TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA VẬT LÝ
TIỂU LUẬN MÔN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ÑEÀ TAØI :
GVHD
:
TS.
Lê
Văn
Hoàng
SVTH
:
Hà
Cẩm
Ân
Trần Thị Hồng Giang
Võ Thị Ngọc Lý
Nguyễn Thị Tường Minh
TP. HỒ CHÍ MINH
Tháng 5 năm 2009
Đề tài nghiên cứu khoa học: Năng lượng hạt nhân - Bạn hay thù
LỜI GIỚI THIỆU
Sức sống của nền văn minh chúng ta hiện nay đang dựa vào các quá trình
không tái tạo, luôn gắn liền với việc sản xuất và tiêu thụ với nhịp độ ngày càng cao
điện năng và các dạng nhiên liệu khác nhau cho các phương tiện vận tải đủ loại. Trữ
lượng khai thác các nhiên liệu này như dầu mỏ, khí tự nhiên, than, dù có lớn đến
đâu thì giờ đây có vẻ như cũng chỉ đảm bảo cho sự tồn tại của nền văn minh đó
không quá 20 - 50 năm nữa, trong điều kiện không có những chấn động chính trị và
kinh tế. Đó là chưa nói tới những thay đổi khôn lường về hoạt động của sinh quyển
nói chung, các thảm họa sinh thái cục bộ và thay đổi khí hậu. Không có cuộc cải
thuận. Những người ủng hộ cho rằng công nghệ năng lượng hạt nhân hầu như
không phát tán chất gây nhiễm không khí vì ít chất thải hơn nhiều so với các nhà
máy chạy bằng nhiên liệu than, khí, dầu mà hiệu quả kinh tế lại hơn nhiều. Ngược
lại, những người tham gia chiến dịch chống hạt nhân quả quyết rằng lợi ích về chi
phí không là gì so với các mối lo ngại về an toàn liên quan đến chất thải hạt nhân
trước mắt cũng như lâu dài, ảnh hưởng đến tính mạng con người
Tóm lại “Năng lượng hạt nhân- Bạn hay thù?” đó là câu hỏi bỏ lững. Là
vấn đề cực nóng bỏng hiện nay,đã được không ít các nhà khoa học và sinh viên
quan tâm. Biết được điều đó nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài này: Năng
lượng hạt nhân-Bạn hay thù. Hy vọng sẽ đáp ứng được phần nào nhu cầu đó của
các bạn sinh viên hiện nay. Trong đề tài này nhóm chúng tôi cùng các bạn sẽ đi sâu
tìm hiểu nguồn năng lượng này với 3 vấn đề lớn:
Những kiến thức cơ bản về năng lượng hạt nhân.
Vì sao năng lượng hạt nhân được đánh giá là nguồn năng lượng của tương
lai.
Vì sao nó cũng là mối nguy hiểm với con người.
Hy vọng sau khi cùng chúng tôi nghiên cứu 3 vấn đề trên bạn sẽ có được câu
trả lời cho riêng mình về vấn đề cực hot này nhé.
Tên thành viên trong nhóm:
Hà Cẩm Ân
Trần Thị Hồng Giang
Võ Thị Ngọc Lý
Nguyễn Thị Tường Minh
Trang 3
Đề tài nghiên cứu khoa học: Năng lượng hạt nhân - Bạn hay thù
MỤC LỤC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1
KHOA VẬT LÝ 1
1
TIỂU LUẬN MÔN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 1
II. Năng lượng hạt nhân-giá phải trả quá đắt: 23
1./ Vụ nổ lò phản ứng hạt nhân Chernobyl năm 1986: 23
a./ Hậu quả: 23
b./ Hướng khắc phục: 26
Chiến tranh hạt nhân: 27
c./ Vũ khí hạt nhân 27
d./ Hậu quả: 32
C. TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG HẠT NHÂN: 35
I. Châu Á: 35
II. Việt Nam: 37
Cùng với xu hướng phát triển nhà máy điện hạt nhân của thế giới nói
chung và châu Á nói riêng, việc xây dựng các nhà máy điện hạt nhân ở Việt
Nam càng được chú trọng để giảm bớt gánh nặng về năng lượng và ô nhiễm. 37
III. QUẢN LÝ CHẤT THẢI: 41
KẾT LUẬN 43
43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 5
Đề tài nghiên cứu khoa học: Năng lượng hạt nhân - Bạn hay thù
A. ĐẠI CƯƠNG VỀ NĂNG LƯỢNG HẠT
NHÂN
I. Lịch sử năng lượng hạt nhân:
Lịch sử của năng lượng hạt nhân khởi đầu với việc xây dựng mô hình
nguyên tử. Năm 1912, nhà vật lý Ernest Rutherford (1871 - 1937) người Anh,
sau khi phát hiện ra hạt nhân nguyên tử đã cùng với nhà vật lý Niels Bohr (1885
- 1962) người Đan Mạch đề xuất một mô hình nguyên tử: Nguyên tử gồm một
hạt nhân tích điện dương được bao quanh bởi các electron. Năm 1913,
Rutherford phát hiện ra proton. Năm 1932, nhà vật lý James Chadwick (1891 -
1974) người Anh phát hiện ra nơtron.
Năm 1939, nhà vật lý Frederic Joliot-Curie (1900 - 1958) người Pháp
Nơ tron (ký hiệu là n) là hạt không mang điện, có khối lượng nghỉ
m
n
=1,67482.10
-27
kg.
- Hai loại hạt proton và notron có tên gọi chung là nuclon. Số proton
trong hạt nhân bằng số thứ tự Z của nguyên tử trong bảng tuần hoàn Mendeleep.
Điện tích của hạt nhân là +Ze. Tổng số các nuclon trong hạt nhân gọi là số khối
lượng (ký hiệu A ).
Như vậy số notron trong hạt nhân là N=A-Z.Người ta thường ký hiệu hạt
nhân nguyên tử là
A
Z
X
. Trong nguyên tử, hầu như toàn bộ khối lượng đều tập
trung ở hạt nhân vì khối lượng của các electron là quá bé so với khối lượng hạt
nhân. Có thể coi hạt nhân nguyên tử như một quả cầu bán kính R. Người ta thấy
rằng, R phụ thuộc vào số khối theo công thức: R=1,2.10
-15
A
1/3
(m)
- Trong hạt nhân, các nuclon tương tác nhau bằng lực hút, gọi là lực hạt
nhân. Lực hạt nhân không phài là lực tĩnh điện, nó không phụ thuộc vào điện
tích của nuclon. So với lực điện từ và lực hấp dẫn, lực hạt nhân có cường độ rất
lớn (còn gọi là lực tương tác mạnh) và chỉ có tác dụng khi hai nuclon cách nhau
một khoảng rất ngắn, bằng hoặc nhỏ hơn kích thước hạt nhân. Điều đó có nghĩa
là, bán kính tác dụng của lực hạt nhân khoảng 10
-15
. Năng lượng này được gọi là năng lượng liên kết,
có giá trị bằng năng lượng cần cung cấp cho hạt nhân để tách nó ra thành các
nucleon riêng rẽ.
2
lk
W mc
=
V
- Năng lượng liên kết đối với một nucleon (tương ứng với mức thiếu hụt
khối lượng đối với nucleon đó) không có cùng giá trị đối với tất cả các hạt nhân.
Năng lượng đó nhỏ đối với các hạt nhân nhẹ (ví dụ như: natri, nhôm), tăng dần
lên cho đến các hạt nhân trung bình vào khoảng 56 (sắt), sau đó giảm dần. Sự
biến đổi đó của năng lượng liên kết chứng tỏ rằng các nguyên tử liên kết chặt
chẽ nhất là các nguyên tử trung bình. Mức hụt khối lượng của chúng đối với một
nuclon là lớn nhất. Do đó, tất cả những biến đổi có xu hướng tạo ra các hạt nhân
trung bình cho phép giải phóng năng lượng hạt nhân. Những sự biến đổi ấy gọi
là phản ứng hạt nhân.
Trang 8
Đề tài nghiên cứu khoa học: Năng lượng hạt nhân - Bạn hay thù
Phản ứng hạt nhân:
- Phản ứng hạt nhân là một quá trình vật lý, trong đấy xảy ra tương tác
mạnh của hạt nhân với một hạt nhân khác hoặc với một nuclon ở khoảng cách
nhỏ khoảng fm, qua quá trình này hạt nhân nguyên tử thay đổi trạng thái ban đầu
(thành phần, năng lượng ) hoặc tạo ra hạt nhân mới hay các hạt mới và giải
phóng ra năng lượng. Chính nhờ các phản ứng hạt nhân mà con người ngày càng
hiểu biết sâu sắc hơn về cấu trúc vi mô của thế giới vật chất muôn hình muôn vẻ.
Ví dụ: bắn phá hạt nhân nguyên tử liti
6
Li bằng hạt hydro
→ năng lượng giải phóng = năng lượng chênh lệch ΔE = Δm.c
2
= 22,4MeV
- Có hai loại phản ứng hạt nhân giải phóng năng lượng:
+ Tổng hợp những hạt nhân rất nhẹ thành một hạt nhân trung bình.Vì sự
tổng hợp hạt nhân chỉ có thể xảy ra ở nhiêt độ cao nên phản ứng này gọi là phản
ứng nhiệt hạch. Từ 30 năm nay, nhiều phòng thí nghiệm trên thế giới đã tiến
hành nghiên cứu việc tổng hợp hai hạt nhân nhẹ, ví dụ các hạt nhân của đơteri và
triti là hai đồng vị nặng của hyđro. Tuy nhiên cho đến nay, vẫn chưa ứng dụng
được việc tổng hợp hạt nhân này vào công nghiệp để sản xuất điện năng.
1 3 4 1
1 1 2 0
H H He n+ → +
Phản ứng này tỏa ra năng lượng khoảng 18 MeV.
Trang 9
Đề tài nghiên cứu khoa học: Năng lượng hạt nhân - Bạn hay thù
+Phân hạch hay phá vỡ một hạt nhân rất nặng thành hai hạt nhân trung
bình.
Trên trái đất, phản ứng phân hạch dễ thực hiện hơn phản ứng nhiệt hạch.
Phản ứng này phá vỡ các hạt nhân nặng như urani 235 hoặc plutoni 239.
1 235 94 140 1
0 92 38 54 0
2n U Sr Xe n+ → + +
Phản ứng tỏa năng lượng khoảng 185 MeV.
Năng lượng phân hạch giải phóng ra được sử dụng trong các lò phản ứng
hạt nhân. Hiện nay, các lò phản ứng hạt nhân sản xuất 1/6 điện năng tiêu thụ trên
thế giới, 1/3 điện năng tiêu thụ ở Châu Âu và 3/4 điện năng tiêu thụ ở Pháp.
a./ Phản ứng nhiệt hạch
Phản ứng nhiệt hạch hay tổng hợp nhiệt hạch là việc kết hợp các hạt nhân
nhẹ để tạo nên các hạt nhân trung bình (giữa hêli, nguyên tử lượng là 4 và sắt,
và mật độ hạt nhân đủ lớn để nâng xác suất chúng gặp nhau, cần phải giải quyết
nhiều vấn đề kỹ thuật hết sức phức tạp.
Hai hướng nghiên cứu được tiến hành trong phòng thí nghiệm
- Với nồng độ nhỏ, hỗn hợp đồng vị khí hyđro (đơteri và triti) có thể chứa
được bên trong những vách ngăn vô hình tạo nên bởi từ trường. Các hạt nhân
được đưa lên nhiệt độ trên 100 triệu độ trong thiết bị tổng hợp kiểu Tokamak.
Trang 11
Đề tài nghiên cứu khoa học: Năng lượng hạt nhân - Bạn hay thù
- Với nồng độ lớn, hỗn hợp đồng vị hyđro được chứa trong một viên bi
rất nhỏ được chiếu bởi những chùm tia laser rất mạnh (xem Thông tin Khoa học
công nghệ Điện, số 3/2006).
b./ Phân hạch và
phản ứng dây
chuyền
Phân hạch xảy ra khi một hạt
nhân nặng (ví dụ hạt nhân nguyên tử
235
U
) bị va đập bởi một nơtron thì
tách thành hai hạt nhân nhỏ hơn.
Phản ứng phân hạch hạt nhân –
còn gọi là phản ứng phân rã nguyên
tử - là một quá trình vật lý hạt nhân
và hoá học hạt nhân mà trong đó hạt
nhân nguyên tử bị phân chia thành hai
hoặc nhiều hạt nhân nhỏ hơn và vài
sản phẩm phụ khác. Vì thế, sự phân
hạch là một dạng của sự chuyển hoá căn bản. Các sản phẩm phụ bao gồm các hạt
nơtron, photon tồn tại dưới dạng các tia gama, tia beta và tia alpha. Sự phân hạch
của các nguyên tố nặng( ví dụ
c
h
c
ủ
aĐề tài nghiên cứu khoa học: Năng lượng hạt nhân - Bạn hay thù
1 235 94 140 1
0 92 38 54 0
2n U Sr Xe n+ → + +
v
Hai ứng dụng chủ yếu của phản ứng dây chuyền là lò phản ứng hạt nhân
và bom hạt nhân. Trong lò phản ứng hạt nhân, phản ứng dây chuyền được giữ ổn
định ở mức đã định, có nghĩa là một phần lớn nơtron bị bắt giữ lại, để không
sinh ra phân hạch. Mỗi lần phân hạch chỉ cần một nơtron gây ra một phân hạch
mới để giải phóng năng lượng liên tục.Nhiên liệu phân hạch trong phần lớn các
lò phản ứng hạt nhân là
235
U
hay
239
Pu
.Còn đối với bom hạt nhân, phản ứng
dây chuyền phải thật mạnh trong thời gian ngắn nhất.
B. NĂNG LƯỢNG HẠT NHÂN <<DAO HAI
LƯỠI>>
I. Năng lượng hạt nhân: Nguồn năng lượng của tương lai
Trong khi nhu cầu sử dụng nguồn năng lượng phục vụ sản xuất đời sống
này cũng đã bỏ ra 3 tỷ Euro đầu tư kỹ thuật an toàn vào các dự án này. Theo Công
ty Điện lực Pháp, các nhà máy chọn điện hạt nhân tương lai sẽ an toàn hơn, rẻ hơn
và thân thiện hơn với môi trường so với các nhà máy điện hạt nhân hiện có. Tiếp đó
là hàng loạt các nước cũng đưa ra quyết định lựa chọn điện hạt nhân trong hoàn
cảnh giá dầu cao, trữ lượng dầu và khí đang ít đi cũng như trở ngại trong việc phát
triển năng lượng tái tạo. Hiện Trung Quốc có kế hoạch tới năm 2020 xây thêm 20 lò
phản ứng hạt nhân mới. Rõ ràng là trong tình hình hiện nay, lợi ích kinh tế bắt đầu
vượt qua các quan ngại về an toàn của các nhà máy điện hạt nhân.
Trước xu thế xây dựng các nhà máy điện hạt nhân đang phát triển, các nhà
môi trường đã đưa ra đề xuất cần xây dựng mô hình cho năng lượng tái tạo. Nguồn
năng lượng tái tạo: năng lượng mặt trời, gió, sóng, thuỷ triều; năng lượng sinh khối
và địa nhiệt. Ưu thế hàng đầu của các nguồn năng lượng tái tạo nêu trên là không
gây ra hiệu ứng nhà kính và các loại khí thải khác so với việc đốt nhiên liệu hoá
thạch. Cũng nên nhớ rằng là các nguồn năng lượng thân thiện về môi trường đôi khi
Trang 14
Đề tài nghiên cứu khoa học: Năng lượng hạt nhân - Bạn hay thù
lại có hại cho môi trường. Ví dụ: tuabin gió gây ra những tiếng ồn đối với cư dân
sống gần đó và có thể gây nguy hiểm cho những quần thể chim chuyển hướng theo
mùa; các đập thuỷ điện có thể tạo nên các rào cản cho các loài cá di cư. Mặt khác,
các nguồn năng lượng tái tạo cung cấp năng lượng cường độ thấp hơn, chi phí sản
xuất điện từ các nguồn tái tạo khá cao chưa thể cạnh tranh được trong việc cung cấp
phụ tải v.v.
Vấn đề: Mặc dù năng lượng hạt nhân mang lại hiệu quả kinh tế cao nhưng
các Chính phủ đều biết hiểm hoạ nếu có sự cố xẩy ra. Vì vậy, những người ủng hộ
và phản đối sử dụng năng lượng hạt nhân vẫn tiếp tục có những tranh luận về vấn
đề này và dường như khó đạt được sự đồng thuận. Những người ủng hộ cho rằng
công nghệ năng lượng hạt nhân hầu như không phát tán chất gây nhiễm không khí
vì ít chất thải hơn nhiều so với các nhà máy chạy bằng nhiên liệu than, khí, dầu mà
hiệu quả kinh tế lại hơn nhiều. Ngược lại, những người tham gia chiến dịch chống
hạt nhân quả quyết rằng lợi ích về chi phí không là gì so với các mối lo ngại về an
đầu tiên được sản xuất bằng năng lượng hạt nhân vào ngày 20/12/1951 tại lò thử
nghiệm EBR-1 của Mỹ và thắp sáng được bốn bóng đèn. Tổ máy ĐHN đầu tiên là
lò graphit nước nhẹ 5MW(e) tại Obninsk của Nga, bắt đầu hoạt động năm 1954 và
ngừng hoạt động ngày 30/4/2002. Calder Hall tại Anh là nhà máy ĐHN quy mô
công nghiệp đầu tiên trên thế giới bắt đầu vận hành năm 1956 và đóng cửa tháng
3/2003. Phát triển ĐHN chủ yếu nhằm mục
tiêu phát triển khoa học, công nghệ và xây
dựng tiềm lực hạt nhân bảo đảm an ninh quốc
gia.
-Giai đoạn 1970-1980:
Giai đoạn này nhiều quốc gia đẩy
nhanh tốc độ phát triển ĐHN khi công
nghệ đã được thương mại hoá cao và do khủng hoảng dầu mỏ. Tỷ trọng ĐHN toàn
Trang 16
Đề tài nghiên cứu khoa học: Năng lượng hạt nhân - Bạn hay thù
cầu tăng gần hai lần, từ 9% lên 17%. Lò Unterweser 1.350 MWe ở Đức bắt đầu sản
xuất điện từ năm 1978 và đến nay tổng sản lượng điện là 221,7 tỷ KWh, nhiều hơn
so với bất kỳ lò nào khác.
Bước vào thập niên 1980 và 1990, sau sự cố Chernobyl, sự phản đối của
công chúng, các yếu tố chính trị và sự cạnh tranh yếu về kinh tế do việc tăng cao
các yêu cầu về an toàn đã làm cho tốc độ xây dựng điện hạt nhân giảm mạnh, một
số nước có chủ trương loại bỏ ĐHN như Đức và Thuỵ Điển.
-Giai đoạn từ đầu thế kỷ XXI tới nay:
Khi an ninh năng lượng có ý nghĩa quyết định và công nghệ ĐHN ngày càng
được nâng cao thì xu hướng phát triển ĐHN đã có những thay đổi tích cực. Tầm
nhìn 2020 của Mỹ về phát triển ĐHN đề nghị tăng 10.000MW cho 104 nhà máy
ĐHN hiện có. Anh quay trở lại phát triển ĐHN do thiếu hụt năng lượng, trong khi
Indonesia đã lập dự án khả thi và dự kiến sẽ đưa tổ máy ĐHN đầu tiên vào vận hành
năm 2015.
Ưu điểm:
suất cho 8 nhà máy điện hạt nhân, cho phép tăng sản lượng điện tối đa. Ba công ty
đã xin cấp giấy phép của NRC xây dựng tại địa điểm mới, đây là nguồn điện dự trữ
để sử dụng trong tương lai.
Ở Canada, thời gian gia hạn ngắn do khởi động lại một số nhà máy điện hạt
nhân đã bị đóng cửa trong những năm gần đây. Hai nhà máy đầu tiên được khởi
động lại vào năm 2003. Trong thời gian này, Canada cấp giấy phép gia hạn đến năm
2005 cho 4 nhà máy và đến tận năm 2008 cho 8 nhà máy.
d./ Xu thế điện hạt nhân trên thế giới
Trang 18
Đề tài nghiên cứu khoa học: Năng lượng hạt nhân - Bạn hay thù
Điện hạt nhân đã có lịch sử 50 năm, đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế
- xã hội của nhiều quốc gia và góp phần bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, quan điểm
của con người hiện vẫn chia thành hai cực: ủng hộ và chống đối.
Bức tranh điện hạt nhân toàn cầu
Theo thống kê của Cơ quan
Năng lượng Nguyên tử Quốc tế
(IAEA), vào cuối năm 2002, toàn
thế giới có 441 nhà máy điện hạt
nhân (ĐHN) đang hoạt động.
Những nhà máy này cung cấp 16%
tổng sản lượng điện toàn cầu năm
2002, hay 2.574 tỷ kWh.
Trong năm 2002, cũng đã có
thêm 6 nhà máy ĐHN được đưa vào
hoạt động thương mại, trong đó có
4 ở Trung Quốc, một ở CH Séc và
một ở Hàn Quốc.
Bảy nhà máy ĐHN khác đã
được khởi công xây dựng trong
năm 2002, trong đó có sáu ở ấn Độ,
hạt nhân. Tháng 2/2002, Bộ trưởng Năng lượng Mỹ tuyên bố Chương trình ĐHN
2010, với mục tiêu sẽ có một nhà máy ĐHN mới đi vào hoạt động ở nước này trước
cuối năm 2010. Chiến lược này còn bao gồm cả sự chấp thuận của Tổng thống Mỹ
George W. Bush, tiếp tục phát triển địa điểm đổ chất thải hạt nhân ở dãy núi Yucca,
bang Nevada. Quốc hội Mỹ cũng đã phê chuẩn việc này.
ở Canada, việc mở rộng sản xuất ĐHN ngắn hạn có thể diễn ra dưới hình
thức tái khởi động một vài hoặc tất cả tám nhà máy (trong tổng số 22 nhà máy) hiện
đã bị đóng cửa.
Trang 20
Đề tài nghiên cứu khoa học: Năng lượng hạt nhân - Bạn hay thù
Tại châu Phi, có 2 nhà máy ĐHN đang hoạt động và cùng nằm ở Nam Phi.
Tại Mỹ La tinh, có sáu nhà máy, chia đều cho ba nước Argentina, Brazil và Mexico.
Chống đối và ủng hộ
Lithuania hiện là nước có tỷ trọng ĐHN cao nhất thế giới (80,1%), tiếp đến
là Pháp (78%), Slovakia (65,4%) và Bỉ (57,3%). Tuy các nhóm chống ĐHN cho
rằng không có mức phóng xạ an toàn, song theo TS vật lý Travis Norsen của Mỹ,
các nguồn phóng xạ lớn đều là tự nhiên và có mặt ở khắp mọi nơi: Con người liên
tục phơi nhiễm với phóng xạ từ các tia vũ trụ ở tầng trên của khí quyển và các
nguyên tố phóng xạ tự nhiên trong lòng đất. So với những nguồn này, phóng xạ từ
nhà máy ĐHN không đáng kể. Mức bức xạ trung bình hàng năm mà người Mỹ phơi
nhiễm là 360 millirem, trong đó 300 millirem có nguồn gốc từ các nguồn tự nhiên
chẳng hạn như radon. Trái lại, con người chỉ nhận được 0,01 millirem phóng xạ mỗi
năm do sống cách nhà máy ĐHN 15m. Ngay cả một chiếc máy bay cũng làm cho
con người tiếp xúc 3 millirem mỗi năm trong khi mức phơi nhiễm từ X-quang trong
y học là 20 millirem mỗi năm.
Các nhóm chống đối cũng cho rằng, các nhà máy ĐHN tạo ra chất thải
phóng xạ gây chết người, vì vậy họ kịch liệt phản đối việc vận chuyển chúng, đặc
biệt là nhóm Hoà Bình Xanh. Trong khi đó, những người ủng hộ, đặc biệt là các nhà
khoa học, cho rằng chất thải phóng xạ không phải là một điểm yếu mà là một đặc
thù của năng lượng hạt nhân. So với lượng thải khổng lồ của nhiên liệu hoá thạch
chức tại VN, thời điểm đó được kéo lại gần hơn, có thể là năm 2012
- một thời điểm gây tranh luận.
Trong một lần trả lời phỏng vấn báo chí, GS-TS Phạm Duy Hiển, một
chuyên gia hàng đầu về nguyên tử của nước ta, khẳng định: “Là một trong những
người từng được giao trọng trách xây dựng ngành hạt nhân từ hơn 25 năm trước
đây, tôi không có ước mơ nào khao khát hơn là được chứng kiến ĐHN ở VN trong
cuộc đời mình. Nhưng chừng nào những yếu tố khoa học công nghệ và xã hội chưa
Trang 22
Đề tài nghiên cứu khoa học: Năng lượng hạt nhân - Bạn hay thù
sáng sủa thì xây dựng ĐHN chỉ là bất đắc dĩ”. Ý kiến đó rất đáng được nghiên cứu,
suy nghĩ.
Theo các chuyên gia, VN chưa đủ điều kiện để có ĐHN vào thời điểm nêu
trên. Thứ nhất, nguồn nhân lực thiếu, cần phải đào tạo ngay từ bây giờ. Đặt trường
hợp nếu chúng ta có nhà máy ĐHN vào thời điểm trên, chắc chắn từ nhiên liệu,
chuyên gia cũng phải nhập khẩu. Thứ hai, hệ thống pháp luật hạt nhân chưa có và
văn hóa quản lý công nghiệp chưa hình thành. Cơ sở hạ tầng này rất quan trọng
trong quản lý ĐHN. Thứ ba, thế hệ công nghệ ĐHN hiện nay (thế hệ thứ 3) chưa an
toàn, để một thời gian nữa thế hệ thứ 4 ra đời, có đặc điểm an toàn nội tại, rất ít phụ
thuộc vào sai sót của nhân viên vận hành, lúc đó là thời điểm thích hợp để ta có nhà
máy ĐHN.
Ai cũng biết, trong thế kỷ qua con người đã sử dụng quá nhiều nguồn nhiên
liệu hóa thạch, tạo nên hiệu ứng nhà kính. Ý thức được điều đó, con người đi tìm
những nguồn năng lượng khác từ mặt trời, gió, địa nhiệt nhưng dự báo cũng
không quá 30% vào năm 2020. Do vậy nguồn năng lượng nguyên tử trước sau gì
cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp năng lượng cho con người. Vấn
đề là an toàn, và công chúng có quyền yêu cầu một công nghệ ĐHN gần như an
toàn tuyệt đối.
II. Năng lượng hạt nhân-giá phải trả quá đắt:
1./ Vụ nổ lò phản ứng hạt nhân Chernobyl năm 1986:
a./ Hậu quả:
vụ nổ, bụi phóng xạ được phát hiện tận Thuỵ Điển, Na Uy và Phần Lan, cách đó
hơn 1.600 km. Riêng tại Thuỵ Điển, sự tăng đột biến của mức độ phóng xạ đủ lớn
đến mức cho ban bố tình trạng báo động. Lúc đầu nước này tưởng rằng đã xảy ra tai
nạn tại một trong những lò phản ứng của họ bên bờ biển Baltic. Lệnh di tản 600
công nhân tại đây được phát ra, trước khi các chuyên gia phát hiện nguồn chất
phóng xạ đến từ Liên Xô. Chính quyền Liên Xô, đã cố tình che giấu thảm họa này,
không cho ngừng ngay quá trình sản xuất mà tiếp tục sản xuất thêm 14 năm sau
thảm họa và chỉ đóng cửa hoàn toàn vào năm 2000 do sức ép cùa quốc tế. Một vùng
Trang 24
Đề tài nghiên cứu khoa học: Năng lượng hạt nhân - Bạn hay thù
cách li có bán kính 30km được thiết lập quanh Chernobyl và đây là một trong
những điểm nhiễm phóng xạ đậm đặc nhất hành tinh hiện nay.
- Vấn đề đáng lo ngại hơn là mối nguy hại về sức khỏe đe dọa hàng trăm con
người anh hùng đã dũng cảm lao vào khắc phục hậu quả vụ nổ. Tới những ngày đầu
của tháng 5/1986, các nhóm trực tiếp giải quyết hậu quả vụ nổ đưa ra cảnh báo về
lượng phóng xạ bị rò rỉ bắt đầu tăng trở lại. Họ lo ngại lõi lò phản ứng bị tan chảy
sẽ thiêu đốt cả hệ thống nền móng và làm nó bị sập, đồng thời khiến số nhiên liệu
hạt nhân bên trong bị nổ lần nữa. Các chuyên gia lo sợ vụ nổ thứ hai này sẽ còn lớn
hơn nhiều so với vụ đầu tiên. Từ đó lõi lò phản ứng sẽ tiếp tục chìm sâu xuống lòng
đất, có thể gây ô nhiễm cả nguồn nước sạch cung cấp cho thủ đô Kiev, nơi đang có
2,5 triệu dân sinh sống. Bất chấp cái chết nhìn thấy rõ vì lượng phóng xạ cực mạnh,
những người tham gia khắc phục hậu quả tại lò phản ứng số 4 vẫn dũng cảm lao vào
cuộc. Họ là những người dập tắt ngọn lửa, bơm nước vào lò phản ứng và làm sạch
nó bằng nitơ lỏng. Dũng cảm không kém là những người thả cát và chì từ trực thăng
vào lò phản ứng, lặn xuống hồ nước bên dưới để mở cửa cống, hoặc đào dưới chân
móng lò phản ứng để lắp đặt một hệ thống ống dẫn. Hàng nghìn con người dành cả
mùa hè năm 1986 để dựng lên cỗ quan tài bằng bê tông bịt kín lò phản ứng cũng
xứng đáng được vinh danh vì lòng dũng cảm. Điều đáng nói là rất nhiều công nhân
tham gia khắc phục hậu quả tại Chernobyl đều trong tình trạng bị phơi nhiễm chất
phóng xạ. Những người này, gồm nhiều tình nguyện viên, không hề được trang bị