Báo cáo tốt nghiệp: Nâng cao chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội” - Pdf 15


Báo cáo tốt nghiệp

Nâng cao chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và
nhỏ của Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội”
mục lục
Báo cáo tốt nghiệp 1
Nâng cao chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của
Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội” 1
LỜI MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG 1 8
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại 8
1.1.2 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại 9
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn 10
Vốn chủ sở hữu 10
Vốn nợ 10
1.1.2.2 Hoạt động sử dụng vốn 11
Dự trữ 11
Cho vay 11
Đầu tư 12
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp vừa và
nhỏ 14
1.2.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ 14
1.2.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ 15
Điểm mạnh của DNVVN 15
Hạn chế 16
1.2.1.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với nền kinh tế 17
1.2.2 Hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của

của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nhà Hà Nội trong thời gian
qua 47
2.2.1 Thực trạng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 47
Bảng 2.4 : Dư nợ cho vay đối với DNVVN của Ngân hàng TMCP Nhà
Hà Nội 48
Đơn vị: Tỷ đồng 48
Biểu đồ 2.2 Tăng trưởng dư nợ cho vay đối với DNVVN của Ngân
hàng TMCP Nhà Hà Nội 49
Bảng 2.5 Dư nợ cho vay DNVVN theo kỳ hạn của Habubank 51
Đơn vị: Tỷ đồng 51
Biểu đồ 2.3 Thay đổi trong tỷ trọng cho vay DNVVN của Ngân hàng
TMCP Nhà Hà Nội theo kỳ hạn qua các năm 52
Bảng 2.6 Dư nợ cho vay DNVVN phân theo ngành kinh tế 52
Đơn vị: % 52
2.2.2 Chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 53
2.2.2.1 Thực trạng nợ quá hạn trong hoạt động cho vay của DNVVN
53
Bảng 2.7 Nợ quá hạn của các DNVVN của Habubank 53
Đơn vị: Tỷ đồng 54
2.2.2.2 Lãi thu được từ hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ 55
Bảng 2.8 Tỷ trọng lãi thu được từ cho vay DNVVN của Ngân hàng
TMCP Nhà Hà Nội 55
2.2.2.3 Thu nhập từ hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và
nhỏ 56
Bảng 2.9 Tỷ trọng thu nhập từ cho vay đối với DNVVN trong tổng thu
nhập của Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội 56
2.3 Đánh giá chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
của Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội 57
2.3.1 Điểm mạnh 57
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 58

lợi nhuận, mở rộng thị trường. Tuy nhiên, một thực tế là các doanh nghiệp vừa và nhỏ
đang gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn vốn tín dụng ngân hàng cũng
như việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn vay. Ngoài ra, bản thân các ngân hàng cũng
còn nhiều hạn chế trong công tác cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Nhận thấy được tầm quan trọng và tiềm năng lớn từ đối tượng khách hàng là các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong những năm gần đây, Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội đã
chú trọng hơn đến việc mở rộng và nâng cao chất lượng cho vay đến bộ phận khách
hàng này. Tuy nhiên, dù đã có được nhưng kết quả nhất định nhưng chất lượng cho vay
đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội vẫn còn
những mặt hạn chế. Sau quá trình thực tập tại Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội, qua việc
tìm hiểu và nghiên cứu thực tế công việc tại Ngân hàng, đề tài “Nâng cao chất lượng
cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội” đã
được chọn làm chuyên đề tốt nghiệp.
Chuyên đề tốt nghiệp gồm 3 phần chính:
CHƯƠNG 1: CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA
VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG TMCP NHÀ HÀ NỘI
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG TMCP NHÀ HÀ NỘI


hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng là với nội dung thường xuyên là
nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh
toán”.
1.1.2 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn
Huy động vốn là hoạt động tạo ra nguồn vốn cho ngân hàng thương mại. Đây là
hoạt động đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng.
Hoạt động huy động vốn là hoạt động khởi đầu, tạo nền móng cho mọi hoạt động của
ngân hàng thương mại. Nguồn vốn của ngân hàng bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn nợ.
Vốn chủ sở hữu
Để bắt đầu hoạt động ngân hàng, chủ ngân hàng phải có một lượng vốn nhất định.
Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa
cho ngân hàng. Vốn chủ sở hữu thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn mà
ngân hàng nắm giữ nhưng lại là nguồn vốn có ý nghĩa quan trọng vì nó phản ánh năng
lực tài chính của ngân hàng, do vậy nó quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng, là
cơ sở để ngân hàng tiến hàng kinh doanh, thu hút những nguồn vốn khác và cho vay.
Nguồn hình thành loại vốn này rất đa dạng tuỳ theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính
của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường. Tuỳ theo tính chất sở hữu,
vốn chủ sở hữu có thể do ngân sách Nhà nước cấp, do các cổ đông đóng góp thông qua
mua cổ phần hoặc cổ phiếu, do các bên liên doanh góp hay vốn thuộc sở hữu tư nhân;
ngoài ra còn có các nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động, các quỹ, nguồn vay
nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần.
Vốn nợ
Vốn nợ của ngân hàng thương mại có thể được huy động dưới nhiều hình thức
khác nhau như: nhận tiền gửi của các cá nhân, tổ chức và các tổ chức tín dụng khác
dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn hay các loại tiền gửi khác;Vay
trên thị trường vốn bằng cách phát hành các giấy nợ (kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu);
Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác, vay vốn ngắn hạn ngân hàng Nhà nước và các
hình thức huy động khác như các nguồn từ uỷ thác, nguồn trong thanh toán và các
nguồn khác.

hàng thương mại là lợi nhuận, vì thế, để tạo ra lợi nhuận, các ngân hàng thương mại
cần phải cho vay. Hoạt động này đóng vai trò quan trọng đối với ngân hàng nói riêng
và với nền kinh tế nói chung. Đối với nền kinh tế nó thúc đẩy sự phát triển của các
thành phần kinh tế, góp phần cung cấp kịp thời vốn cho sản xuất và kinh doanh cũng
như cung cấp vốn cho các cá nhân tiêu dùng hay cho Chính phủ để đầu tư phát triển đất
nước. Với các NHTM, cho vay là hoạt động sinh lời lớn nhất cho ngân hàng. Đây là
loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các NHTM.
NHTM thể cho vay dưới nhiều phương thức khác nhau như: thấu chi, cho vay
trực tiếp từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay luân chuyển, cho vay trả góp, cho
vay gián tiếp. Ngân hàng có thể cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản
xuất kinh doanh, dịch vụ đời sống; cho vay trung và dài hạn để thực hiện các dự án đầu
tư phát triển sản xuất kinh doanh.
Đầu tư
Là đơn vị kinh doanh tiền tệ nên NHTM là người nắm vững các thông tin cũng
như tình hình kinh tế khá rõ nên có thể nói các NHTM là người đầu tư có hiệu quả
nhất. Các NHTM thường dùng vốn chủ sở hữu và các vốn dài hạn để đầu tư vào các
công ty liên doanh, các dự án…, trở thành cổ đông của các công ty cổ phần.
1.1.2.3 Các hoạt động trung gian
Khi mới ra đời, các ngân hàng thường có hai hoạt động chính là nhận tiền gửi và
cho vay, nhưng cùng với sự phát triển của thị trường tài chính cũng như sự phát triển
của trình độ khoa học công nghệ nói chung và công nghệ ngân hàng nói riêng, các
NHTM không chỉ đơn thuần thực hiện hai hoạt động trên mà còn mở rộng ra các hoạt
động khác. NHTM đóng vai trò trung gian tài chính khi thực hiện các dịch vụ bao gồm:
dịch vụ thanh toán, uỷ thác và nhận uỷ thác, cung ứng dịch vụ bảo hiểm và tư vấn tài
chính.
+ Dịch vụ thanh toán: Nền sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, các hình thức
thanh toán cũng ngày càng phong phú và đa dạng hơn. Vì vậy, nhu cầu đòi hỏi phải
đẩy nhanh tốc độ thanh toán cùng với sự phát triển của công nghệ ngân hàng đã thúc
đẩy sự hình thành các dịch vụ thanh toán của các NHTM. Các NHTM cung ứng các
phương tiện thanh toán, thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ khách hàng. Các dịch vụ

nhiên việc đưa ra một khái niệm về DNVVN cho riêng mình có vai trò quan trọng
trong việc đưa ra chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Tại Việt Nam, theo Nghị định số 90/2001/NĐ – CP của Chính phủ ngày 23 tháng
11 năm 2001 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ đã định nghĩa: “Doanh
nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo
luật doanh nghiệp hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động
trung bình hàng năm không quá 300 người”
1.2.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Phát triển DNVVN là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Trong quá
trình phát triển của mình, DNVVN đã bộc lộ những ưu điểm nhưng cũng có những
không ít nhược điểm. Việc nhận rõ được những điểm mạnh cũng như điểm yếu sẽ giúp
các doanh nghiệp vừa và nhỏ có biện pháp khắc phục khó khăn để nâng cao chất lượng
hoạt động và khả năng cạnh tranh, đồng thời cũng là một trong những tiêu chí để các
ngân hàng đánh giá một cách tương đối chính xác về khách hàng của mình từ đó nâng
cao được chất lượng các khoản cho vay.
Điểm mạnh của DNVVN
- Quy mô vừa và nhỏ nên có tính năng động, linh hoạt
Quy mô vốn nhỏ đã tạo ra những mặt thuận lợi cho các DNVVN. Với số vốn đầu
tư ban đầu nhỏ, khả năng thu hồi vốn cao do đó các nhà đầu tư dễ lựa chọn loại hình
doanh nghiệp này khi quyết định thành lập công ty. Vốn đầu tư ban đầu nhỏ, khả năng
thu hồi vốn nhanh vì phần lớn các DNVVN hoạt động trong lĩnh vực thương mại, sản
xuất nhỏ nên sản phẩm dễ tiêu thụ, chu kỳ kinh doanh ngắn, thu hồi vốn nhanh hơn
những doanh nghiệp lớn. Do việc thu hồi vốn ban đầu trong thời gian ngắn nên khả
năng quay vòng vốn, tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh dễ dàng hơn.
So với các doanh nghiệp lớn, các DNVVN năng động hơn trước những sự thay
đổi của thị trường. Các doanh nghiệp lớn với quy mô và cơ sở vật chất hạ tầng đồ sộ
thường kém nhanh nhậy và linh hoạt hơn trong việc đáp ứng nhu cầu của người tiêu
dùng. Trong khi đó, quy mô vừa và nhỏ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp
nhanh chóng chuyển đổi cơ cấu sản xuất hay bộ máy quản lý khi có sự bất lợi từ môi
trường kinh doanh, tăng khả năng thích nghi của các doanh nghiệp với những biến

trang thiết bị trung bình hàng năm của Việt Nam chỉ ở mức 5-7% so với 20% của thế
giới. Đây chính là nguyên nhân của tình trạng lãng phí trong sử dụng năng lượng,
nguyên vật liệu và ô nhiễm môi trường. Công nghệ lạc hậu làm tăng chi phí lên 1,5 lần
đồng thời dẫn đến chất lượng sản phẩm giảm, giá thành cao và nâng suất thấp
Thứ ba: Năng lực quản lý, điều hành của người lãnh đạo và chất lượng lao động
tác nghiệp còn thấp. Do trong các DNVVN người sở hữu vốn đồng thời là người quản
lý, chủ doanh nghiệp nên hiểu biết về quản trị doanh nghiệp còn nhiều hạn chế. Số
lượng công nhân và người đứng đầu công ty được đào tạo chỉ chiếm hơn 20%. Cơ cấu
nghề nghiệp không cân đối, phần lớn đào tạo ngắn hạn, rất ít nhân sự kĩ thuật và kĩ
thuật đầu đàn, năng suất lao động thấp, năng lực quản lý yếu. Những người lãnh đạo
các DNVVN thường không có sự hiểu biết cặn kẽ về luật lệ kinh doanh trong nước
cũng như luật lệ quốc tế.
Thứ tư: DNVVN có thị trường chỉ chiếm một thị phần nhỏ nên họ gặp nhiều áp
lực về thâu tóm, xoá sổ từ phía các doanh nghiệp lớn. Việc phát triển thị trường,
thương trường, xây dựng thương hiệu của các DNVVN mới ở giai đoạn đầu. Các
DNVVN chưa thật sự chú trọng đến việc mở rộng thị trường, chưa chú trọng đầu tư
vào khâu phân tích, dự đoán xu thế chung của thị trường để phát triển và xây dựng
những chiến lược lâu dài mà chủ yếu chỉ kinh doanh mang tính chất thời vụ đáp ứng
nhu cầu tức thì của thị trường.
1.2.1.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với nền kinh tế
Thực hiện chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần và triển khai Luật
doanh nghiệp, các DNVVN ở Việt Nam đã phát triển một cách nhanh chóng. Đến nay
cả nước có trên 200.000 đơn vị, chiếm 97% số doanh nghiệp, sử dụng hơn 30% số lao
động xã hội, làm ra gần 40% mặt hàng tiêu dùng và xuất khẩu, chiếm 1/3 tổng thu ngân
sách quốc gia. Với vị trí và đóng góp nói trên, doanh nghiệp vừa và nhỏ đang là nhân
tố quan trọng trong việc “ổn định kinh tế vĩ mô - bảo đảm an sinh xã hội” của đất nước.
Những đóng góp của các DNVVN cho sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia
là rất lớn và không thể phủ nhận, được thể hiện cụ thể như sau:
 Đóng góp quan trọng vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế

rộng khắp và khá đa dạng trong ngành nghề kinh doanh, hơn nữa lại không đòi hỏi
trình độ cao, DNVVN đã và đang thu hút rất nhiều lao động ở thành thị và nông thôn,
từ đó góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động, cải thiện đời sống và hạn chế
các tệ nạn xã hội. Các DNVVN cung cấp khoảng 50% khối lượng việc làm cho nền
kinh tế. Các DNVVN đã đóng góp một phần đáng kể vào sự phát triển của nền kinh tế.
 Tạo sự năng động, hiệu quả và góp phần làm chuyển dịch cơ cấu
kinh tế
Với ưu thế về tính linh hoạt và lượng vốn yêu cầu tương đối nhỏ, DNVVN có khả
năng chuyển đổi mặt hàng, chuyển đổi hướng sản xuất, đổi mới công nghệ cho phù hợp
với môi trường kinh doanh. Các DNVVN cũng linh hoạt trong việc chuyển hướng kinh
doanh từ các ngành nghề kém hiệu quả sang các ngành khác hiệu qủa hơn, thoả mãn
nhu cầu của dân cư một cách tốt nhất. Chính vì vậy, các DNVVN làm cho nền kinh tế
năng động hơn. Sự phát triển nhanh chóng của các DNVVN cả về chất lượng và số
lượng đã làm tăng tính cạnh tranh, tính linh hoạt cho nền kinh tế.
Với việc rất nhiều các DNVVN được thành lập tại các vùng nông thôn, miền núi,
vùng sâu vùng xa đã thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm giảm tỷ
trọng ngành nông nghiệp và tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ. Sự thay đổi
cơ cấu kinh tế nhờ sự phát triển của các khu vực nông thôn qua phát triển các ngành
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, xoá dần tình trạng thuần
nông độc canh, tạo sự phát triển đồng đều. Sự phát triển của các DNVVN ở thành thị
cũng góp phần làm tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp, dịch vụ làm thu hẹp dần tỷ
trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc dân.
Nhận thấy các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò đặc biệt quan trọng trong nền
kinh tế, trong việc huy động tối đa nguồn lực vào sản xuất kinh doanh, sản xuất hàng
tiêu dùng, xuất khẩu, giải quyết việc làm và nộp ngân sách cho Nhà nước, Chính phủ
đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển loại hình doanh nghiệp này. Chính phủ đã
ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và
nhỏ, Chỉ thị số 40/2005/CT-TTg về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác trợ giúp phát triển
doanh nghiệp vừa và nhỏ, Chỉ thị số 09/2005/CT-TTg về tạo lập môi trường kinh
doanh thuận lợi và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển. Chính điều này đã tạo điều kiện cho

xin vay một khoản tiền cho mục đích sử dụng của doanh nghiệp như thanh toán tiền
hàng, nguyên vật liệu cũng như các chi phí sản xuất kinh doanh khác.
Số tiền cho vay của ngân hàng được xác định dựa trên nhu cầu vay vốn của doanh
nghiệp, tài sản đảm bảo và khả năng hoàn trả của doanh nghiệp cũng như khả năng
nguồn vốn của ngân hàng. Thời hạn cho vay và kỳ hạn trả nợ được xác định tuỳ thuộc
vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp
đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi. Trong quá trình khách hàng sử dụng tiền vay, ngân
hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả, nếu thấy dấu hiệu vi phạm hợp đồng, ngân
hàng sẽ thu nợ trước hạn hoặc chuyển nợ quá hạn.
 Cho vay theo hạn mức
Là hình thức cho vay mà ngân hàng và doanh nghiệp xác định và thoả thuận một
hạn mức tín dụng được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Hạn mức tín dụng
là mức dư nợ tối đa được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định mà ngân hàng
và doanh nghiệp đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
Hình thức cho vay theo hạn mức tín dụng thường được áp dụng đối với các doanh
nghiệp có nhu cầu vay vốn – trả nợ thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào
quá trình sản xuất kinh doanh và có uy tín với ngân hàng. Hạn mức tín dụng được xác
định trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh và nhu cầu vốn vay của doanh nghiệp.
Trong kì khách hàng có thể thực hiện vay và trả nhiều lần song dư nợ không được
vượt quá hạn mức tín dụng. Mỗi lần vay, doanh nghiệp chỉ cần trình bày phương án sử
dụng tiền vay, nộp các chứng từ cần thiết. Sau khi kiểm tra tính hợp pháp và hợp lệ của
chứng từ, ngân hàng sẽ chi tiền cho khách hàng.
Trong hình thức cho vay này, ngân hàng không xác định trước kì hạn trả nợ và
thời hạn tín dụng. Khi doanh nghiệp có thu nhập ngân hàng sẽ thu nợ, do đó tạo chủ
động quản lý ngân quỹ cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, do các lần vay không tách biệt
thành các kì hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay,
mà chỉ có thể phát hiện vấn đề khi doanh nghiệp nộp báo cáo tài chính hay dư nợ lâu
không giảm sút.
 Cho vay thấu chi
Thấu chi là nghiệp vụ cho vay trong đó ngân hàng cho phép người vay được chi trội

Việc cho vay dựa vào sự luân chuyển của hàng hóa nên đòi hỏi cả ngân hàng và
doanh nghiệp đều phải nghiên cứu kế hoạch lưu chuyển hàng hoá, phân tích được
luồng tiền ra vào của doanh nghiệp. Khi có nhu cầu vay vốn, doanh nghiệp gửi đến
ngân hàng các chứng từ hoá đơn chứng minh việc mua hàng hoá và số tiền cần vay.
Sau đó ngân hàng sẽ xem xét cho vay hay không và trả tiền cho người bán, theo hình
thức này thu nhập bán hàng là nguồn chi trả cho ngân hàng. Hình thức cho vay này
thường được áp dụng đối với doanh nghiệp trong ngành thương nghiệp hoặc doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh có chu kì tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ thường xuyên với
ngân hàng. Ngân hàng sẽ cho vay theo tỷ lệ dựa trên khối lượng hàng hoá và chất
lượng quan hệ nợ nần của doanh nghiệp.
1.3 Chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương
mại
1.3.1 Khái niệm chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Cho vay khách hàng doanh nghiệp là loại cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất trong
hoạt động cho vay của các NHTM. Đây cũng là hoạt động đem lại lợi nhuận lớn nhất
nhưng cũng là hoạt động phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Chính vì vậy, chất
lượng cho vay luôn luôn được các ngân hàng quan tâm.
Chất lượng cho vay được hiểu là sự đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu về vốn cho
DNVVN và được doanh nghiệp đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh một cách đúng
mục đích, có hiệu quả nhất, có thể tạo ra được lượng tiền lớn hơn để bù đắp chi phí,
hoàn trả nợ đầy đủ cho ngân hàng cả gốc và lãi đúng hạn và có lợi nhuận.
Đứng trên giác độ khác nhau chất lượng chất lượng cho vay đem lại những lợi ích
khác nhau. Trên khía cạnh lợi ích của khách hàng, chất lượng cho vay là sự đáp ứng
yêu cầu của khách hàng với lãi suất, kì hạn cho vay hợp lý, thủ tục đơn giản. Đối với
ngân hàng, chất lượng cho vay thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù
hợp với khả năng của bản thân mỗi ngân hàng mà vẫn đảm bảo được lợi nhuận, từ đó
nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường. Đối với nền kinh tế, chất
lượng cho vay phải góp phần tạo ra hiệu quả xã hội như phục vụ sản xuất kinh doanh,
tạo việc làm cho người lao động, gia tăng sản phẩm cho xã hội, thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế và khai thác tiềm năng trong nền kinh tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status