1 MỤC LỤC :
MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1. TỔNG QUAN VỀ VỐN SẢN XUẤT KINH DOANH . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1.1. Khái niệm về vốn sản xuất kinh doanh . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1.2. Một số đặc trưng cơ bản của vốn . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.2. SỰ GIỚI HẠN CỦA NGUỒN VỐN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
1.2.1. Giới hạn nguồn vốn cứng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
1.2.2. Giới hạn nguồn vốn mềm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
1.2.3. Tác động của nguồn vốn giới hạn đến doanh nghiệp . . . . . . . . . . . . . 8
1.3. PHÂN LOẠI VỐN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
1.3.1. Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển của từng loại vốn trong các giai
đoạn của chu kỳ sản xuất kinh doanh . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 11
1.3.2. Căn cứ vào nguồn gốc hình thành . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
1.4. CÁC PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG VỐN CHO DOANH NGHIỆP . . 13
1.4.1. Xin cấp vốn bổ sung . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 14
1.4.2. Phát hành cổ phiếu bổ sung . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 14
1.4.3. Phát hành trái phiếu công ty . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
16
1.4.4. Vay từ thò trường tín dụng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
17
1.4.5. Thuê tài sản . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
18
1.4.6. Tín dụng thương mại (tín dụng nhà cung cấp) . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP XÂY DỰNG Ở TP.HCM . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
3.1. Đònh hướng phát triển ngành xây dựng của Việt Nam . . . . . . . . . . . . .
66
3.2. Dự báo về thò trường và nhu cầu vốn của các doanh nghiệp xây dựng ở
TP.HCM đến năm 2010-2020 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
66
3.2.1. Dự báo về thò trường xây dựng Tp.HCM đến năm 2010-2020 . . . . . .
66
3.2.2. Dự báo nhu cầu vốn của các doanh nghiệp xây dựng TP.HCM đến
năm 2010-2020 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
67
3.3. Một số giải pháp tạo lập nguồn vốn cho các doanh nghiệp xây dựng ở
TP.Á án năm 2010-2020 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
78
3.3.1. Nhóm giải pháp về giới hạn nguồn vốn cứng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
78
3.3.2. Nhóm giải pháp về giới hạn nguồn vốn mềm . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
88
KẾT LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
92
TÀI LIỆU THAM KHẢO . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .XXXVI3 MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài:
Trong những năm gần đây, hoà nhập với những biến đổi lớn lao của nền kinh tế,
ngành công nghiệp xây dựng nước ta đã có những bước phát triển đáng kể. Hiện
tạo lập nguồn vốn cho các doanh nghiệp ngành xây dựng ở Thành phố Hồ
Chí Minh đến năm 2010-2020” được hình thành.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
+ Cung cấp những thông tin lý luận về vốn, vai trò của vốn đối với sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế quốc gia nói chung, các
phương thức huy động vốn cho doanh nghiệp
+ Khái quát đặc điểm của ngành xây dựng, đánh giá thực trạng nhu cầu về vốn
và khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp ngành xây dựng Thành phố Hồ
Chí Minh trong thời gian qua và dự báo nhu cầu vốn của ngành xây dựng Thành
phố đến năm 2010-2020
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm tạo lập nguồn vốn đáp ứng nhu cầu đầu tư
phát triển của các doanh nghiệp xây dựng trong giai đoạn từ nay đến năm 2010-
2020 theo quy hoạch phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Tạo lập nguồn vốn cho tăng trưởng và phát triển kinh tế là một vấn đề mang tính
rộng rãi, phổ biến không chỉ ở phạm vi một doanh nghiệp, một ngành, một đòa
phương, một quốc gia mà trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên trong phạm vi giới
hạn, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề tạo lập vốn cho các doanh nghiệp
5 ngành xây dựng ở Thành phố Hồ Chí Minh, trong mối quan hệ với các ngành
kinh tế của Thành phố cũng như ngành xây dựng trên cả nước.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chung là duy vật biện chứng và duy vật lòch sử. Đề tài đảm bảo sự
kết hợp chặt chẽ giữa tư duy biện chứng với quan điểm lòch sử, xuất phát từ
những yêu cầu cụ thể của thực tiễn để xem xét một cách toàn diện và khái quát
những sự tác động qua lại lẫn nhau.
Đề tài chủ yếu sử dụng dạng thiết kế nghiên cứu mô tả và thiết kế nghiên cứu
sắm máy móc thiết bò mới, mở rộng sản xuất kinh doanh,… Các loại vốn tiền tệ
này được gọi là vốn sản xuất kinh doanh, nó là một quỹ tiền tệ đặc biệt có nhiều
chủng loại với các hình thái vật chất khác nhau nằm rải rác khắp nơi theo phạm
vi mạng lưới hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn doanh nghiệp và phản ánh
tiềm lực về tài chính của doanh nghiệp.
1.1.2. Một số đặc trưng cơ bản của vốn
• Vốn được biểu hiện giá trò của toàn bộ tài sản thuộc quyền quản lý và sử
dụng của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất đònh, là lượng giá trò thực
của tài sản hữu hình và vô hình được sử dụng vào sản xuất kinh doanh nhằm
tạo ra giá trò sản phẩm mới. Tài sản hiện vật hữu hình như nhà xưởng, máy
móc thiết bò, nguyên nhiên vật liệu, thành phẩm, hàng tồn kho và những tài
sản vô hình như thương hiệu, phát minh, sáng chế, thông tin,… Tuy nhiên,
không phải tất cả tài sản đều là vốn mà chỉ có tài sản hoạt động mới được
gọi là vốn, còn tài sản ở trạng thái tónh (chưa được sử dụng trong sản xuất
7 kinh doanh) chỉ là vốn tiềm năng. Đặc trưng này cho phép ta nhận đònh rằng
một trong những biện pháp huy động vốn cho phát triển sản xuất là khai thác
tiềm năng của tài sản xã hội còn đang được cất trữ chưa sử dụng để đầu tư
vào sản xuất kinh doanh.
• Vốn được biểu hiện bằng tiền và được sử dụng vào sản xuất kinh doanh với
mục đích sinh lời. Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng tiền khác với vốn.
Tiền nếu dùng để mua bán trao đổi vật phẩm cho tiêu dùng không phải là
vốn. Tiền chỉ được trở thành vốn khi nó được sử dụng đầu tư kinh doanh với
mục đích sinh lời.
• Vốn bao giờ cũng gắn với chủ sở hữu nhất đònh
• Vốn là một hàng hóa đặc biệt, chỉ bán quyền sử dụng. Cũng như mọi hàng
hóa khác vốn có giá trò và giá trò sử dụng, nó được mua bán trên thò trường
Trên thực tế, khi có nhiều dự án có giá trò hơn những nguồn ngân quỹ có sẵn,
người ta buộc phải xem xét đến vấn đề giới hạn của nguồn vốn. Sự giới hạn của
nguồn vốn bao gồm giới hạn nguồn vốn cứng (Hard Capital Rationing) và giới
hạn nguồn vốn mềm (Soft Capital Rationing).
1.2.1. Giới hạn nguồn vốn cứng
Giới hạn nguồn vốn cứng xuất hiện khi một doanh nghiệp không thể tăng nguồn
tài trợ do nguồn cung cấp bò hạn chế. Đó là những giới hạn do tác động bên
ngoài lên chi phí đầu tư cho việc thực hiện những dự án tiềm năng.
Nguyên nhân xuất hiện giới hạn nguồn vốn cứng bắt nguồn từ sự bất lực hay
không sẵn lòng của doanh nghiệp trong việc tìm kiếm nguồn tài trợ tăng thêm.
Những nguyên nhân đó có thể là: Chính sách tiền tệ thắt chặt của Chính phủ;
9 Thò trường vốn hoạt động kém hiệu quả; Nỗi lo sợ gia tăng mức độ rủi ro từ phía
nhà cho vay; Sự thiếu hiểu biết của nhà đầu tư; Môi trường kinh tế-môi trường
đầu tư không ổn đònh; …
1.2.2. Giới hạn nguồn vốn mềm
Giới hạn nguồn vốn mềm là những giới hạn chòu tác động của việc quản trò nội
bộ lên chi tiêu vốn mặc dù đã có sẵn những dự án đầu tư tốt (có NPV dương).
Đây là những giới hạn do tự bản thân doanh nghiệp gây ra.
Những nguyên nhân dẫn đến giới hạn nguồn vốn mềm có thể là: Doanh nghiệp
không đủ khả năng quản lý khi mở rộng đến một mức độ nào đó; Doanh nghiệp
không đủ uy tín đối với những người cho vay và các nhà đầu tư; Sự giới hạn và
phân chia quyền kiểm soát doanh nghiệp; Sự xuất hiện các chi phí nằm ngoài
tầm kiểm soát của các chủ sở hữu doanh nghiệp; Bất cân xứng thông tin; Tính
cách của những người chủ sở hữu doanh nghiệp;…
1.2.3. Tác động của nguồn vốn giới hạn đến doanh nghiệp
1.2.3.1. Tác động tích cực
chức vụ” đã vô tình tạo ra giới hạn nguồn vốn mềm cho các dự án tốt, vì sự lựa
chọn này tạo ra nhiều chi phí, các chi phí này được tính vào chi phí đại diện của
doanh nghiệp.
Hành động cắt giảm chi phí các dự án đầu tư mới đôi khi dẫn dắt các nhà điều
hành đến suy nghó : các dự án đầu tư này có thể trì hoãn thực hiện mà không làm
11 mất đi cơ hội đầu tư. Tuy nhiên trên thực tế các cơ hội đầu tư tốt nhất đã mất đi
vì sự trì hoãn đó.
Sự giới hạn về nguồn vốn buộc các nhà tài chính phải chia cắt dự án lớn thành
nhiều dự án nhỏ hơn, đôi khi họ còn trì hoãn việc thực hiện các dự án này. Các
nhà nghiên cứu cho rằng nếu doanh nghiệp thực hiện ngay các dự án nhỏ hơn
này thì doanh nghiệp vẫn có thể thu được những khoản lợi nhuận đáng kể. Còn
nếu doanh nghiệp bỏ qua ngay cả việc thực hiện các dự án nhỏ hơn này thì
khoản lợi nhuận tiềm năng mà doanh nghiệp mất đi là rất lớn.
Những nghiên cứu thực nghiệm cho thấy ở các nước phát triển hạn chế về nguồn
vốn cứng tương đối ít, nguồn tài trợ dường như luôn có sẵn cho các dự án. Hầu
hết các trường hợp giới hạn nguồn vốn thường là giới hạn nguồn vốn mềm. Tuy
nhiên ở các nước đang phát triển, do thò trường vốn chưa phát triển và hoạt động
kém hiệu quả nên việc giới hạn nguồn vốn cứng thường có tác động lớn hơn.
Mặc dù dự án tốt và doanh nghiệp có nhu cầu vốn nhưng để tìm được nguồn tài
trợ thì còn phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Chẳng hạn doanh nghiệp có đủ
điều kiện để huy động vốn trên thò trường chứng khoán không? Có đủ tài sản để
thế chấp cho các khoản vay không? Có quan hệ tốt với các ngân hàng và các
nhà cho vay khác không?…
1.3. PHÂN LOẠI VỐN
Căn cứ vào mục đích, sự quan tâm và hướng tiếp cận khác nhau mà người ta
phân đònh vốn thành các loại khác nhau.
nó lại thông qua hình thức khấu hao để đền bù giá trò hao mòn, thực hiện tái sản
xuất TSCĐ.
13 1.3.1.2. Vốn lưu động
Để tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài tư liệu lao động, các doanh nghiệp còn
phải có đối tượng lao động và sức lao động. Đối tượng lao động gồm hai bộ phận
chính là những vật tư dự trữ để bảo đảm cho quá trình sản xuất được tiến hành
liên tục (nguyên, nhiên vật liệu) và những vật tư đang trong quá trình sản xuất
(sản phẩm đang chế tạo, bán thành phẩm). Mặt khác quá trình sản xuất luôn
phải gắn liền với quá trình lưu thông làm hình thành trong khâu này một số
khoản hành hóa, tiền tệ và vốn trong thanh toán. Biểu hiện dưới hình thái vật
chất của các yếu tố trên được gọi là tài sản lưu động của doanh nghiệp, số tiền
ứng trước về những tài sản đó được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp. Vốn
lưu động tuần hoàn liên tục, hoàn thành một vòng luân chuyển sau một chu kỳ
và chuyển toàn bộ giá trò vào sản phẩm mới ngay trong chu kỳ sản xuất đó.
1.3.2. Căn cứ vào nguồn gốc hình thành vốn được phân chia thành ba loại:
vốn chủ sở hữu, vốn đi vay và vốn trong thanh toán.
1.3.2.1. Vốn chủ sở hữu:
Đây là vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, doanh nghiệp có toàn
quyền sử dụng chúng mà không phải cam kết thanh toán. Tỷ trọng vốn chủ sở
hữu so với tổng nguồn vốn phản ánh mức độ chủ động của doanh nghiệp trong
hoạt động kinh doanh. Vốn chủ sở hữu bao gồm những khoản sau đây:
Vốn điều lệ là vốn mà chủ sở hữu doanh nghiệp góp vào để thành lập hay mở
rộng doanh nghiệp. Theo quy đònh của pháp luật vốn điều lệ tối thiểu phải bằng
mức vốn pháp đònh quy đònh cụ thể đối với từng ngành nghề kinh doanh. Vốn
điều lệ do ngân sách nhà nước cấp (đối với doanh nghiệp nhà nước), hoặc do các
cổ đông đóng góp (đối với công ty cổ phần), hoặc các đồng sở hữu góp vốn (đối
điều lệ nên đã gặp phải khó khăn trong việc chủ động xây dựng kế hoạch sản
xuất kinh doanh. Mặt khác có nhiều DNNN vốn ngân sách nhà nước cấp quá
nhỏ so với vốn sản xuất kinh doanh, không tương xứng với tầm cỡ của doanh
nghiệp. Chính vì vậy mà Nhà nước cần xem xét, cân nhắc cấp thêm vốn cho các
doanh nghiệp, trước tiên là các doanh nghiệp thuộc diện cần khuyến khích phát
triển.
Đối với các doanh nghiệp tổ chức theo mô hình công ty mẹ - công ty con, khi
một công ty con có nhu cầu về vốn để thực hiện một danh mục đầu tư thì công ty
mẹ có thể xem xét và điều phối nguồn vốn trong mạng lưới các công ty con để
đáp ứng nhu cầu về vốn cho công ty con đó, hoặc có thể bổ sung từ nguồn ngân
quỹ của công ty mẹ.
1.4.2. Phát hành cổ phiếu bổ sung
Đối với công ty cổ phần, sau khi đã huy động vốn kinh doanh bằng đợt phát
hành cổ phiếu đầu tiên, nếu công ty hoạt động có hiệu quả, cần mở rộng sản
xuất, đổi mới công nghệ thì công ty có thể tăng nguồn vốn bằng cách huy động
cổ đông đóng góp thông qua việc phát hành cổ phiếu mới. Việc phát hành cổ
phiếu mới trước hết phải do đại hội cổ đông quyết đònh, phải gắn vấn đề tăng
vốn với việc sửa đổi mức vốn điều lệ của công ty, phải có đủ các điều kiện theo
quy đònh của luật pháp mới được y ban chứng khóan nhà nước cho phép.
Cổ phiếu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận số vốn cổ phần của cổ
đông, xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông đối với công ty cổ
phần.
Cổ phiếu có hai loại là cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi:
Cổ phiếu thường:
16 Cổ phiếu thường là loại cổ phiếu thông dụng nhất. Cổ phiếu này không có kỳ
vốn gốc cho người sở hữu trái phiếu ở thời điểm đáo hạn. Trái phiếu gồm nhiều
loại khác nhau, có thể được phát hành ở trong và ngoài nước.
Để huy động được bằng cách phát hành trái phiếu, doanh nghiệp phải tương đối
có uy tín trên thò trường, có tình hình tài chính lành mạnh, triển vọng phát triển
tốt. Mặt khác để hấp dẫn được công chúng, doanh nghiệp phải quan tâm đến
một số yếu tố của trái phiếu một cách hợp lý. Các yếu tố phải cân nhắc khi phát
hành trái phiếu là:
Loại trái phiếu:
Trước hết doanh nghiệp nên chọn phát hành loại trái phiếu phù hợp vì việc lựa
chọn này liên quan đến chi phí, rủi ro, khả năng lưu hành, sự hấp dẫn, sự thành
công của trái phiếu. Doanh nghiệp có thể chọn phát hành trái phiếu có lãi suất
cố đònh, trái phiếu có lãi suất thả nổi, trái phiếu có thể thu hồi sớm, trái phiếu có
khả năng chuyển đổi, trái phiếu có bảo đảm, trái phiếu không có bảo đảm,… tuỳ
từng điều kiện cụ thể.
Lãi suất trái phiếu:
Về mặt lý thuyết thì trái phiếu có lãi suất càng cao càng hấp dẫn nhà đầu tư.
Mức lãi suất thường phải đảm bảo mức trung bình trong thò trường vốn, đảm bảo
cạnh tranh được với các hình thức đầu tư khác và các trái phiếu cùng loại khác,
và phải tương xứng với rủi ro của trái phiếu. Rủi ro của trái phiếu thường liên
quan đến uy tín, tình hình tài chính và xu thế phát triển của doanh nghiệp phát
hành. Ngoài ra rủi ro còn liên quan đến từng đặc điểm của loại trái phiếu phát
18 hành như lãi suất cố đònh hay thả nổi, có bảo đảm hay không. Trái phiếu có rủi
ro thấp thì hấp dẫn nhà đầu tư hơn và phải trả lãi suất thấp hơn.
Kỳ hạn của trái phiếu:
Kỳ hạn của trái phiếu cũng gắn liền với mức độ rủi ro của trái phiếu, kỳ hạn dài
thường đi kèm với rủi ro lớn, do đó làm giảm sự hấp dẫn của trái phiếu, đòi hỏi
Như vậy, trong quá trình thuê, người cho thuê phải là người sở hữu tài sản còn
người đi thuê là người sử dụng tài sản đó. Khi kết thúc hợp đồng, người cho thuê
thu hồi tài sản hoặc bán lại tài sản đó.
Hoạt động cho thuê tài sản đem lại lợi ích cho cả người cho thuê lẫn người thuê,
cụ thể là:
Bằng cách sử dụng hình thức huy động vốn này, người thuê có thể gia tăng năng
lực sản xuất trong những điều kiện hạn chế về vốn đầu tư, hiện đại hóa sản xuất
theo kòp tốc độ phát triển của công nghệ mới.
Trong trường hợp doanh nghiệp vì nhiều lý do không thỏa mãn các yêu cầu vay
vốn của các tổ chức tín dụng, vẫn có thể nhận được tài trợ qua hợp đồng thuê tài
sản. Do tài sản vẫn thuộc sở hữu của người cho thuê nên người cho thuê không
đòi hỏi doanh nghiệp (người thuê) phải có tài sản thế chấp, phải đáp ứng được
các điều kiện khắt khe như khi vay vốn tại ngân hàng.
Thuê tài sản là hình thức tài trợ có rủi ro thấp nên các thủ tục và điều kiện tài
trợ thường đơn giản và dễ dàng hơn. Người thuê có thể tự tìm kiếm, đàm phán
nguồn cung ứng tài sản thiết bò trước, sau đó mới yêu cầu tài trợ nên có thể rút
20 ngắn thời gian tiến hành đầu tư máy móc thiết bò. Mặt khác, các công ty cho
thuê là những tổ chức chuyên môn hóa trong lónh vực cho thuê máy móc thiết bò
nên họ có thể cung cấp các ý kiến tư vấn, cung cấp các phụ tùng linh kiện đi
kèm, các kỹ năng quản trò, huấn luyện đào tạo và các dòch vụ hỗ trợ khác rất
hữu ích cho người thuê.
Tuy vậy, bên cạnh các lợi ích mà thuê tài sản đem lại cho doanh nghiệp thì hình
thức tài trợ này cũng có những bất lợi đó là chi phí phải trả theo hợp đồng thuê
tài sản thường cao hơn mức lãi suất cho vay của các hình thức tài trợ vốn khác
trên thò trường vốn, đây không phải là hình thức rẻ đối với doanh nghiệp.
Thuê tài sản được phân làm hai loại là thuê khai thác và thuê tài chính.
Trong thỏa thuận thuê khai thác người thuê có thể hủy ngang hợp đồng trước khi
hết hạn, điều này đem lại cho người thuê khả năng linh hoạt đối với tài sản. Đây
là một lợi thế cho người thuê nếu tài sản thuộc loại dễ bò lạc hậu.
Người cho thuê phải đảm nhiệm một số nhiệm vụ như mua bảo hiểm, đóng thuế
tài sản, bảo trì, sửa chữa, cung cấp tài sản thay thế. Do đó đây sẽ là một tiện ích
cho người thuê nếu người thuê không có các điều kiện để tiến hành hay tiếp cận
với các dòch vụ hỗ trợ này.
1.4.5.2. Thuê tài chính
1.4.5.2.1. Khái niệm
Theo Nghò đònh số 16/2001/NH-CP ngày 02/05/2001 về tổ chức và hoạt động
của công ty cho thuê tài chính thì cho thuê tài chính (CTTC) là một hoạt động tín
dụng trung dài hạn, thông qua việc cho thuê máy móc thiết bò, phương tiện vận
22 chuyển và các động sản khác. Bên cho thuê cam kết mua máy móc thiết bò
phương tiện vận chuyển và động sản theo yêu cầu của bên thuê, và nắm giữ
quyền sở hữu tài sản thuê. Bên đi thuê được sử dụng tài sản thuê và thanh toán
tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận và không được huỷ
bỏ hợp đồng trước thời hạn.
Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền chọn mua tài sản thuê hoặc tiếp
tục thuê theo điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng CTTC. Tổng số tiền thuê
một loại tài sản được quy đònh tại hợp đồng CTTC ít nhất phải tương đương với
giá trò của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.
1.4.5.2.2 Các chủ thể tham gia trong hoạt động cho thuê tài chính
Trong giao dòch cho thuê tài chính, có các chủ thể sau đây tham gia:
Bên cho thuê (Leaser) :
Bên cho thuê là nhà tài trợ, dùng vốn của mình mua các tài sản thiết bò để xác
lập quyền sở hữu của mình đối với các tài sản thiết bò đó rồi đem cho thuê để
Ký hợp đồng mua tài sản, thiết bò, hoàn tất các thủ tục nhập khẩu tài sản, thanh
toán toàn bộ tiền mua tài sản thiết bò cho thuê.
Bồi thường thiệt hại cho bên thuê trong trường hợp bên cho thuê vi phạm hợp
đồng cho thuê.
24 Bên thuê (Leasee):
Bên thuê là các tổ chức và cá nhân gồm các loại hình doanh nghiệp, các công ty,
xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân hộ gia đình có nhu cầu sử dụng tài sản,
thiết bò cho các hoạt động sản xuất kinh doanh. Bên thuê là người có nhu cầu tài
trợ dưới hình thức cho thuê tài chính. Bất kỳ một loại hình doanh nghiệp nào tồn
tại và hoạt động theo luật pháp, có đủ điều kiện có nhu cầu sẽ được công ty
CTTC tài trợ bằng cho thuê tài chính.
Quyền của bên thuê:
Bên thuê được quyền lựa chọn những tài sản, thiết bò, thương lượng và thỏa
thuận với người bán (người cung cấp) về đặc tính kỹ thuật, số lượng, chủng loại,
giá cả vận chuyển, lắp đặt, giao nhận, bảo hành, hướng dẫn sử dụng,… các tài
sản thiết bò mà mình thuê.
Trực tiếp nhận tài sản thiết bò thuê từ người bán, người cung cấp theo thỏa thuận
trong hợp đồng mua bán tài sản.
Được quyền lựa chọn phương án khi kết thúc hợp đồng cho thuê (mua để chuyển
quyền sở hữu, tiếp tục thuê, hoặc trả lại tài sản thuê để chấm dứt hợp đồng)
Nghóa vụ của bên thuê:
Sử dụng tài sản thiết bò đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng cho thuê.
Không được chuyển quyền sử dụng tài sản thuê cho đơn vò hoặc cá nhân khác
khi chưa được bên cho thuê đồng ý bằng văn bản.
Thanh toán tiền thuê theo quy đònh trong hợp đồng CTTC, thanh toán các chi phí
có liên quan đến tài sản thuê (thuế nhập khẩu, bảo hiểm,…)