nâng cao hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng tmcp tài chính dầu khí chi nhánh đông đô - Pdf 23


Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân
Quế
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
~~~~~~*~~~~~~
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Đề tài: Nâng cao hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
Ngân hàng TMCP Tài Chính Dầu Khí Chi nhánh Đông Đô
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS. Hoàng Xuân Quế
Sinh viên thực hiện : Mai Văn Minh
Lớp
Khóa
Hệ
:
:
:
Ngân hàng A
50
Chính quy
MSV : CQ503422HÀ NỘI, 2012
MỤC LỤC
Mai Văn Minh Ngân hàng A – K50
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân
Quế
Danh mục các thuật ngữ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục biểu đồ

NHNN Ngân hàng Nhà nước
DN Doanh nghiệp
KƯNN Khế ước nhận nợ
HĐTD Hợp đồng tín dung
TSĐB Tài sản đảm bảo
CVKH Chuyên viên khách hàng
CV HTTD Chuyên viên Hỗ trợ tín dụng
DPRR Dự phòng rủi ro
Mai Văn Minh Ngân hàng A – K50
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân
Quế
Danh mục bảng
Lời mở đầu 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO
VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 3
Bảng 1.1: Tiêu chí xác định DNVVN tại Việt Nam 4
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI DNVVN TẠI
NGÂN HÀNG TMCP DẦU KHÍ TOÀN CẦU CHI NHÁNH ĐÔNG ĐÔ 29
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức tại Ngân hàng GP.Bank Chi nhánh Đông Đô 30
2.1.3Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng GP.Bank Chi nhánh
Đông Đô trong ba năm gần đây 32
Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn giai đoạn 2009-2011 33
Bảng 2.2: Cơ cấu vốn huy động phân theo loại tiền 34
Bảng 2.3: Cơ cấu huy động vốn phân theo kỳ hạn 35
Bảng 2.4: Cơ cấu cho vay phân theo kỳ hạn 36
Bảng 2.5. Cơ cấu cho vay phân theo đối tượng 37
Bảng 2.6: Doanh số cho vay DNVVN 41
Biểu đồ 2.2: Tăng trưởng doanh số cho vay DNVVN 42
Bảng 2.7: Dư nợ cho vay DNVVN 43

Đông Đô trong ba năm gần đây 32
Biểu đồ 2.2: Tăng trưởng doanh số cho vay DNVVN 42
Biểu đồ 2.3: Dư nợ cho vay DNVVN 44
Biểu đồ 2.4: Tỷ trọng dư nợ cho vay DNVVN 44
Biểu đồ 2.5: Dư nợ cho vay DNVVN theo nhóm ngành 46
Biểu đồ 2.6: Tỷ lệ nợ quá hạn trong cho vay DNVVN 47
Biểu đồ 2.7: Tỷ lệ nợ xấu trong cho vay DNVVN 48
Biểu đồ 2.8: Cơ cấu giá trị TSĐB trong cho vay DNVVN 49
Biểu đồ 2.9: Trích lập DPRR trong cho vay DNVVN 51
Biểu đồ 2.10: Lợi nhuận từ cho vay DNVVN 52
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG TMCP DẦU KHÍ TOÀN CẦU
CHI NHÁNH ĐÔNG ĐÔ 57
Kết luận 72
Mai Văn Minh Ngân hàng A – K50
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân
Quế
Danh mục tài liệu tham khảo 73
Mai Văn Minh Ngân hàng A – K50
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân
Quế
Mai Văn Minh Ngân hàng A – K50
1
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân
Quế
Lời mở đầu
Phải nói rằng nền kinh tế Việt Nam hiện nay đã và đang đạt được nhiều thành
tựu lớn, trong đó lực lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ là một trong những yếu tố nổi
bật. Tính đến 31/12/2011, Việt Nam có tổng cộng 543.963 doanh nghiệp với số vốn
trên 6 triệu tỷ đồng thì lực lượng DNVVN chiếm đến 97%, hàng năm đóng góp hơn

Chương 2: Thực trạng hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
tại Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu Chi nhánh Đông Đô
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
tại Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu Chi nhánh Đông Đô
Do còn gặp nhiều hạn chế về mặt thời gian và kiến thức nên nội dung chuyên
đề của em không tránh khỏi những thiếu sót. Do vậy, em rất mong nhận được sự
góp ý của quý thầy cô để em có thể hoàn thiện bài viết này tốt hơn.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo PGS.TS Hoàng Xuân Quế đã
chỉ bảo, hướng dẫn tận tình trong suốt thời gian em hoàn thành chuyên đề tốt
nghiệp này. Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các anh chị cán bộ nhân
viên tại Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu Chi nhánh Đông Đô đã nhiệt tình
quan tâm, giúp đỡ em trong quá trình thực tập vừa qua tại Ngân hàng.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Mai Văn Minh
Mai Văn Minh Ngân hàng A – K50
3
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân
Quế
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO
VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1 Lý thuyết chung về doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là đối tượng được nhiều Chính phủ và tổ chức đa
quốc gia trên thế giới quan tâm và tạo nhiều điều kiện khuyến khích kinh doanh.
Tuy nhiên, hiện nay chưa có một khái niệm thống nhất được chấp nhận trên thế giới
về DNVVN. Tuỳ thuộc vào môi trường kinh tế xã hội từng nước từng thời kỳ và
giai đoạn phát triển, có nhiều tiêu chí và quy định khác nhau để phân loại DNVVN.
Chẳng hạn, tại Anh, theo luật Doanh nghiệp ban hành năm 2006, DNVVN được xác

Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Lao động Vốn Lao động Vốn Lao động
I.Nông lâm
nghiệp và
thuỷ sản
10 lao động
trở xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
Từ trên 10
người đến
200 người
Từ trên
20 tỷ
đồng đến
100 tỷ
đồng
Từ trên
200 người
đến 300
người
II.Công
nghiệp và
xây dựng
20 tỷ đồng
trở xuống
Từ trên 10
người đến
200 người
Từ trên

trọng hơn.”
Mai Văn Minh Ngân hàng A – K50
5
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân
Quế
1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.2.1 Thuận lợi
• DVVVN có vốn đầu tư ban đầu ít và tồn tại phát triển ở hầu hết các lĩnh vực
Với số vốn điều lệ không cao, ngày càng nhiều DNVVN được thành lập và đi
vào hoạt động. Theo số liệu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
(VCCI), tính đến ngày 31/12/2011, Việt Nam có 543.963 doanh nghiệp với số vốn
khoảng 6 triệu tỷ đồng thì DNVVN đã chiếm đến 97%, trong đó chủ yếu là doanh
nghiệp tư nhân. Các DNVVN hoạt động đa dạng trên tất cả các lĩnh vực như:
thương mại, dịch vụ, công nghiệp, xây dựng, nông lâm ngư nghiệp. Hình thức kinh
doanh của các DNVVN cũng phong phú, bao gồm doanh nghiệp nhà nước, doanh
nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, các cơ sở kinh doanh
cá thể … Bên cạnh đó, do vốn đầu tư ban đầu không lớn, nên các DNVVN có khả
năng mạo hiểm, đầu tư vào các lĩnh vực mới vì nếu có thua lỗ cũng không đáng
ngại bằng các doanh nghiệp lớn.
• Dễ dàng thích ứng với sự thay đổi của thị trường
Đây là vũ khí quan trọng giúp các DNVVN tồn tại và phát triển trong nền kinh
tế thị trường hiện nay. Quy mô doanh nghiệp không lớn nên các DNVVN rất linh
hoạt trong việc nắm bắt nhu cầu của thị trường và qua đó chuyển đổi các loại sản
phẩm, dịch vụ phù hợp tương ứng. Việc thay đổi công nghệ, tự đào tạo nguồn nhân
lực hoặc mở rộng kinh doanh cũng được xử lý một cách linh hoạt hơn do không tốn
nhiều chi phí cơ hội như các doanh nghiệp lớn. Với số vốn ít, vòng quay vốn của
các DNVVN thường ngắn, giá trị tài sản cố định không cao nên các phương án sản
xuất kinh doanh thường là trong ngắn hạn và có thể thay đổi một cách linh hoạt.
Mặt khác các DNVVN có thể chủ động trong việc thay đổi giá cả để sản phẩm cạnh
tranh hơn trên thị trường trong khi các công ty và tập đoàn lớn thường phải có một

Bên cạnh đó, đối với các doanh nghiệp lớn, huy động vốn có thể thông qua
nhiều kênh như: thị trường chứng khoán, phát hành trái phiếu chuyển đổi, tín
phiếu… trong khi đó các DNVVN rất khó huy động vốn thông qua các kênh này.
Vì vậy, các DNVVN chỉ có thể vay vốn qua người thân, hoặc kênh phi chính thức
như: vay vốn lãi suất cao, vay nóng…Thực tế này là do các DNVVN không đầu tư
vào tài sản cố định, hoặc giá trị các tài sản cố định không đủ lớn để làm tài sản đảm
bảo. Phương án kinh doanh của DNVVN không lâu dài, dễ biến động nên tính khả
thi không cao, không tạo được uy tín với các tổ chức tín dụng.
• Trình độ công nghệ còn lạc hậu, không đồng bộ, chậm được cải tiến
Đây là nhược điểm chung của các DNVVN không chỉ ở Việt Nam mà trên
toàn thế giới. Quy mô vốn nhỏ nên các doanh nghiệp này gặp khó khăn trong việc
Mai Văn Minh Ngân hàng A – K50
7
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân
Quế
quyết định đầu tư cả một dây chuyền công nghệ hiện đại đắt tiền. Do vậy, các
DNVVN thường chọn phương án nhập công nghệ lạc hậu của các nước phát triển
về tái sử dụng hoặc nâng cấp từng phần trang thiết bị. Việc làm này tuy có hiệu quả
hơn về mặt kinh tế, tận dụng nguồn lực sẵn có nhưng lại ảnh hưởng lớn đến năng
suất và hiệu quả của quá trình sản xuất. Công nghệ sản xuất lạc hậu, không đồng bộ
đồng nghĩa với việc không phát huy được hết năng suất, không cắt giảm được chi
phí và qua đó giảm tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
• Hạn chế về năng lực quản lý và nhân sự
Với quy mô nhỏ, chủ doanh nghiệp hay cổ đông lớn thường là người trực tiếp
điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNVVN. Vì thế đây là một trong
những yếu tố quan trọng quyết định sự thành bại của doanh nghiệp. Nếu người quản
lý không có năng lực và kinh nghiệm, kém nhạy bén với sự biến động của thị
trường, không tiếp cận với công nghệ mới thì doanh nghiệp rất khó tồn tại và phát
triển. Tuy nhiên qua khảo sát trên thực tế, phần lớn chủ doanh nghiệp không qua
đào tạo chính quy nên gặp nhiều khó khăn trong cách tiếp cận các phương án kinh

bạn hàng và nhà đầu tư. Do vậy, khả năng ký được các hợp đồng lớn, dài hạn với
nhà đầu tư trong nước và nước ngoài là không cao.
1.2 Nhu cầu về vốn của DNVVN
1.2.1 Nhu cầu vay ngắn hạn
• Nhu cầu tài trợ ngắn hạn dưới góc nhìn chu kỳ ngân quỹ
Nhu cầu tài trợ trong ngắn hạn bắt nguồn từ sự không ăn khớp trong quá trình
lưu chuyển tiền tệ của các DNVVN, tức là việc dòng tiền vào và dòng tiền ra không
diễn ra tương ứng về mặt thời gian và quy mô. Đây là kết quả tất yếu do chu kỳ hoạt
động và ngân quỹ của doanh nghiệp quyết định.
Chu kỳ hoạt động là khoảng thời gian từ khi mua nguyên vật liệu đầu vào
dưới dạng hàng hoá tồn kho đến khi thu được tiền từ sản phẩm. Chu kỳ hoạt động
bao gồm hai giai đoạn: giai đoạn tồn kho và giai đoạn thực hiện các khoản phải thu.
Giai đoạn tồn kho là quãng thời gian từ khi mua hàng tồn kho đến khi bán và tiêu
thụ được sản phẩm tồn kho. Giai đoạn này dài hay ngắn phụ thuộc vào nhu cầu mua
nguyên vật liệu của doanh nghiệp, khoảng cách các lần mua liên tiếp, thời gian sản
xuất và quy mô các lần tiêu thụ sản phẩm. Các nhân tố trên lại phụ thuộc vào đặc
điểm kinh doanh của từng ngành, doanh nghiệp và thị trường. Giai đoạn thực hiện
các khoản phải thu là khoảng thời gian từ khi bán hàng đến lúc thu được tiền từ
khách hàng. Độ dài của giai đoạn thứ hai này phụ thuộc vào mối quan hệ giữa
doanh nghiệp và khách hàng, chính sách khuyến khích của doanh nghiệp,…
Mai Văn Minh Ngân hàng A – K50
9
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân
Quế
Chu kỳ ngân quỹ xuất phát từ việc doanh nghiệp cũng có thể mua chịu
nguyên vật liệu từ người bán để dự trữ. Khoảng thời gian mà doanh nghiệp chưa
phải thanh toán khoản tiền hàng này được gọi là giai đoạn phải trả cho người bán.
Qua đó, chu kỳ ngân quỹ được xác định bằng hiệu của chu kỳ hoạt động và giai
đoạn phải trả cho người bán.
Như vậy do có quan hệ tín dụng thương mại (mua bán chịu) giữa ba bên:

nhân viên doanh nghiệp mình.
Đối với DNVVN, số lượng lao động không lớn, lương trả cho lao động không
cao nên doanh nghiệp khó huy động từ nguồn này. Bên cạnh đó, việc chiếm dụng
vốn của doanh nghiệp khác cũng gặp khó khăn do uy tín của doanh nghiệp trên thị
trường không cao. Như vậy, giải pháp vay vốn từ ngân hàng được nhiều DNVVN
xem xét và sử dụng khi cần bổ sung thêm vào nguồn vốn lưu động của mình.
1.2.2 Nhu cầu vay trung và dài hạn
Vốn vay trung và dài hạn của DNVVN được sử dụng để đầu tư cho tài sản cố
định, tài sản lưu động thường xuyên hoặc để thành lập doanh nghiệp. Đây là các
khoản đầu tư có giá trị lớn, do vậy doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn vay trong dài
hạn mới đủ khả năng trả nợ. Đối với tài sản lưu động thường xuyên, nguồn vốn
hình thành cũng phải có tính chất dài hạn do tài sản dạng này phải được duy trì một
cách thường xuyên, hàng năm để phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh của
doanh nghiệp không bị gián đoạn.
Như phân tích ở trên, việc nâng cấp trang thiết bị, công nghệ đối với DNVVN
gặp nhiều khó khăn, đôi khi còn không được chú trọng. Do vậy, trên thực tế, nhiều
DNVVN vay vốn trung và dài hạn để hình thành TSCĐ thiết yếu để phục vụ cho
hoạt động sản xuất kinh doanh như ô tô, tu sửa nhà xưởng,…
Về phía ngân hàng, việc cho DNVVN vay trung và dài hạn là hình thức cho
vay chứa đựng nhiều rủi ro, nhất là cho vay để thành lập doanh nghiệp. Nguyên
nhân là do đây là các hợp đồng tương đối lớn, thu hồi vốn chậm trong khi phương
án sản xuất kinh doanh của các DNVVN đa phần trong ngắn hạn, hiệu quả quản lý,
mức độ cạnh tranh chưa cao. Chủ doanh nghiệp có thể quá lạc quan và kỳ vọng
nhiều vào hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai mà thực tế thì có thể gặp
nhiều khó khăn như ảnh hưởng của cung cầu thị trường, lãi suất,… Mặc dù vậy, nếu
từ chối các đề nghị vay vốn trung và dài hạn của doanh nghiệp, các NHTM có thể
tránh được rủi ro tín dụng song có thể mất đi các khách hàng tốt, tiềm năng trong
tương lai. Thực tế cho thấy, các DNVVN chiếm tỷ trọng cao trong số doanh nghiệp
hoạt động vì vậy đây là thị trường đầy tiềm năng của các NHTM. Mặt khác, nếu từ
chối thì NHTM còn bị mang tiếng là không có khả năng thẩm định và thiếu thiện

tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 nguồn thu của ngân hàng. Tuy nhiên bên cạnh đó,
hoạt động cho vay cũng là danh mục tiềm tàng nhiều rủi ro. Tình trạng này xuất
phát từ việc quản lý yếu kém, công tác thẩm định tài chính, hiệu quả dự án chưa
được thực hiện chặt chẽ, tình trạng suy thoái ngoài dự kiến, chu kỳ kinh doanh…
Do vậy, các NHTM thường phải kiểm tra cẩn thận danh mục cho vay của mình,
Mai Văn Minh Ngân hàng A – K50
12
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân
Quế
thường xuyên cập nhật tình hình sử dụng vốn trước, trong và sau khi ký kết hợp
đồng vay vốn với khách hàng.
1.3.2 Tính chất hoạt động cho vay DNVVN của NHTM
• Quan hệ tín dụng được thiết lập trên cơ sở lòng tin
Đây là mối quan hệ hai chiều giữa DNVVN và NHTM. Khi thực hiện vay vốn
ngân hàng, các DNVVN tin tưởng vào kế hoạch kinh doanh của mình sẽ đem lại kết
quả tốt, tạo ra lợi nhuận đảm bảo nguồn trả nợ ngân hàng. Ngược lại, khi đem một
phần tài sản của mình cho doanh nghiệp sử dụng, Ngân hàng cũng tin tưởng kế
hoạch kinh doanh của doanh nghiệp là khả thi, doanh nghiệp sẽ sử dụng vốn đúng
mục đích. Lòng tin này được cụ thể hoá trong mối quan hệ gắn bó giữa DNVVN và
NHTM, tính khả thi của dự án, giá trị các TSĐB, hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba.
• Khoản mục mang tính rủi ro cao
Rủi ro cho vay là khả năng mà ngân hàng phải chịu những tổn thất do DN
không thực hiện được cam kết trả lãi hoặc gốc theo hợp đồng tín dụng. Một mặt,
cho vay là một trong những hoạt động cơ bản, đem lại lợi nhuận chủ yếu cho các
NHTM. Mặt khác, đây cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro tín dụng tiềm tàng.
Trên thực tế, có nhiều loại rủi ro như: rủi ro sự lựa chọn đối nghịch, rủi ro đạo đức,
rủi ro về môi trường kinh doanh, chính trị, xã hội, thiên tai. Trong đó rủi ro sự lựa
chọn đối nghịch là do cán bộ tín dụng của ngân hàng đã bỏ qua những khách hàng
tốt, tiềm năng mà lại quyết định cho vay những doanh nghiệp có tình hình kinh
doanh không tốt, phương án sản xuất không khả thi. Rủi ro đạo đức là việc các

nghiệp với ngành có lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp tốn nhiều công sức và chi
phí. Mặt khác, ngay bản thân các DNVVN cũng có tình hình sản xuất kinh doanh
biến động theo từng kỳ, không ổn định giữa các thời kỳ cũng gây khó khăn cho cán
bộ thẩm định. Thậm chí, một số DNVVN còn mắc phải một số vấn đề liên quan đến
tính pháp lý về việc hình thành, tổ chức và thực hiện các dự án đầu tư. Một điểm
nữa là do các DNVVN có khả năng mạo hiểm, đầu tư vào các ngành nghề, lĩnh vực
mới mà ở đó NHTM không có hoặc có ít cơ sở dữ liệu dẫn đến việc đánh giá tính
khả thi còn mang tính chủ quan, không thực tiễn.
Chính vì vậy, chi phí thẩm định khách hàng mới cao, mất nhiều công sức và
thời gian là điểm kém hấp dẫn trong các hợp đồng cho vay DNVVN của các
NHTM.
• Hạn mức tín dụng không lớn, thời gian hoàn trả ngắn
Với quy mô vốn nhỏ, các DNVVN thường không áp dụng các phương án kinh
doanh yêu cầu lượng vốn lớn. Mặt khác uy tín của doanh nghiệp và giá trị tài sản
đảm bảo cũng không đủ lớn để các NHTM xem xét nâng hạn mức tín dụng cao hơn.
Bên cạnh đó, do đặc tính rủi ro cao nên các NHTM cũng không muốn mạo hiểm
đưa ra các khoản vay lớn cho đối tượng này.
Mai Văn Minh Ngân hàng A – K50
14
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân
Quế
Thời gian hoàn trả khoản vay sẽ dựa trên thoả thuận giữa ngân hàng và khách
hàng, một bên là sự cân đối giữa kỳ hạn nguồn và kỳ hạn cho vay của ngân hàng để
tránh rủi ro thanh khoản, bên kia là sự hợp lý giữa vòng quay vốn và chu kỳ kinh
doanh của các DNVVN. Với các phương án sản xuất trong ngắn hạn, điều dễ hiểu
là các DNVVN có chu kỳ kinh doanh ngắn, vòng quay vốn nhanh. Chính vì vậy,
các khoản vay đa phần có thời hạn hoàn trả ngắn, thường là một năm.
1.3.3 Phân loại cho vay
1.3.3.1 Dựa trên tiêu thức kỳ hạn
Theo đó, cho vay phân làm ba loại sau: cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn

thêm lãi suất phạt theo quy định.
Ưu điểm của hình thức này là đảm bảo nhu cầu thanh toán chủ động, nhanh
chóng, kịp thời cho khách hàng. Thêm vào đó, đây là hình thức có thủ tục đơn giản,
phần lớn không có tài sản đảm bảo.
Hình thức này được thiết lập dựa trên mối quan hệ tín dụng tốt giữa khách
hàng và NHTM hoặc NHTM đánh giá khách hàng có tiềm năng tài chính tốt thông
qua chấm điểm tín dụng và nghiên cứu hồ sơ xin thấu chi.
• Cho vay trực tiếp từng lần
Đây là hình thức tương đối phổ biến của ngân hàng với những khách hàng chỉ
có nhu cầu vốn mang tính thời vụ hoặc không đủ điều kiện cấp hạn mức thấu chi.
Mỗi lần phát sinh nhu cầu vay vốn, khách hàng làm đơn và trình phương án sử dụng
vốn để ngân hàng phân tích, xác định quy mô cho vay vay, thời hạn giải ngân, trả
nợ, lãi suất và tài sản đảm bảo. Mỗi món vay được tách ra thành các bộ hồ sơ khác
nhau.
Đây là phương thức đơn giản, ngân hàng có khả năng kiểm soát một cách đơn
giản từng món vay của khách hàng dựa trên giá trị tài sản đảm bảo.
• Cho vay theo hạn mức
Đây là phương thức cho vay trong đó ngân hàng cấp cho doanh nghiệp một
mức dư nợ tối đa xác định trong một thời kỳ (cả kỳ hoặc cuối kỳ). Trên thực tế, các
Ngân hàng thường áp dụng hình thức này cho các khách hàng có nhu cầu vay vốn
và trả nợ thường xuyên, có quan hệ tín dụng tốt và có uy tín với ngân hàng.
Hạn mức tín dụng được xác định trên cơ sở tình hình sản xuất kinh doanh, nhu
cầu vốn, các nguồn tài trợ khác của khách hàng. Là phương pháp cho vay mà ngân
hàng và khách hàng thỏa thuận một hạn mức tín dụng được duy trì trong một thời
gian nhất định. Phương thức tiến hành thuận tiện hơn cho doanh nghiệp, mỗi lần
phát sinh nhu cầu vay vốn ngân hàng, doanh nghiệp chỉ cần trình bày phương án sử
Mai Văn Minh Ngân hàng A – K50
16
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân
Quế

quyền sở hữu của mình để đảm bảo với bên cho vay (Ngân hàng) về khả năng hoàn
Mai Văn Minh Ngân hàng A – K50
17
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân
Quế
trả nợ vay của mình. Ưu điểm của hình thức này đó là giúp Ngân hàng giảm bớt tổn
thất khi khách hàng vì một lý do nào đó không thanh toán được nợ, là động lực giúp
khách hàng thực hiện phương án kinh doanh một cách hiệu quả và cũng là rào cản
đối với những thành phần đi vay có chủ định lừa đảo.
• Cho vay không có tài sản đảm bảo là hình thức Ngân hàng cấp tín dụng mà
không yêu cầu bên đi vay dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để đảm bảo.
Thực tế, hình thức này thường áp dụng cho các đối tượng khách hàng có quan hệ
thân thiết với NHTM, có năng lực tài chính tốt, thu nhập ổn định và thường xuyên.
1.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay đối với DNVVN tại NHTM
Trên thực tế, có hai nhóm chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả, chất lượng hoạt động
cho vay đối với DNVVN, bao gồm: nhóm chỉ tiêu định tính và nhóm chỉ tiêu định
lượng.
1.4.1 Nhóm chỉ tiêu định tính
• Đảm bảo khoản vay được thực hiện theo đúng quy định
Tín dụng không chỉ là hoạt động kinh doanh cơ bản của Ngân hàng, mang lại
nhiều lợi nhuận nhưng cũng tiềm tàng nhiều rủi ro. Nếu xảy ra nợ xấu, nợ quá hạn
thì sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín cũng như khả năng thanh khoản của Ngân
hàng. Do vậy, việc cho vay phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 1: Sử dụng vốn vay đúng mục đích. Đây là nguyên tắc quan trọng
vì Ngân hàng xem xét, thẩm định tín dụng dựa trên mục đích được nêu trong HĐTD
hoặc KƯNN. Việc làm sai mục đích chứng tỏ DN đang lừa dối Ngân hàng và có thể
đầu tư vào các hoạt động phi pháp
Nguyên tắc 2: Bảo đảm việc trả gốc và lãi vay đúng hạn theo HĐTD hoặc
KƯNN.
Thời hạn cho vay được tính là khoảng thời gian từ khi Ngân hàng giải ngân

hướng dẫn tận tình và giải thích các thắc mắc nếu có cũng như nhấn mạnh được
điểm mạnh của Ngân hàng mình so với các NHTM khác. Có như vậy, mối quan hệ
giữa Ngân hàng và DNVVN mới trở nên bền vững, Ngân hàng cũng có đối tượng
khách hàng đáng tin cậy và trung thành.
• Mức độ phân bố các khoản vay theo ngành kinh tế
Bản thân hoạt động cho vay DNVVN đã tiềm ẩn trong nó nhiều rủi ro. Các
biến cố về môi trường kinh doanh, thị trường thường khiến tình hình sản xuất của
các DN bị đình trệ, trong đó các DNVVN chịu tác động rõ nét hơn. Do vậy, việc
cho vay DNVVN theo nhiều nhóm kinh tế khác nhau sẽ giúp Ngân hàng phân tán
mức độ rủi ro. Trong trường hợp một nhóm ngành gặp khó khăn thì vẫn có những
Mai Văn Minh Ngân hàng A – K50


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status