị trường. Tương tự, các chủ thể cung cấp dịch vụ
tài chính có năng lực cạnh tranh chưa cao, còn hạn chế về mặt quy mô tài chính, công
nghệ... Do đó, chúng ta còn gặp nhiều thách thức trong quá trình tự do hóa các dịch vụ
21
tài chính xét về khía cạnh vi mô (các tổ chức tài chính) cũng như khía cạnh vĩ mô
(chính sách tiền tệ, chủ quyền kinh tế quốc gia...).
Các tổ chức tài chính của Việt Nam đang có ưu thế về thị phần và làm ăn có lãi
nhưng thực trạng cho thấy, hệ thống ngân hàng Việt nam dễ bị tổn thương do những
hạn chế về vốn và năng lực quản lý cũng như các rủi ro hệ thống. Nhìn chung, trong
quá trình tự do hóa dịch vụ tài chính, các tổ chức tài chính Việt Nam sẽ gặp những
thách thức sau:
Thứ nhất, áp lực cạnh tranh quốc tế đòi hỏi các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính
phải có tiềm lực tài chính vững mạnh. Trong khi đó, thực trạng cho thấy tiềm lực tài
chính luôn là hạn chế đầu tiên của các tổ chức tài chính Việt Nam. Vì thế, sự cạnh
tranh giữa các định chế tài chính trung gian nội địa và nước ngoài luôn bất cân xứng về
quy mô tài chính.
Thứ hai, các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính nước ngoài luôn cạnh tranh với
ưu thế nổi trội về công nghệ. Ngoài lợi thế có được về chi phí thấp, chất lượng sản
phẩm cao, các tổ chức tài chính nước ngoài có khả năng khai thác những kênh phân
Việt Nam đã thi hành chính sách đổi mới kinh tế và thực hiện việc mở cửa bắt đầu
từ năm 1986. Xu thế này ngày càng được khẳng định bằng một loạt các mối quan hệ
liên kết kinh tế được thiết lập vào những năm sau đó như tham gia ASEAN (1995),
APEC (1998), ký kết Hiệp định thương mại Việt - Mỹ (2000)... Song song với những
cải cách kinh tế, hệ thống tài chính cũng có những cải tổ văn bản theo hướng hiệu quả,
cạnh tranh và mở cửa từng bước.
Hệ thống ngân hàng của nước ta thực sự có những thay đổi căn bản vào những
năm đầu của thập kỷ 90 khi được tách làm 2 cấp: ngân hàng Nhà nước và ngân hàng
thương mại với hai chức năng riêng biệt. Sự cải tổ này đã đem đến những thay đổi đáng
kể theo chiều hướng tích cực làm cho hệ thống ngân hàng ngày càng thích ứng với cơ
chế thị trường hơn. Tuy vậy, nhìn một cách khái quát, hệ thống ngân hàng ở nước ta
vẫn chưa đáp ứng được những yêu cầu của công cuộc cải cách và vẫn có thể coi là chưa
phát triển. Một số hạn chế chủ yếu là:
Non trẻ trong kinh nghiệm và kỹ năng nghề nghiệp
Hệ thống các văn bản pháp quy chưa hoàn chỉnh
Thiếu phương tiện và nhân viên lành nghề
Hạn chế về công cụ thanh toán, chi trả
23
Tỷ lệ cho vay không có khả năng thu hồi vốn lớn
Thiếu vắng một cơ chế giám sát kiểm tra có hiệu quả
Được coi là một phần của công cuộc cải cách, Việt Nam cũng đã cho phép các
ngân hàng nước ngoài hoạt động. Một ngân hàng nước ngoài muốn hoạt động tại Việt
Nam có thể thành lập dưới 3 dạng: văn phòng đại diện, ngân hàng liên doanh hoặc chi
nhánh ngân hàng nước ngoài.
Nếu mở văn phòng đại diện thì ngân hàng nước ngoài không được phép thực hiện
các hoạt động vì mục đích lợi nhuận như cho vay, nhận tiền gửi, mở thư tín dụng...
Hiện có khoảng trên dưới 50 văn phòng đại diện của các ngân hàng nước ngoài đang
hoạt động tại Việt Nam (Asean Year Book, 1999).
Nếu thành lập chi nhánh hoặc ngân hàng liên doanh thì có thể thực hiện một số
các hoạt động thông thường của nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng (cả nội và ngoại tệ)
có thể nói rằng chính sách đó đã tương đối thành công và trở thành một nhân tố mang
lại sự cải thiện về tính hiệu quả, tính ổn định và tính cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ
tài chính - một lĩnh vực vốn được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ và mang nặng tính hành
chính bao cấp trong thời gian trước đây. Sự mở cửa thị trường của Việt Nam có thể coi
là tương đối hào phóng so với một số nước đang phát triển. Điều này đặc biệt đúng nếu
so sánh giữa Việt Nam và Trung Quốc- một nước đang phát triển có nhiều điều kiện
kinh tế, xã hội, chính trị khá tương đồng với Việt Nam và là nước đã có những cải cách
kinh tế đi trước Việt Nam một thập kỷ. Tuy nhiên điều đó cũng không có nghĩa rằng sự
mở cửa khá nhanh đó sẽ tác động tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam mà ngược lại, tiến
trình đó có thể đã là một động lực thúc đẩy quan trọng làm cho công cuộc cải tổ của
Việt Nam nhanh đi đến đích hơn và do đó có khả năng thích ứng với nền kinh tế thế
giới một cách hiệu quả hơn.Chiến lược này một lần nữa được khẳng định thông qua
việc ký kết hiệp định thương mại Việt - Mỹ (trong đó có những cam kết về việc mở
cửa, trao đổi thương mại trong lĩnh vực dịch vụ tài chính)- một bước đi quan trọng
trong tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam.
25
1.5.2 Những bài học kinh nghiệm của các nước đối với Việt Nam trong quá
trình tự do hóa tài chính.
Dựa trên những phân tích về lợi ích mà rủi ro về việc tự doa hoá tài chính, kinh
nghiệm mở cửa thị trường của Trung Quốc và Canada và thực tiễn cải cách hệ thống tài
chính của Việt Nam trong thập kỷ vừa qua, một số khuyến nghị có thể rút ra là:
Thứ nhất: Việt Nam nên tiếp tục tiến hành việc mở cửa dần dần thị trường tài chính
với một phạm vi thích hợp và một trình tự hợp lý sao cho vừa đảm bảo nâng dần năng lực
và khả năng cạnh tranh vừa thích nghi và tiến gần hơn đến những tiêu chuẩn và thông lệ
quốc tế. Sự thành công về việc xúc tiến mở cửa thị trường tài chính thời gian qua đã cho
thấy rằng, sự tham gia của các hoạt động đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ tài chính
cũng đã mang lại lợi ích đáng kể như tăng cường sự cạnh tranh, hạ thấp chi phí, nâng cao